Thứ ba, 29/07/2014
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Lời hay ý đẹp
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay226
mod_vvisit_counterHôm trước847
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG NGƯỜI HỌ ĐỖ 5000 NĂM TRƯỚC E-mail
08/08/2007

 PHÁT TÍCH SINH TỤ CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ VÀ NHỮNG NGƯỜI HỌ ĐỖ 5000 NĂM TRƯỚC THEO NGHIÊN CỨU CỦA PGS ĐỖ TÒNG (1)

Qua các tư liệu thư tịch thành văn cũ (ngọc phả, thần tích...) với các chứng tích mồ mả, miếu mạo, đình chùa,....mà tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu, bước đầu có thể suy nghĩ là: Nơi phát tích sinh tụ của người Việt cổ chủ yếu là từ các vùng núi đồi, nơi gặp nhau các dòng sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Mã... trải dài xuống các vùng châu thổ đồng bằng đã hình thành lúc đó mà tập trung ở các miền chân núi Ba Vì, Tam Đảo,...xuống vùng đồng bằng Hà Tây...Nơi định đô của các vị Tổ đầu tiên của người Việt Cổ có thể thuộc vùng Thanh Oai, Quốc Oai, Thạch Thất, Chương Mỹ... ngày nay.

1). Đế Hoà,, tức Hoà Hy hay còn gọi là Hy Thúc, Hy Hoà, Hy Hoà là bố đẻ của Phục Hy. Cụ Hy Thúc là nhà thiên văn thuyết âm dương, làm ra lịch âm Việt Nam(2).

Vợ của Hoà HyNữ Hoàng Anh, hiệu Diệu Quang Minh.

Mộ hai cụ ở thôn Thượng Lao, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây hiện nay.

2). Phục Hy (vua cả), đạo hiệu là Hư Không Giáo Chủ Đế Thiên Phục Hy định đô ở vùng thuộc Hà Tây hiện nay, nơi có bốn mùa hoa trái xanh tươi, là một trong những nơi phát tích sinh tụ, định đô của người Việt cổ. Cùng với bố là Đế Hoà, Cụ đã lập ra Kinh dịch đầu tiên. (Kinh dịch Phục Hy, NXB Khoa học Xã hội, 1997). Cụ mất Mồng 4 tháng Tư nhưng thường giỗ lệ vào mồng Một tháng Tư ở miếu Hy Sơn (đồi chùa Tây Phương).

Vợ Phục Hy là cụ Trinh Nương, hiệu Diệu Thái tử.

Hai Cụ sinh ra vua Thần Nông.

Mộ hai Cụ ở khu mộ cổ, bên cạnh miếu xóm Đồng, xã Tiên Phương. Chương Mỹ, Hà Tây. Tục truyền đây cũng là nơi mộ Phục Hy và 14 người giúp việc (phù tá) bị Hiên Viên giết.

3). Vua Thần Nông , là con Phục Hy, bị đuổi về chợ Rồng Đất, Chương Mỹ, sau khi Hiên Viên làm phản, đi cùng với cụ Hoà Hy (ông nội). Sau nhờ các sơn quân đánh đuổi Hiên Viên, Thần Nông lên trị vì. Mộ ở phía tây đình Sở Khê, miếu thờ ở Tiên Sơn (Tiên Lữ, làng Sở).

Vợ cả của vua Thần Nông có miếu thờ ở làng Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Tây. Ngày giỗ 29 tháng Chín.

Hai Cụ sinh ra Tiên Đế-Đế Tiết Vương.

4). Tiên Đế - Đế Tiết Vương và vợ là Nữ Hoàng Vân, hiệu Diệu Lan, mộ và miếu thờ ở Gò Sở, Quang Lãm, Thanh Oai. Cụ sinh ra đời thứ 5 là Sở Minh công.

5). Đế Quý Công hay là Đế Thừa Sở Minh công là cháu của vua Thần Nông. Cụ đứng đầu 9 bộ lạc (gọi là Cửu Long hay Cửu Chân Chính. Toà tượng Cửu Long ở chùa Việt Nam là biểu tượng 9 ông tổ của dòng người Việt. Mộ cụ ở Gò Ruối, Quang Lãm.

Cùng với Bà cả là Đại Nương, hiệu Diệu Diên, sinh ra Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân và Nguyễn Long Cảnh. Bà Hai, tên là Mỹ Lăng, hiệu Diệu Lan. Ở Gò Ruối, Quang Lãm, Thanh Oai, Hà Tây có miếu thờ và các mộ: Đế Quý công - Đế Thừa Sở Minh Công; Đế Thủ; Đế Trạch và cụ bà Đại Nương. (Trong phả cũ có chỗ ghi rất gọn một câu và thường không thấy nói đến trong các tài liệu khác, một vị là Đệ tam thúc phụ Nguyễn Nỏ, quan Thái sư.? (Đây chính là con thứ 3, con út của Sở Minh công. (Đ.T) tức Lý Long Cảnh hay ông Ba Đại vương).

Cụ Sở Minh Công cùng ba con và em thu phục 72 bộ lạc, lập nước Xích Quỷ. Sau khi dẹp loạn thu phục 72 bộ lạc, các động chủ, sơn quân tôn vinh Cụ là Chủ trưởng.

6). a. Nguyễn Minh Khiết, hiệu Thái Khương Công hay Khương Thái Công, tức là Đế Minh (cháu 4 đời của Thần Nông). Sau khi nối tiếp cha làm chủ 72 bộ lạc, Cụ giao quyền cho con trưởng (Kinh Dương Vương), về nơi Phục Hy ở quê cũ (vùng làng Sở), sau Cụ về ở với bà Hai ở Khương Thượng và mất ở đấy. Mộ Cụ ở làng Đình Công (có chỗ nói là Khương Thượng), gần Đền thờ. Giỗ Cụ ngày 2 tháng Hai âm lịch tại Khương Thượng (nay thuộc Hà Nội).

 
 
 Miếu thờ cụ Đỗ Quí Thị
 
 Gò Thiềm thừ
 

 Bia con cóc

Cụ Bà, Đỗ (Quý thị), húy là Ngoan, còn gọi là Công chúa Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch(3) vùng Nghi Tàm (cụ Long Đỗ về sau còn được gọi là Thần Bạch Mã, một trong tứ trấn Thăng Long thành, thờ ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, Hà Nội).

Cụ Bà họ Đỗ tu theo đạo Sa Bà, đạo của Đế Thiên Phục Hy Hư Không giáo chủ cách đây khoảng 5.000 năm. Cụ sinh mồng 8 tháng Tư âm lịch, hoá ngày 15 tháng Bảy âm lịch ở Nội Tích, Đại Lôi (Ba La). Mộ táng ở Ba Lôi trong chùa Bồ tát Đa tát, Ba La. Dân thờ cụ ở chùa Đại Bi. Tên hiệu của Cụ là Tín Thiền Sư, Hương Vân Cái bồ tát.

Hai Cụ sinh ra Lộc Tục (Kinh Dương Vương, còn gọi là Vua cha Ngọc hoàng Thượng đế). Miếu thờ Cụ ở làng La Cả, La Khê (gần Ba La).

Cụ Đỗ Quý thị có 8 người em trai là Bát Bộ Kim Cương(4) Mộ 8 vị này ở gò Thiềm Thừ (nghĩa là gò Con Cóc) vùng Ba La.

Trước kia còn miếu thờ tám vị trên ở gò Thiềm Thừ (Con Cóc) vùng Ba La và có hai bia đá hình trụ (cao trên 1 mét, trụ 4 mặt, mỗi bề rộng 40cm, đỉnh trụ có một con cóc ôm quả cầu). Bốn mặt bia trụ có bài minh gồm 4 câu chữ Hán, đã được La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp dịch năm 1789 (theo ý):

 

- Phương phần bảo vật

- Vạn cổ nghiễm nhiên

- Chi hạng lưu hương

- Thiên thu trường tại

Dịch: Lối cũ dấu thơm

         Nghìn xưa vẫn đó

         Cây to báu vật 

        Muôn thuở còn đây.

Hai bia này hiện còn ở làng Cự Khê, Cự Đà, Thanh Oai, Hà Tây, sát bờ sông Nhuệ.

Tám vị Bát Bộ Kim Cương (cũng được tôn vinh thêm hai chữ Bồ Tát)(5)

- Đỗ Xương, hiệu là Thanh Trừ Tai Kim Cương

- Đỗ Tiêu, hiệu là Tịch Độc Thần Kim Cương

- Đỗ Kỹ, hiệu là Hoàng Tùy Cầu Kim Cương

- Đỗ Cương, hiệu là Bạch Tịnh Thủy Kim Cương

- Đỗ Chương, hiệu là Xích Thanh Hoả Kim Cương

- Đỗ Dũng, hiệu là Định Trừ Tai Kim Cương

- Đỗ Bích, hiệu là Từ Hiền Thần Kim Cương

- Đỗ Trọng, hiệu là Đại Lực Thần Kim Cương

b. Cụ Nguyễn Nghi Nhân tức Đế Nghi (em sinh đôi với cụ Nguyễn Minh Khiết, tức Đế Minh) được giao cai quản đất Ô Châu, lấy tên quê làng Sở đặt tên cho đất này là đất Sở (hay là nước Sở), sau thuộc Trung Quốc. Cụ mất ở nước Sở (Sở Hùng Thông), gần hồ Động Đình. Thi hài Cụ được đưa về quê cùng với một số các con cụ, trong đó có Đế Lai. Mộ để ở Khương Thượng. Cụ, anh và em Cụ hiện có tượng ban thờ ở chùa Sùng Nghiêm (Vân Nội). Đế Lai sinh ra Âu Cơ (vợ Lạc Long Quân). Một số con cháu Đế Nghi còn ở nước Sở là: Đế Ai, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí....

phuc_hy_image002 

 Thiên Cổ miếu ( Miếu Hy Sơn) ở đồi Chùa Tây Phương. Theo truyền lại, đây là nơi thờ Phục Hy

 tho_ly_long_canh
 Đình thờ Lý Lang Công
kdvuong 
Mộ Kinh Dương Vương
dinh_tho__lac_long_quan 

 Đình thờ Lạc Long Quân

 c. Cụ Nguyễn Long Cảnh (em cụ Đế Nghi) còn gọi là Lý Nỏ Ba Công, Lý Lang Công, Ba Công đại vương, được giao làm chủ đất Chân Lạp, Hồ Tôn, Ai Lao, nhưng không làm, mà chỉ giúp Đế Minh, đánh giặc ở Tử Di Sơn, đánh giặc Hồ Tôn. Cụ có công lớn giúp cháu (Kinh Dương Vương). Sau khi đánh Ma Mạc, Cụ định cư ở Châu Đức (sau này là Đám Nguyệt, Thanh Trì). Đền thờ Cụ ở La Cả do vua Lý Nhân Tông lập.

 7). Húy là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương Vương, (con trai của Đế MinhĐỗ Quý Thị), tự là Phúc Lộc, được cha (Đế Minh) giao làm chủ nước Xích Quỷ(6), sau được tôn xưng là vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế. Cụ sinh ngày 15 tháng Tám và mất ngày 25 tháng Chạp âm lịch. Mộ táng tại đình Phượng Hoàng, Hoa Cái Sơn (nay là thôn Vân Nội).

Vợ Kinh Dương Vương tên tự là Thanh Minh, Động Đình Tiên Nữ, tên húy là Đăng Ngàn, hiệu Thượng Ngàn, con Động Đình quân (chủ Động Đình) đất Sở, có công dạy dân nuôi tằm dệt lụa. Mộ ở Văn La thôn, còn gọi là khu Xích Hậu, giỗ mồng 3 tháng Ba (gọi là Hội Mẹ hay gọi là giỗ Bà Tổ Chân Tĩnh Bồ Tát).

Kinh Dương Vương có 5 con trai, một chết trẻ, bốn con trai còn chia làm bốn chi:

1. Hùng Nghiêm, tự Phúc Nghiêm, hiệu Pháp Phong (có chỗ gọi là Pháp Vân), mộ tại Hoa Cái Sơn (địa điểm của Cung điện cũ Phong Châu). Là Tổ chi một. Giỗ ngày 28 tháng Hai.

Vợ Cụ, hiệu là Diệu Đức, mộ tại thôn Văn La, Tiên La.

2. Hùng Quyền, tự Phúc Quyền, hiệu Pháp Vân (có chỗ gọi là Pháp Vũ), mộ táng tại khu Chùa Hai, cánh đồng Thượng Khánh cùng ấp. Cụ là Tổ chi hai.

Vợ Cụ là Từ Nhân, an táng tại cửa nhà thờ Thành Tiên Sơn.

3. Hùng Hiền, húy là Sùng Lãm (có chỗ gọi là Hùng Lâm), sau gọi là Lạc Long Quân. Tổ chi Ba. Mộ an táng tại ba gò đất trên đồng Bảo Cựu, sau đổi Bảo Hoa.

Chi ba được thừa kế làm trưởng thay cha, lập nước Văn Lang. Cũng từ đây phân ra 100 họ, lấy Nguyễn làm Trưởng tộc Việt. Thực ra 100 họ (Bách tính) là biểu tượng số rất nhiều dòng họ, không phải nghĩa đen chỉ là 100 họ.

Vợ Cụ, hiệu Từ Quý, an táng ở Tiên La, Động Hiền. Dân làm giỗ ngày 6 tháng Ba âm lịch.

4. Hùng Quyên, tự Phúc Quang, hiệu Pháp Điện, an táng tại Hy Sơn giếng, Liên Quyết, ấp Thủy Tiên, khu Vân Nội. Hùng Quyên là Tổ chi bốn.

Vợ, hiệu Từ Thọ, an táng tại Cửa Sơn Trạch, ấp Thủy Tiên.

Còn một con là Hùng Tiến, tự Pháp Vũ, hiệu Vũ Thiên, bị chết trẻ (mãnh tổ).

(Đời sau tôn thụy 5 ông là Ngũ vị Tôn ông và 4 bà là Tứ vị chầu Bà)

Kể từ đây Lạc Long Quân lấy họ Hùng và 18 triều đại về sau đều tôn xưng là Hùng. Và cũng từ đây, kế tiếp con cháu các đời của 18 triều Hùng, đều xưng là Lang Vương, Lang Quân (7).

Người đầu tiên, tên húy là Lâm (Lâm Lang Vương), tự là Phúc Tâm, mất ngày 28 tháng Năm.

* * *

Chú thích

(1) Nghiên cứu của Phó Giáo sư Đỗ Tòng trong bài nay đã được giới thiệu trong tập "Tài liệu tham khảo- Số 1" của BLL họ Đỗ Việt Nam ra tháng 7/2007 và được kiến giải chi tiết trong cuốn " Suy nghĩ về những khoảng trống trong thời kỳ tiền sử nước ta" của Ông, hành trạng của một số vị họ Đỗ trong nghiên cứu này gắn liền với một thời kỳ lịch sử của nước ta khi dựng nước, nên được tác giả đề cập cùng với thế thứ các vị tổ của đất nước từ các đời trước, đến hết thời các vua Hùng (Hồng Bàng - Văn Lang ). Các tài liệu hán nôm có liên quan đã được giới thiệu một phần trong chuyên mục "Sưu tầm nghiên cứu về Cụ Đỗ Quí Thị và Bát Bộ Kim Cương" của Website hodovietnam. 

(2) Sách cổ Trung Quốc: "Sử Ký Thiên Quan Thư", "Tả Truyện" có ghi 3 vị nổi tiếng về chiêm tinh là: Trọng Lâm, Hy Hoà và ức Bá, ở vào thời Thương - Ân.

(3) Thần Long Đỗ (hay thần Bạch Mã) là một trong bốn vị thần bảo trợ cho Kinh thành Thăng Long, trấn trị ở phương Đông. Đền thờ Bạch Mã trước đây nằm ở ven bờ sông Tô Lịch, thuộc phường Hà Khẩu, nay ở phố Hàng Buồm.

(4) Bát Bộ Kim Cương: ở mỗi tài liệu cũng có sự khác nhau vài điểm (về tên, về hiệu). Ở đây đã có đối chiếu với những tài liệu nguyên bản chữ Hán, T.G đính chính lại.

(5) Bồ Tát: là chỉ những người có quá trình tu dưỡng, rèn luyện, tu nhân tích đức, đạo cao đức trọng, tài giỏi, chăm lo iệc cứu nhân độ thế, được tôn vinh danh hiệu cao quý là Bồ Tát.

(6) Gồm cả vùng đất do 2 chú làm chủ. Chữ quỷ (theo chữ Hán) gồm 3 chữ vương ghép lại, có ý chỉ 3 vùng đất do Kinh Dương Vương làm chủ trưởng. Xem Thần tích về Triều vua Kinh Dương Vương đăng ngày 05/5/2007 trên Website hoĐovietnam

(7) Xem bài Triều đại Hùng Vương đăng ngày 27/4/2007 trên Website hoĐovietnam.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn