Thứ năm, 27/11/2014
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Lời hay ý đẹp
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4
mod_vvisit_counterHôm trước1150
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
GIA PHA HO DO's Blog E-mail
02/03/2008
 

GIA PHA HO DO's Blog Full Post View | List View

GIA PHA HO DO

07 - PHỤ LỤC

STT - HỌ VÀ TÊN - CHỨC VỤ - KHOA CỬ - THÔN , XÃ HUYỆN - TỈNH

TỈNH NAM HÀ

01 - Đỗ Thành Nguyên -Tiến sĩ - Tân Dậu - Long Xuyên , Đông Yên - Nam Hà
02 - Đỗ Hoằng - Tiến sĩ - Bính Thìn - Mỹ Bổng , Thư Trì - Nam Hà

TỈNH PHÚC YÊN

03 - Đỗ Đại Uyên - Tiến sĩ - Hương Mạc (Tức thôn Me Cả) , Đông Anh - Phúc Yên

04 - Đỗ Đồi - Tiến sĩ - Giáp Tuất - Xuân Tảo , Tiên Phúc - Phúc Yên

TỈNH THÁI BÌNH

05 - Đỗ Nhật Hoài - Tiến sĩ - Bính Thìn - An Bài , Phủ Dực - Thái Bình

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

06 - Đỗ Túc Khang - Tiến sĩ - Bính Thìn - Hà Vĩ (Tức làng Quậy) Đông Ngàn , (Đông Anh) - Hà Nội
07 - Đỗ Thiện Mẫn - Tuấn Dị , Gia Lâm - Hà Nội
08 - Đỗ Viết Phú - Cử nhân - Tuấn Dị , Gia Lâm - Hà Nội
09 - Đỗ Công Quỳnh - Tiến sĩ - Hoa Lâm , Đông Anh - Hà Nội

TỈNH BẮC NINH

10 - Đỗ Quang Bật - Chi Phủ Lâm thao - Thiết Úng , Đông Anh - Hà Nội và Tam Tảo , Tiên Du - Bắc Ninh

11 - Đỗ Vĩnh - Tiến sĩ - Kỷ Hợi - Ngọ kiều (Tức làng Ngò) , Yên Phong - Bắc Ninh

12 - Đỗ Lệ Trạch - Tiến sĩ - Canh Tuất - Hữu Chấp , Yên Phong - Bắc ninh
13 - Đỗ Quốc - Tiến sĩ - Bính Tuất Xa - Hoa Bắc , Hà - Bắc Ninh

TỈNH BẮC GIANG

14 - Đỗ Văn Miện - Tiến sĩ - Ất Sửu - Hoàng Mai , Yên Dũng - Bắc Giang
15 - Đỗ Văn Trù - Tiến sĩ - Canh Thìn - Yên Linh (Tức làng Nếnh) , Yên Dũng - Bắc Giang

16 - Đỗ Chính Niệm - Tiến sĩ - Giáp Thìn - Kha Lý , Vĩnh Yên - Bắc Giang

TỈNH HÀ TÂY

17 - Đỗ Viên Khánh - Tiên Phong , Tiên Phong - Hà Tây
18 - Đỗ Công Cận - Tiến sĩ - Canh Tuất - Tiên Phong - Hà Tây

19 - Đỗ Văn Trung - Tiến sĩ - Ất Sửu - An Trung , Thanh Trì , Hà Tây (Hà Nội)
20 - Đỗ Lý Khiêm - Thám Hoa - Kỷ Mùi - Ngoại Lãng , Thanh Trì - Hà Tây (Hà Nội)

21 - Đỗ Oanh - Tiến Sĩ - Mậu Thìn - Ngoại Lãng , Thanh Trì - Hà Tây (Hà Nội)

22 - Đỗ Cảnh - Tiến sĩ - Ất Sửu - Hoằng Liệt , Từ Liêm - Hà Tây (Hà Nội)
23 - Đỗ Văn Tổng - Tiến sĩ - Canh Thìn - An Khoái , Từ Liêm - Hà Tây (Hà Nội)
24 - Đỗ Công Luận -Tiến sĩ - Kỷ Hợi - An Khoái , Từ Liêm - Hà Tây (Hà Nội)
25 - Đỗ Công Toản - Tiến sĩ - Kỷ Hợi - An Khoái , Từ Liêm - Hà Tây (Hà Nội)
26 - Đỗ Văn Hãng - Tiến sĩ - Giáp Tuất - Mễ Trì , Từ Liêm - Hà Tây (Hà Nội)
27 - Đỗ Lệnh Danh - Tiến sĩ - Bính Tuất - Cựu Lạc , Thanh Trì - Hà Tây (Hà Nội)

28 - Đỗ Công Lang - Tiến sĩ - Giáp Thìn - Đôn Thư , Thường Tín - Hà Tây

29 - Đỗ Đễ - Tiến sĩ - Ất Sửu - Hương Thị , Thạch Thất - Hà Tây
30 - Đỗ Văn Hiệu - Thám Hoa - Ất Sửu - Hữu Tiên , An Sơn - Hà Tây

TỈNH HƯNG YÊN

31 - Đỗ Viên Lục - Tuần Phủ - Đan Nhưỡng , Văn Giang - Hưng Yên
32 - Đỗ Khắc Kính - Tiến sĩ - Giáp Thìn - Văn Giang - Hưng Yên
33 - Đỗ Khắc Niệm - Tiến sĩ - Đinh Mùi - Văn Giang - Hưng Yên

34 - Đỗ Viên Tể - Tiến sĩ - Quý Sửu - Lại Ốc , Văn Giang - Hưng Yên
35 - Đỗ Tôn - Trạng nguyên - Lại Ốc , Văn Giang - Hưng Yên
36 - Đỗ Phổ - Tiến sĩ - Ất Mùi - Lại Ốc , Văn Giang - Hưng Yên
37 - Đỗ Trực - Trạng nguyên - Canh Thìn - Lại Ốc , Văn Giang - Hưng Yên
38 - Đỗ Viên Khuê - Đỗ Xá , Mỹ Hào - Hưng Yên
39 - Đỗ Trác Dỵ - Tiến sĩ - Đinh Mùi - Đỗ Xá , Mỹ Hào - Hưng Yên
40 - Đỗ Hồng - Thám hoa - Canh Thìn - Đỗ Xá , Mỹ Hào - Hưng Yên
41 - Đỗ Công Mạch -Tiến sĩ - Ất Sửu - Thượng Hồng , Gia Lâm - Hưng Yên (Hà Nội)

42 - Đỗ Công Đình - Tiến sĩ - Bính Tuất - Thượng Hồng , Gia Lâm - Hưng Yên (Hà Nội)

43 - Đỗ An - Tiến sĩ - Đại Lạc , Văn Giang - Hưng Yên

TỈNH HẢI DƯƠNG

44 - Đỗ Viên Tú - Gia Phúc , Gia Phúc - Hải Dương
45 - Đỗ Vinh - Tiến sĩ - Ất Hợi - Gia Phúc - Hải Dương
46 - Đỗ Viên Diễn - Cẩm Giàng , Ninh Giang - Hải Dương
47 - :Đỗ Bá Linh - Tiến sĩ - Tân Sửu - Cẩm Giàng , Ninh Giang - Hải Dương
48 - Đỗ Phúc Lập - Tiến sĩ - Kỷ Hợi - Cẩm Giàng , Ninh Giang - Hải Dương
49 - Đỗ Văn Chinh - Tuần Phủ - Đoàn Lâm , Gia Phúc - Hải Dương
50 - Đỗ Văn Chú - Tiến sĩ - Bính Thìn - Đoàn Lâm , Gia Phúc - Hải Dương
51 - Đỗ Viên Minh - Cao phong Hầu - Tứ Kỳ , Tứ Kỳ - Hải Dương
52 - Đỗ Duy Kiểm - Tiến sĩ - Canh Tuất - Tứ Kỳ , Tứ Kỳ - Hải Dương
53 - Đỗ Đình Huấn - Tiến sĩ - Kỷ Mùi - Tứ Kỳ , Tứ Kỳ - Hải Dương
54 - Đỗ Bá Hạng - Tiến sĩ - Ất Sửu - Từ Xá , Tứ Kỳ - Hải Dương

55 - Đỗ Chương - Tiến sĩ - Mậu Thìn - Quang Bị , Tứ Kỳ - Hải Dương

TỈNH THANH HÓA

56 - Đỗ Viên Tính - Quận công,Quốc - Công Vĩnh Lộc - Thanh Hoá
57 - Đỗ Thuần Nhân - Tiến sĩ - Nhâm Thìn - Thạch Bàn, Đông Sơn - Thanh Hoá

THỨ THỨ CHI

THỨ THỨ CHI TỨ ĐẠI TỔ

(Đời thứ tư thứ của chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG, HUÝ LŨ, TỰ VIÊN NGHỊ

Ông là con trai thứ ba cụ Viên An, bà là Mai Thị Đức, simh được bốn người con. Mả ông ở Gia Vĩ, giỗ ngày 13 tháng 7 Âm lịch. Mả bà ở cồn Lân, giỗ ngày 6 tháng 6 Âm lịch.

Sau ông lại lấy bà Phạm Thị Xuân, ở thôn Mỹ Bổng, huyện Thư Trì, tỉnh Nam Hà và sinh ra ông Đỗ Hoàng. Đến niên hiệu Hồng Đức thứ 27, khoa Bính Thìn lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ 29.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Tiến. Ông thông hiểu trăm nghề tài thêm văn võ. Dàn trận bày quân, ra vào như thần không sợ sống chết. Có người bề tôi đình thần tiến cử thăng chức Sùng Tiến trấn quốc Thượng Tướng Quân, Tây Quận Đô Đốc, kiêm quản long Thao Hổ Lược nhị vệ, chỉ huy Thiểm sự Đô chỉ huy sứ, Tiến Quận Công.

Con trai thứ hai là Đỗ Nhật Hoài. Ông là con nhà thế gia có tiếng. Lúc bấy giờ trong nước hòa bình ông vào thi võ để tranh giáp, đoạt tiêu lòng không hổ thẹn. Nhân đi tìm thầy dạy học ông gặp và lấy bà Trần Thị Vinh, người thôn An Bài, huyện Phủ Dực, tỉnh Thái Bình. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ 27, khoa Bính Thìn ông lấy quê vợ đi thi và dỗ tiến sĩ thứ 25. Sau ông lại sinh ra ông Đỗ Cảnh. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ sáu, khoa Giáp Tuất đi thi đỗ tiến sĩ thứ 17.

Sau ông lại lấy bà Mạc Thị Tích, quê ở làng Tứ Xá, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và sinh ra ông Đỗ Bá Hạng. Đến niên hiệu Đoan Khánh năm đầu, khoa Ất Sửu lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ 15.

Con trai thứ ba là Viên Y Đỗ Văn Hiệu. Ông lúc nhỏ đi học nhân gặp và lấy bà Nguyễn Thị Tuyên, người thôn Hậu Tiên, huyện An Sơn, tỉnh Hà Tây. Niên hiệu Cảnh Thống năm thứ hai, khoa Kỷ Mùi lấy quê vợ đi thi. Trong khi vào trường thì gặp người bạn là Lê Đỉnh bị cảm. Ông bỏ hết văn bài để chữa cho ông Lê Đỉnh. Sau khi đã khỏi ông Lê đỉnh cảm ơn ông mà đem những văn bài đó tạ ông. Ông sao lục lại những văn bài đó mang vào thi và đã đỗ Thám Hoa thứ hai.

_________________________________

THỨ THỨ CHI NGŨ ĐẠI TỔ

(Đời thứ năm thứ của chi thứ)

NIÊN HIỆU HỒNG THUẬN NĂM THỨ HAI SẮC PHONẤNÙNG TIẾN PHỤ QUỐC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN, NAM QUÂN ĐÔ ĐỐC, QUẢN LONG THAO HỔ LƯỢC NHỊ VỆ, CHỈ HUY THIỂM SỰ, ĐÔ CHỈ HUY SỨ, TIẾN QUẬN CÔNG, HUÝ VĂN LANG, THỤY VĂN TÍN PHỦ QUÂN

Ông là con trai trưởng cụ Viên Nghị, vợ là Trịnh Thị Thục, sinh được 5 người con. Hai mả ông bà đều ở cồn Lãng. Giỗ ông 20 tháng 2 Âm lịch và giỗ bà ngày 27 tháng 3 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Phúc.

Con trai thứ hai là Viên Sùng Đỗ văn Nho. Trong thời gian niên hiệu Thiện Phong, bấy giờ ông đã hơn 40 tuổi, ngụ cư ở núi Sóc Sơn có Thần nhân táng cho một ngôi đất để sau này con cháu được phát đạt.

Con trai thứ ba là Viên Long Đỗ An. Ông lúc nhỏ học giỏi có tiếng nhưng sau này đi thi không đỗ. Buồn bực quá ông ra ngoài Bắc, đến thôn Lại Ốc huyện Văn Giang ông vào cầu yết đền thờ quan Trạng Đỗ Tôn. Nhân đó ông lấy bà Nguyễn Thị Bằng, người làng Đại Lạc cũng thuộc huyện Văn Giang. Đến niên hiệu Thuần Khúc năm thứ tư ông lấy quê vợ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ 17.

_________________________________

THỨ THỨ CHI LỤC ĐẠI TỔ

(Đời thư sáu thứ của chi thứ)

NIÊN HIỆU VĨNH TỘ NĂM THỨ BA TẶNG CHỨC THÁI BẢO PHÚC QUẬN CÔNG, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, HUÝ VĂN NHO, THỤY VIÊN SÙNG

Ông là con trai thứ hai cụ Viên Tiến, sinh được ba người con trai. Mả ở Bãi Nội, giỗ ngày 25 tháng 4 Âm lịch. Bà là Đỗ Thị Nhất, mả ở Đồng Bái, giỗ ngày 7 tháng 11 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Chính.

Con trai thứ hai là Đỗ Văn truyển.

Con trai thứ ba là Đỗ Viên Thắng.

_________________________________

THỨ THỨ CHI THẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ bảy thứ chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ VIÊN CHÍNH

Ông là con trai trưởng cụ Viên Sùng Đỗ văn Nho, sinh được hai người con. Mả ở Đồng Cảo, giỗ ngày 12 tháng 7 Âm lịch. Bà là Đỗ Thị Kính, mả ở Chùa Cũ, giỗ ngày 6 tháng 9 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Mỹ, mất sớm.

Con trai thứ hai là Đỗ Viên Bích.

_________________________________

THỨ THỨ CHI BÁT ĐẠI TỔ

(Đời thứ tám thứ chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ CHÍNH BÍCH

Ông là con trai cụ Viên Chính, mả ở Đa Đôi. Bà là Đỗ Thị Hiền, mả ở Cồn Cứ. Giỗ ngày 25 tháng Chạp Âm lịch.

Con trai trưởng huý Lệ, tên là Dạng, tự Nhân Chiêu, thụy Viên Đạt. Giỗ ngày 22 tháng 2 Âm lịch.

Con trai thứ hai huý Diễm, tự Quang Hoa.

_________________________________

THỨ THỨ CHI CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín thứ chi thứ)

NIÊN HIỆU THUẬN ĐỨC NĂM ĐẦU SẮC PHONG QUANG TIẾN THẬN LỘC ĐẠI PHU, THÁI BỘC TỰ THIẾU KHANH, ĐỖ TƯỚNG CÔNG HUÝ LỆ, TỰ NHÂN CHIÊU, THỤY PHỤC THỌ (VIÊN ĐẠT), HIỆU NHÃ THỰC TIÊN SINH

Ông là con trai trưởng cụ Viên Bích, sinh được bốn người con. Mả ở Phi Long, giỗ ngày 25 tháng 6 Âm lịch. Bà là Lê Thị Chinh, mả ở Sơn Nam, giỗ ngày 27 tháng 3 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Quang Chiêu.

Con trai thứ hai là Đỗ Quang Đăng.

*

THỨ THỨ CHI HỰU CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín thứ của thứ chi thứ)

NIÊN HIỆU ĐỨC LONG NĂM THỨ NĂM SẮC PHONG TÁN TRỊ CÔNG THẦN, ĐẶC TIẾN KIM TỬ VINH, LỘC ĐẠI PHU, SƠN NAM ĐẲNG SỨ, TÁN TRỊ THỪA CHÍNH SỨ TY, THAM NGHỊ TÂY KINH ĐIỆN, THÁI THƯỜNG TỰ KHANH, THỌ LĨNH TỬ, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, HUÝ QUANG HOA, TỰ DỰC THIỆN, THỤY CHÂN NHÂN, HIỆU DĨNH ĐẠT TIÊN SINH

Ông là con trai thứ hai cụ Viên Bích, mả ở Đồng Sau, giỗ ngày 9 tháng 6 Âm lịch. Bà là Nguyễn Thị Thận, mả ở Đa Vút, giỗ ngày 5 tháng 8 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Quang Vinh, huý Lân, tự Hựu.

Con trai thứ hai là Đỗ Quang Phụ, huý Các, tự Khả.

Con trai thứ ba là Đỗ Quang Bật, huý Lung, tự Dự. Ông được phong Ấm Tử. Ông ra Kinh Thành học tập. Trong thời gian ấy có ông tiến sĩ họ Đồng, người làng Thiết Úng làm quan đồng Triều với cụ Quang Hoa. Ông bèn xin cụ Quang Hoa ông cho làm con nuôi, cụ Quang Hoa đồng ý. Từ đấy về sau họ của ông được đổi thành họ Đồng. Rồi ông được đem về Tam Tảo, Phú Lâm Tiên Du, Bắc Ninh và lấy vợ. Bà vợ này là Hiệu Diệu Minh sinh được sáu người con, ba trai, ba gái. Sau ông lại lấy bà vợ lẽ, người làng Thiết Úng, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Con trai thứ nhất là Đỗ Hoàng Thịnh, ở Thiết Úng.

Con trai thứ hai là Đỗ Nhân Hoàng, ở Tam Tảo.

Con trai thứ ba là... ở Thiết Úng.

Con gái thứ nhất là Đỗ Thị Duyên.

Con gái thứ hai là Đỗ Thị Điển.

Con gái thứ ba là Đỗ Thị Thiện.

Con gái thứ tư là Đỗ Thị Hợp.

Con gái thứ sáu là Đỗ Thị Loan.

Con gái thứ sáu là Đỗ Thị Sáu.

Lý lịc h cụ Đỗ Quang Bật được ghi rõ ở quyển Gia Phả tiếp theo ở Tam Tảo

_________________________________

THỨ THỨ CHI THẬP ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười thứ chi thứ)

NIÊN HỊEU VĨNH TÔ NĂM THỨ HAI SẮC PHONG MẬU LÂM TÁ LANG, LỄ BỘ THANH LẠI TY VIÊN LẠI LANG, ĐỖ LỆNH CÔNG HUÝ QUANG CHIÊU, TỰ VIÊN CÔNG DANH THẾ, TRƯỞNG CẨN HẬU TIÊN SINH

Ông là con trai trưởng cụ Nhân Chiêu, mả ở Long Mới, giỗ ngày 7 tháng 10 Âm lịch. Bà là Phạm Thị Triết, giỗngày 10 tháng 5 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Khang. Ông Viên Khang tên chữ là Quang Định. Lúc còn đương học đã hơn 40 tuổi đi thi không đỗ. Nghĩ buồn ông ra ngoài Bắc tìm anh em nhân gặp và lấy bà Đồng Thị Hạnh, người thôn Hoa Lâm, huyện Đông Anh, nội Thành Hà Nội và sinh ra ông Đỗ Công Quỳnh. Đến niên hiệu Chính Hòa năm thứ sáu lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ 8.

Con trai thứ hai là Đỗ Viên Thuần.

Con trai thứ ba là Đỗ viên Quảng.

*

THỨ THỨ CHI HỰU THẬP ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười thứ của thứ chi thứ)

ĐỖ LỆNH CÔNG, HUÝ LUNG, TỰ DỰ, DANH QUANG BẬT, HIỆU CƯ GIẢN, THỤY ĐỨC CHÍNH PHỦ QUÂN

Ông là con trai thứ ba cụ Quang Hoa. Trong niên hiệu Khánh đức ông được làm Chi Phủ các Phủ : Thượng Hồng, Nam Sách, Lâm Thao. Sau này ông về lập quê ở Tam Tảo và Thiết Úng. Bà là Hiệu Diệu Minh, sinh được sáu người con, 3 trai, 3 gái.

_________________________________

Tiếp theo phần trước

THỨ CHI CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín chi thứ)

QUỐC TỬ GIÁM, GIÁM SINH, ĐỖ LỆNH CÔNG , TỰ VIÊN ÔN, THỤY THIỆN GIÁP, HIỆU THUẦN ĐỐC TIÊN SINH

Ông là con trai trưởng cụ Viên Đức, bà là Trịnh Thị Nhất.

Con trai trưởng là Đỗ Thiện Vi. Niên hiệu Đương Đức năm đầu ông được tuyển vào làm Các vệ. Ông cùng các nghĩa quân đi tuần tỉnh Quảng Nam. Trong lúc đó nhà ông nghèo túng hai em của ông mới 14 và 17 tuổi đều phải xa nhà. Nhân thế ông bèn đem gia quyến ra xã Phủ Lý, thuộc huyện Đông Sơn dạy học để lấy tiền nuôi gia đình. Từ đấy về sau ông không về Thanh Hóa nữa.

Con trai thứ hai là Đỗ Vi Bỉnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình nghèo túng, theo anh đi ở để nuôi thân. Đến niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ tư không may lại gặp nước lụt lại bị sâu hoàng trình cắn hết hoa mầu. Nhân dân vùng ấy chết đói rất nhiều. Lúc ấy anh em ông đành phải lìa tan mỗi người một phương để kiếm ăn. Anh ở làng Ngọc Đới, huyện Thuần Phúc. Anh an cư ở đấy không trở về quê cũ nữa.

Con trai thứ ba là Đỗ Thiện Mẫn. Ông lúc 14 tuổi nhờ anh nuôi nấng. Đến niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ tư lại bị nước lụt lúc ấy ông 22 tuổi đi làm thuê để kiếm ăn. Đến niên hiệu Chính Hòa năm thứ hai nhân dân vùng ấy chết dịch rất nhiều, ông sợ bèn về xã Yên Vực mà ở rồi lấy vợ và an cư lạc nghiệp ở đấy.

Ông sau này được rèn luyện nghề văn. Đến niên hiệu Vĩnh Thọ năm thứ hai ông đi thi nhưng không đỗ tiến sĩ. Buồn bực quá ông bèn ra ngoài Bắc, nhân gặp và lấy thêm bà Đồng Thị Thọ, người thôn Tuấn Dị, thuộc huyện Gia Lâm, nội thành Hà Nội và dạy học ở đấy. Đến niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ tư lại bị vỡ đê. Nhân dân chết đói rất nhiều, bà Đồng Thị Thọ cũng chết. Bà trước đó sinh được hai người con gái, ông bà đặt tên là Đỗ Thị Gia và Đỗ Thị Dị, có nghĩa là Gia Lâm Tuấn Dị. Trong thời gian ấy ông hồi tưởng nhớ gia đình, lòng như lửa đốt. Đến ngày mồng 10 tháng 10 ông đưa 2 con gái trả bố vợ rồi về quê thăm gia quyến. Về đến quê thấy cửa nhà đổ nát, sân rêu, nhà mốc, vợ con tan tác ông bèn khóc và than rằng: "Vong gia hương hề, lập thân an, thân bất an, hồi quán dĩ tàn" co nghĩa là: " Bỏ nơi quê cha hòng lập nghiệp, chẳng được yên, về quê quán lại tàn". Ông đành thôi và đi ra Tây Kinh tạm trú ngụ nuôi thân, rồi sau lại tìm vợ con. Đến ngày 18 thì ông tới Tây kinh và tìm nơi dạy học. Ngày 19 ông đến xã Xuân Hồ, huyện Nôi Dương thì gặp ông Lê Hữu Đạo. Ông Đạo hỏi, ông đáp rất có lễ phép. Ông Hữu Đạo bèn đưa ông về nhà. Hai người ngao du phong thể được 10 ngày. Từ đấy về sau người làng ấy đã phục hồi lại nghề dạy học của ông. Ông lại ngâm thơ rằng: "Tứ thập niên dư, tiến sĩ không, giám sinh tái kết hữu sinh đồng.Thử niên bất chúng tha niên chúng, cấp nguyện Hoàng Thiên thượng giám trung" có nghĩa là: " Hơn 40 năm vào thi chẳng đỗ, dạy học làm bạn cùng lũ trẻ con. Khoa này chẳng đỗ đành khoa khác, trờ kia sao cứ phụ người ngay".

Đến mồng 12 tháng 10 năm ấy ông khai trường dạy học. Dạy được 5 ngày, đêm nằm trong màn ông thấy Thần hiện lên bảo rằng: "Xuân lôi khắc thiện đông thiên địa, thập nhất tha hương Cống sĩ phu". Ngay lúc ấy ông bèn đoán ra rằng; "Đến khi có sấm ra mắt mùa xuân có lẽ vợ mình có thai đến tháng 11 thì sinh được cậu Cử nhân cho bõ công".

Ngay ngày hôm sau ông bèn đi tìm hiểu và lấy bà Lê Thị Thanh cho ứng vào lời Thần đã báo. Sau này quả nhiên vợ ông sinh con trai. Ông bèn đặt tên là Đỗ Viết Phú. Từ đấy về sau ông dạy con học rất dáo diết, văn chương ngày càng lỗi lạc, có vẻ ra người nhà văn. Ông lại nghĩ đến gia đình với lời ngâm đúng phải. Đến niên hiệu Chính Hòa thứ17, khoa Bính Tý ông Đỗ Viết Phú lấy quê mẹ đi thi và đỗ cử nhân thứ 8. Chi này không trở về Thanh hóa nữa.

*

THỨ CHI HẬU CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín con cháu chi thứ)

NIÊN HIỆU PHÚC THÁI THỨ SÁU SẮC PHONG CẨN SỰ MẬU LÂM LANG, THỪA NHIỆM, PHÚ BÌNH PHỦ, ĐỒNG CHI PHỦ, VỊNH PHÁI LANG, ĐỖ LỆNH CÔNG, TỰ MINH MẪN, HIỆU NHẬN DUỆ TIÊN SINH

Ông là con trai thứ của cụ Hiển Bá Đỗ Thông Minh, bà là Từ Thái, sinh được ba người con. Mả ông ở Tổ Mối, giỗ này 25 tháng 4 Âm lịch. Mả bà ở đằng trước, giỗ ngày 3 tháng 3 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Viết Hồ.

Con trai thứ hai là Đỗ Viết Bồ. Ông này sau làm Chi huyện Nông Cống và huyện Thanh Chương.

Con trai thứ ba là Đỗ Viết Niên.

*

THỨ CHI HỰU CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín con cháu chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ CHÍNH PHÚC

Ông là con trai trưởng cụ Chính Nghiêm, bà là Nguyễn Thị Trinh, sinh được bốn người con. Mộ hai ông bà đều ở Cây Đa. Giỗ ông ngày 17 tháng 5 Âm lịch, giỗ bà ngày 19 tháng 4 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Chính Ân, nối nghiệp.

Con trai thứ hai là Đỗ Chính Bích.

Con trai thứ ba là Đỗ Chính Đương.

Con trai thứ tư là Đỗ Chính Hạnh.

*

THỨ CHI HỰU CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín con cháu chi thứ)

ĐỖ CÔNG, HUÝ TRÌNH, TỰ CHÍNH THÔNG

Ông là con trai trưởng cụ Chính Lễ, mả ở cồn Bói. Bà là Từ Vinh, sinh được một người con.

Sau ông lại lấy bà Trịnh Thị Thục và sinh được ba người con trai.

Con trai trưởng là Đỗ Chính Danh.

Con trai thứ hai là Đỗ Chính Phúc.

Con tri thứ ba là...

*

THỨ CHI HỰU CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín con cháu chi thứ)

ĐỖ TƯỚNG CÔNG, HUÝ TUẤN, TỰ THIỆN CHÍNH, THỤY CHÍNH NGHỊ, HIỆU MINH LƯỢNG TIÊN SINH

Ông là con trai thứ ba cụ Vũ Khê Bá Chính Lễ, giỗ ngày 14 tháng 4 Âm lịch. Sinh được ba người con.

Con trai thứ nhất là Đỗ Toàn.

Con trai thứ hai là Đỗ Bắc.

Con gái là Đỗ Thị Chính.

_________________________________

THỨ CHI HỰU THẬP ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười chi thứ)

NIÊN HIỆU CHÍNH HOÀ NĂM THỨ MƯỜI TÁM, KHOA ĐINH SỬU ĐỖ TIẾN SĨ ĐỆ TAM GIÁP, ĐỒNG XUẤT THÂN HOÀNG TIẾN ĐẠI PHU, THÁI BỘC TỰ KHANH, XUÂN QUANG TỬ, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, TỰ VIẾT HỒ, THỤY CÔNG NGỌC, HIỆU NHÃ THỰC TIÊN SINH

Ông là con trai trưởng cụ Minh Mẫn, bà là Nguyễn Thị Đức, sinh được hai người con. Mả ông ở Hoàng Côn, mả bà ở Mả Biền.

*

THỨ CHI HỰU THẬP ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười chi thứ)

NIÊN HIỆU VĨNH THỊNHTHỨ MƯỜI SẮC PHONG TÁN TRỊ CÔNG THẦN HÌNH BỘ THỊ LANG, TÁN TRỊ HƯNG HÓA, THANH HÌNH HIẾN SÁT, TY HIẾN SÁT SỨ, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, TỰ VIẾT NIÊN, THỤY BÌNH LẠC,HIỆU TUY LÝ TIÊN SINH

*

THỨ CHI HỰU THẬP ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ CHÍNH ÂN

Ông là con trai trưởng cụ Chính Phúc, bà là Tống Thị Thiện, sinh được 4 người con. Hai mả ông bà đều ở cồn Bói. Giỗ ông ngày 19 tháng 4 Âm lịch, giỗ bà ngày 7 tháng 5 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Chính Tâm, nối nghiệp.

Con trai thứ hai là Đỗ Chính Độ.

Con gái là Đỗ Thị Đảng.

Con gái là Đỗ Thị Ân.

*

THỨ CHI HỰU THẬP ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG, HÚY NGHỆ, TỰ CHÍNH DANH

Ông là con trai trưởng cụ Chính Thông (Con bà vợ lẽ của cụ), bà là Đỗ Thị Thiềm, sinh được sáu người con. Mả ông ở cồn Bói, giỗ ngày 5 tháng Giêng Âm lịch. Mả bà ở cồn Táo, giỗ ngày 24 tháng 3 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Đình Đoan, tên huý là Long, tự Chính Công. Ông lấy bà Tống Thị Tiết ở thôn Yên Lãng, huyện Nôi Dương. Niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 11, khoa Ất Mùi ông lấy quê vợ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ sáu. Con trai là Đỗ Chính Liêm, vợ là Cao Thị Trương, quê ở Tràng Long, huyện Yên Định sinh được 5 người con.

Lại nói ông là người rất ngang ngạnh, sau này ông đi ra Mạch Cốc, huyện Thụy Nguyên dạy học. Đến niên hiệu Vĩnh Khánh năm thứ ba, khoa Ất Hợi lấy quê quê vợ đi thi và đỗ Thám hoa.

Con trai (thứ hai ?) là Đỗ Thành Nguyên. Ông này tiền phương du học nhân lấy bà Trần Thị Đang, quê ở xã Lang Xuyên, huyện Đông Yên, tỉnh Hà Nam. Niên hiệu Long Đức, khoa Tân Dậu lấy quê vợ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ 17.

Con trai thứ ba là Đỗ Chính Pháp, tên huý là Mát.

Con gái thứ tư là Đỗ Diệu Nhân.

Con gái thứ năm là Đỗ Thị Ý.

Con gái thứ sáu là Đỗ Thị Huệ.

_________________________________

THỨ CHI HỰU THẬP NHẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười một chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG, QUÝ NHỠN, TỰ CHÍNH TÂM

Ông là con trai trưởng cụ Chính Ân, bà là Đỗ Thị Quốc, sinh được mười người con. Mả ở Thiện Đồ, giỗ ngày 20 tháng 7.

Con trai trưởng là Đỗ Công Chính, tên huý là Duy.

Ông lại lấy bà Nguyễn Thị Từ sinh được một người con là Đỗ Thiện Ích nối nghiệp.

*

THỨ CHI HỰU THẬP NHẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười một chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG HUÝ MÁT, TỰ CHÍNH PHÁP

Ông là con trai thứ ba cụ Chính Danh, sinh được sáu người con.

_________________________________

THỨ CHI HỰU THẬP NHỊ ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười hai chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG, TỰ THIỆN ÍCH

Ông là con trai cụ ChínhTâm, bà bà Từ Nhân, sinh được sáu người con. Mả ở cồn Hạc, giỗ ngày 16 tháng 5 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Thiện Tích.

Con trai thứ hai là Đỗ Thiện Diên, nối nghiệp.

Con trai thứ ba là Đỗ Thiện Thận, tên huý là Thế.

Con trai thứ tư là Đỗ Thiện Trương, tên huý là Khanh.

Con gái thứ năm là Đỗ Thị Tài.

Con gái thứ sáu là Đỗ Thị Khương.

_________________________________

THỨ CHI HỰU THẬP TAM ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười ba chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG, TỰ THIỆN DIÊN

Ông là con trai thứ hai cụ Thiện Ích, sinh được ba người con.

Con trai trưởng là Đỗ Văn Hành.

Con trai thứ hai là Đỗ Văn Lễ

Con gái là Đỗ Thị Thinh.

*

*****************************

Tags: 05-thứ.chi(tiếp) Tuesday February 19, 2008 - 12:29pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments

04 - THỨ CHI

THỨ CHI

THỨ CHI TAM ĐẠI TỔ
(Đời thứ ba chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG, HUÝ BỊ, TỰ VIÊN AN

Ông là con trai thứ hai cụ Viên Nhân, bà là Nguyễn thị Dạo, sinh được chín người con. Mả ông ở cạnh mả Tổ, giỗ ngày mồng ba tháng bảy. Mả bà ở Mả Dứa, giỗ ngày mồng một tháng mười.

Con trai trưởng Đỗ Viên Trung, tên huý là Liễu.

Con trai thứ hai là Đỗ Viên Chính, tên huý là Cầm.

Con trai thứ ba là Đỗ Viên Nghị, tên huý là Lũ Thụy.

Con trai thứ tư là Đỗ Viên Thuận, tên húy là Liêm.

Con gái thứ năm là Đỗ Thị Đàn.

Con gái thứ sáu là Đỗ Thị Đồng.

Con gái thứ bảy là Đỗ Thị Tràm.

Con gái thứ tám là Đỗ Thị Tròng.

Con gái thứ chín là Đỗ Thị Quang.

_________________________________

THỨ CHI TỨ ĐẠI TỔ

(Đời thứ tư chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG THỤY VIÊN TRUNG

Ông là con trai trưởng cụ Viên An, bà là Hoàng Thị Quang, sinh được bảy người con. Mả ông ở cồn Bói, giỗ ngày mồng một tháng chín, mả bà ở cổn Trưng, giỗ ngày hai mươi tháng ba.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Minh. Ông dáng người cao lớn, khỏe mạnh, vả lại trông có tướng anh hùng. Khi nhập ngũ ông được ưu tiên nhất thiên hạ. Ông được đem quân đánh nước Chiêm Thành (Tức Thái Lan ngày nay). Ông là người nhập đựơc vào Thành đầu tiên, cém được tướng giữ Thành và đem thủ cấp về dâng thành công đệ nhất. Và ông được phong làm Cao Phong Hầu, Tổng binh chỉ huy sứ. Sau đó được ba năm thì ông mất. Người ta kể lại lúc sinh thời, khi ông đi tuần phủ Hải Dương nhân gặp và lấy bà Nguyễn Thị Tòng, người thôn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Sau đó sinh ra ông Đỗ Duy Kiểm. Đến niên hiệu Hồng Đức năm thứ hai mươi mốt, khoa Canh Tuất ông Kiểm lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ sáu. Sau lại sinh ra ông Đỗ Đình Huấn. Đến niên hiệu Cảnh Thống năm thứ hai, khoa Kỷ Mùi đi thi và đỗ tiến sĩ thứ mười sáu. Chi này an cư lạc nghiệp ở Tứ Kỳ, không trở về Thanh Hoá nữa.

Con trai thứ hai là Đỗ Viên Bách. Ông được chức Bá hộ ty xá nhân.

Con trai thứ ba là Đỗ Viên Khuê. Ông lúc nhỏ ra làm thuê ở ngoài Bắc sau lấy bà Vũ Thị Lượng, người thôn Đỗ xá, huyện Đường Hào (Nay đổi là Mỹ Hào). Ông sinh ra ông Đỗ Trác Dỵ. Đến niên hiệu Minh Định năm đầu, khoa Đinh Mùi ông Dỵ lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ hai mưi mốt. Sau lại sinh ra ông Đỗ Hồng. Đến niên hiệu Diên Thành năm thứ ba, khoa Canh Thìn đi thi và đỗ Thám Hoa. Chi này ân cư lạc nghiệp ở đấy, không về quê cũ nữa.

Con trai thứ tư là Đỗ Viên Phúc, tên huý là Lang, nối nghiệp.

Con trai thứ năm là Đỗ Chính Đức.

_________________________________

THỨ CHI NGŨ ĐẠI TỔ

(Đời thứ năm chi thứ)

NIÊN HIỆU CẢNH THỐNG NĂM THỨ NĂM SẮC PHONG QUẢN LĨNH TRUNG PHỦ THỊ NỘI CẨM Y, LONG VŨ HỔ OAI NHI VỆ, THUẦN TÍN HẦU, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, HUÝ LANG TỰ VIÊN PHÚC

Ông là con trai thứ tư cụ Viên Trung, bà là Vũ Thị Thuận. Ông giỗ ngày mười ba tháng chín. Sinh được bốn người con. Bà giỗ ngày mười tám tháng sáu. Sau đó ông lại lấy bà Cao thị Đồng, người làng Mễ Trì, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Tây (Nay thuộc Hà Nội) và sinh ra ông Đỗ Văn Hãng. Đến niên hiệu Hồng Thuận năm thứ sáu ông Hãng lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ hai mươi sáu.

Con trai trưởng là Đỗ Trung nghị, tên huý là Quyên.

Con trai thứ hai tên huý là Hậu. Ông lúc sinh thời là Xã trưởng. Đến niên hiệu Thống Nguyên năm thứ hai được tuyển vào nhà binh. Đến niên hiệu Cảnh Lịch năm thứ ba được cất nhắc làm chức Thị nội cẩm y vệ đô chỉ huy, Quang Lương Hầu. Ông lấy người vợ trước không có con. Sau lại lấy bà Phạm Thị Văn và sinh ra các ông Đỗ Huệ Nghiệm, Đỗ Huệ Lạc, Đỗ Đăng Khoa, Đỗ Đăng Cao. Hiện giờ lập quán ở xã Kinh Thuỷ, không về quê cũ nữa.

Con trai thứ ba là Đỗ Duy Quang tên thụy là Hiển Mỹ. Ông lúc trẻ làm Xã trưởng, đem quân đánh họ Mạc, họ Trịnh. Đến niên hiệu Chính Trị năm thứ hai được sắc phong Tán trị công thần, Bình nhung tướng quân, Đô chỉ huy sứ, Thứ Bình Hầu. Vợ là Phạm Thị Hỷ sinh ra ông Đỗ Hiển Đước. Ông Đước theo cha đi đánh giặc, có công nên đến niên hiệu thứ mười được phong 5 sắc phong: Yết tiết, Tuyên lực công thần, Hoài Viễn tướng quân, Chỉ huy sứ, Nhân lực hầu. Ông lấy bà Thị Nhân sinh ra ông Đỗ Hiển Nghĩa. Đến niên hiệu Quang Hưng thứ 16 được bổ làm Chi huyện huyện Thạch Thành và được phong là Văn Tuyến Từ. Vợ ông là Nguyễn Thị Hậu, quê quán ở xã Kinh Thuỷ sinh ra các ông Đỗ Đạo An và Đỗ Đạo Ân. Chi này an cư ở đấy không về quê nữa.

Con gái thứ tư là Đỗ Thị By.

*

THỨ CHI HỰU NGŨ ĐẠI TỔ

(Đời thứ năm con thứ chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ CHÍNH ĐỨC

Ông là con trai thứ năm cụ Viên Trung, bà là Nguyễn Thị Thuận, sinh được sáu người con. Hai mả ông bà đều ở Lạc Ngà. Giỗ ông 14 tháng 2 Âm lịch, giỗ bà 27 tháng 6 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Chính Nghị thụy là Đỗ Chương. Ông giỏi nghề văn chương có tiếng thời bấy giờ. Nhân lấy bà Vũ thị Bạt, người làng Quang Bị, huyện Gia Phúc, tỉnh Hải Dương. Niên hiệu Quang Thuận năm thứ hai, khoa Mậu Dần lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ 13. Sau lại sinh ra ông Đỗ Cương. Niên hiệu Thống Nguyên năm thứ hai, khoa Quý Sửu đi thi và đỗ tiến sĩ thứ mười ba.

Con trai thứ hai là Đài tên chữ là Đỗ Chính Niệm. Lấy bà Thị Mao không có con. Bấy giờ tuổi đã 40, buồn bực ra ngoài Bắc giữa đường gặp và lấy bà Đồng Thị Duyên, là người lái buôn. Sau đó đã đem nhau về bản quán là thôn Khả Lý, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang sinh sống. Sau đó sinh ra ông Đỗ Đồng Dy. Đến niên hiệu Quảng Hoà năm thứ năm, khoa Giáp Thìn lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ bảy.

Con trai thứ ba là ĐỗChính Nghĩa, nối nghiệp.

Con trai thứ tư là Đỗ Chính Mỹ.

Con gái là Đỗ Thị Đáp.

Con gái thứ sáu là Đỗ Thị Hóa.

_________________________________

THỨ CHI LỤC ĐẠI TỔ

(Đời thứ sáu chi thứ)

NIÊN HIỆU THỐNG NGUYÊN NĂM THỨ HAI TỶ NHẬP HỘ VỆ THỊ NỘI, KHÂM PHỦNG THÁNH VỆ, HOÀI VIỄN TƯỚNG QUÂN CHỈ HUY SỨ, KHANG LỘC BÁ, ĐỖ QUÝ CÔNG, HUÝ QUYÊN, TỰ TRUNG KÍNH (TRUNG NGHỊ)

Ông là con trai trưởng cụ Viên Phúc, sinh được bốn người con. Mả ông ở Bái Nội, giỗ ngày 21 tháng 10 Âm lịch. Bà là Mai Thị Thảo, mả ở Cây Đa, giỗ ngày 3 tháng 3 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Tín, tên huý là Dụng. Niên hiệu Chính Trị năm thứ ba được sắc phong Kiệt Tiết tuyên lực mậu lâm lang, Thuỷ Thường huyện huyện Thừa, Thận Nghĩa Nam. Đỗ Lệnh Công huý Dụng tự Viên Tín , vợ là Phạm Thị Hiệu sinh hai người con. Hai mả đều ở cồn Bói. giỗ bà ngày 2 tháng 11 Âm lịch.

Ông lại lấy bà nữa ở Bồng Thượng sinh được ba người con, giỗ ngày 8 tháng 10 Âm lịch.

Con trai thứ hai (Con trưởng của bà sau) tên huý là Độ tự Cương Chính, nối nghiệp.

Con trai thứ ba (Con thứ hai của bà sau) là Đỗ Chân Hiền tên huý là Lệ, nối nghiệp.

Con trai thứ tư (Con trai thứ ba của bà sau) là Đỗ Diễn Khánh tên huý là Tuấn.

*

THỨ CHI HỰU LỤC ĐẠI TỔ

(Đời thứ sáu con thứ chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ CHÍNH NGHĨA

Ông là con trai thứ ba cụ Chính Đức, bà là Phạm Thị Hỷ, sinh được một người con. Mả hai ông bà đều ở Ông Voi. Giỗ ông 25 tháng 10 Âm lịch, giỗ bà ngày10 tháng 5 Âm lịch.

_________________________________

THỨ CHI THẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ bảy chi thứ)

NIÊN HIỆU CHÍNH TRỊ NĂM THỨ SÁU SẮC PHONG KIỆT TIẾT TUYÊN LỰC, ĐẶC TIẾN PHỤ QUỐC TƯỚNG QUÂN, TY XÁ VỆ, ĐÔ CHỈ HUY SỨ TY CHỈ HUY THỨ VỆ SỰ, NHGĨA VŨ HẦU, ĐỖ LỆNH CÔNG, HUÝ ĐỘ, TỰ CƯƠNG CHÍNH, THỤY VIÊN THỌ

Ông là con trai thứ hai cụ Trung Kính (Con trai trưởng của bà sau), vợ là Lê thị Trất, sinh được 4 người con. Mả ông ở Ông Voi, giỗ ngày 7 tháng Chạp Âm lịch. Mả bà ở Quần Chiêu, giỗ ngày 10 tháng 5 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Trọng Hoa, nối nghiệp.

Con trai thứ hai là Đỗ Viên Tính, tên huý là Lung.

Con gái là Đỗ Thị Bình.

*

THỨ CHI HỰU THẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ bảy con thứ chi thứ)

NIÊN HIỆU CHÍNH HOÀ TRỊ NĂM THỨ BẢY KỶ DẬU KHOA HƯƠNG THÍ CỐNG SINH, NIÊN HIỆU CHÍNH TRỊ THỨ MƯỜI LĂM SẮC PHONG THỤ KIỆT TIẾT TUYÊN LỰC CÔNG THẦN, ĐẶC TIẾN KIM TỬ VINH, LỘC ĐẠI PHU LẠI BỘ, THUYÊN KHẢO THANH LẠI, TY VIÊN NGOẠI LANG, LƯƠNG KHÊ NAM, ĐỖ CÔNG LỆ, THỤY MỸ CHÂN HIỀN, HIỆU TRÚC LÂM TIÊN SINH

Ông là con trai thứ ba cụ Trung Kính (Con trai thhai của bà sau), v là Dương Thị Ái, sinh được ba người con. Mả ông ở Cổ Ngựa, giỗ ngày 7 tháng 10 Âm lịch, mả bà cồn Sương, giỗ ngày 26 tháng 4 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Đức.

Con trai thứ hai là Đỗ Hưng Viễn đi Công giáo.

*

THỨ CHI HỰU THẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ bảy con thứ chi thứ)

NIÊN HIỆU QUANH HƯNG THỨ MƯỜI LĂM SẮC PHONG QUẢN TRỊ TRUNG TẢ HẪU HỘ VỆ, PHỦNG THÁNH VỆ, HOÀI VIỄN TƯỚNG QUÂN, DĨNH XUYÊN HẦU, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, THỤY TRẤN, TỰ DIỄN KHÁNH, HIỆU DỤ HẬU PHỦ QUÂN

Ông là con trai thứ tư cụ Trung Kính (Con trai thứ ba của bà sau), vợ là Từ Huyên, sinh được ba người con. Mả ông ở Xuân Mồ, giỗ ngày 25 tháng Giêng Âm lịch. Mả bà ở Bái Con, giỗ ngày 9 tháng 2 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Thông Minh.

Con trai thứ hai là Đỗ Phúc Hậu.

Con gái thứ ba là Đỗ Từ Thuận.

*

THỨ CHI HỰU THẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ bảy cháu chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ CHÍNH ĐẠT

Ông là con trai trưởng cụ Chính Nghĩa, bà là Nguyễn Thị Đức, sinh được hai người con. Mộ hai ông bà đều ở cồn Bói. Giỗ ông ngày 11 tháng 10 Âm lịch, giỗ bà ngày 12 tháng Chạp Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Chính Nghiêm.

Con gái là Đỗ Thị Huệ.

Ông lại lấy bà vợ lẽ là Trịnh Thị An và sinh được ba người con. Bà lẽ giỗ ngày 25 tháng 10 Âm lịch

Con trưởng của bà vợ lẽ là Đỗ Chính Lễ (Vũ Khê Bá), nối nghiệp.

Con trai thứ hai của bà vợ lẽ là Đỗ Chính Trực.

Con gái của bà vợ lẽ là Đỗ Thị Dung.

_________________________________

THỨ CHI BÁT ĐẠI TỔ

(Đời thứ tám chi thứ)

NIÊN HIỆU QUANG HƯNG THỨ MƯỜI BẢY, GIÁP NGỌ HƯƠNG THÍ, NHẤT CỬ CỐNG SĨ. NIÊN HIỆU HOÀNG ĐỊNHĂNM THỨ BA SẮC PHONG QUẢN ĐÔN HẬU CÔNG THẦN, QUANG TIẾN THẬN LỘC ĐẠI PHU CÔNG BỘ, THUYÊN KHẢO THANH SỬ, TY VIÊN NGOẠI LANG, HƯƠNG KHÊ NAM, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, HUÝ TRỌNG HOA, THỤY CHÂN ĐỊNH, TỰ MINH TRIẾT TIÊN SINH

Ông là con trai trưởng cụ Viên Thọ (Đỗ Cương Chính), bà là Nguyễn thị Hính, sinh được sáu người con. Mả ông ở cồn Trưng, giỗ ngày 8 tháng Giêng Âm lịch. Mả bà ở cồn Bói, giỗ ngày 29 tháng 6 Âm lịch.

Ông lại lấy bà vợ lẽ là Phạm Thị Đoài, ở làng Hương Thị, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây và sinh được ông Đỗ Đễ. Đến niên hiệu Chính Hòa năm thứ sáu, khoa Ất Sửu ông Đễ lấy quê mẹ đi thi và đỗ tiến sĩ thứ bảy.

Con trai trưởng là Đỗ Viên Đào.

Còn bốn người con không rõ.

*

THỨ CHI HẬU BÁT ĐẠI TỔ

(Đời thứ tám con thứ chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ VIÊN ĐỨC

Ông là con trai trưởng cụ Đỗ Chân Hiền (Cụ Trúc Lâm tiên sinh), bà là Phạm Thị Tâm, sinh được ba người con trai. Mả hai ông bà đều ở Sau Miễu. Giỗ ông ngày 12 tháng 5 Âm lịch, giỗ bà ngày 1 tháng 8 Âm lịch.

*

THỨ CHI HẬU BÁT ĐẠI TỔ

(Đời thứ tám con thứ chi thứ)

NIÊN HIỆU VĨNH TỘ THỨ MƯỜI SẮC PHONG KIỆT TIẾT CÔNG THẦN, ĐẶC TIẾN KIM TỬ VINH, LỘC ĐẠI PHU HỘ BỘ, THUYÊN KHẢO THANH SỬ TY LANG, VĂN HIỂN BÁ, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, TỰ THÔNG MINH, HIỆU THẬN ĐỨC TIÊN SINH

Ông là con trai trưởng cụ Dĩnh Xuyên Hầu Đỗ Diễn Khánh, bà là Thị Thực,sinh được hai người con. Mả ông ở Xuân Bồ, giỗ ngày 9 tháng 3 Âm lịch. Mả bà ở Bãi Lau, giỗ ngày 5 tháng 4 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Thiện Triết.

Con trai thứ hai là Đỗ Minh Mẫn.

*

THỨ CHI HỰU BÁT ĐẠI TỔ

(Đời thứ tám con cháu của chi thứ)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ CHÍNH NGHIÊM

Ông là con trai trưởng cụ Chính Đạt, bà là Phạm Thị Hảo, sinh được năm người con. Mộ hai ông bà đều ở cồn Bói. Giỗ ông ngày 2 tháng 3 Âm lịch, giỗ bà ngày 7 tháng 3 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Chính Phúc, nối nghiệp.

Con trai thứ ba là Đỗ Sinh Đồ, tự Chính Hiền.

Con gái là Đỗ Thị Hiền.

*

THỨ CHI HỰU BÁT ĐẠI TỔ

(Đời thứ tám con cháu chi thứ)

NIÊN HIỆU VĨNH TỘ NĂM ĐẦU SẮC PHONG ĐẶC TIẾN PHỤ QUỐC TƯỚNG QUÂN, PHỦNG THÁNH VỆ, TRUNG ĐỊNH SỞ, PHÓ QUẢN LĨNH VŨ KHÊ BÁ, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, HUÝ CHIÊU TỰ CHÍNH LỄ

Ông là con trai trưởng của vợ lẽ cụ Chính Đạt, bà là Đỗ thị Đức, sinh được năm người con. Mộ hai ông bà đều ở cồn Hạc. Giỗ ngày 3 tháng 2 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Chính Đạo, tên huý là Trình, nối nghiệp.

Con trai thứ hai là Đỗ Chính Chung.

Con trai thứ ba là Đỗ Thiện Chính, tên huý là Tuấn. Đến niên hiệu Vĩnh Thọ năm thứ hai, khoa Kỷ Hợi đi thi và đỗ tiến sĩ. Xuất thân Công bộ hữu thị lang, Đông lĩnh tử chí sĩ.

_________________________________

Tiếp phần sau

THỨ TRƯỞNG CHI

THỨ TRƯỞNG CHI TỨ ĐẠI TỔ

(Đời thứ tư thứ của chi trưởng)

ĐỖ QUÝ CÔNG TỰ VIÊN ĐỨC

Ông là con thứ hai cụ Viên Thông, bà là Hoàng Thị hiệu Từ Chí, sinh được ba người con. Mả ông ở cồn Quýt, tọa Càn, hướng Tốn, giỗ ngày mười tư tháng tám. Mả bà ở Lập Vệ, tọa Tân, hướng Ất, giỗ ngày hai tư tháng ba.

Con trai trưởng là Đỗ Túc Khang. Ông này thủa nhỏ rất chăm học ở nhà nhưng thi không đỗ. Ông buồn bã rồi ra Kinh Thành vào trường Quốc Tử học tập. Lúc ấy thường hay qua lại dinh của nàng Thị Lộ. Nhân thế mà việc nhân duyên thành công và cùng đem nhau về làng Hà Vĩ (Tức làng Quạy ngày nay), huyện Đông ngàn, ngoại thành Hà Nội. Đến niên hiệu Hồng Đức thứ hai mươi bảy, khoa Bính Thìn lấy quê vợ đi thi đỗ tiến sĩ thứ hai mươi hai.

Con trai thứ hai là Đỗ Viên Nghiện.

Con trai thứ ba là Đỗ Đại Uyên. Ông lúc nhỏ rất chăm học văn chương, phát triển có tiếng ở đất Kinh Thành. Nhân lấy bà Nguyễn Thị Trù, người làng Hương Mạc (Tức làng Me Cả ngày nay), huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Ông lấy quê vợ đi thi, đỗ tiến sĩ thứ mười bốn.

Hai anh em thi đỗ một khoa, trong Triều Đình rất quý trọng .

Lại nói đến bố là cụ Viên Đức lấy bà Nguyễn Thị Tình, người làng Ngoại Lãng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà đông sinh được ông Đỗ Lý Khiêm, đến niên hiệu Cảnh Thống năm thứ hai, khoa kỷ Mùi lấy quê mẹ đi thi, đỗ Thám Hoa. Sau lại sinh ra ông Đỗ Oanh, đến niên hiệu Quảng Hoà Thụy Khánh năm thứ tư, khoa Mậu Thìn thi đỗ tiến sĩ thứ bốn mươi, sau làm quan đến Thượng Thư.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI NGŨ ĐẠI TỔ

(Đời thứ năm thứ của chi trưởng)

NIÊN HIỆU CẢNH THỐNG NĂM THỨ BA SẮC PHONG PHỤ QUỐC TƯỚNG QUÂN, BẮC QUÂN ĐÔ ĐỐC CHÁNH QUÂN, THẦN VŨ DOANH VỆ, XUÂN QUANH HẦU, ĐỖ QUÝ CÔNG, TỰ VIÊN NGHIỆN.

Ông là con trai thứ hai cụ Viên Đức, bà là Phạm Thị Túc, sinh được năm người con. Mả ông ở Cổ Ngựa, giỗ ngày hai mươi tháng chín. Mả bà ở Gốc Đa, giỗ ngày mười sáu tháng ba.

Con trai trưởng là ông Đỗ Văn Miện. Ông lúc nhỏ là con nhà thế gia, ra Kinh Thành học tập, nhân lấy bà Lê Thị Hưng, người làng Hoàng Mai, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Đến niên hiệu Thụy Khánh năm đầu, khoa Ất Sửu lấy quê vợ đi thi, đỗ tiến sĩ thứ hai mươi hai.

Con trai thứ hai là ông Đỗ Duy Tố nối nghiệp.

Con trai thứ ba là ông Đỗ Văn Trù. Ông là con nhà quan, vốn tính lại kiêu, được ăn học. Nhân gặp bà Đồng Thị Nhu, người làng Yên Ninh (Tức làng Nếnh ngày nay),huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Đến niên hiệu Quang Thiệu năm thứ ba, khoa Canh Thìn lấy quê vợ đi thi, đỗ tiến sĩ thứ năm

Con gái thứ tư là bà Đỗ Thị Quyền.

Con gái thứ năm là bà Đỗ Thị Trang.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI LỤC ĐẠI TỔ

(Đời thứ sáu thứ của chi trưởng)

NIÊN HIỆU QUANG THIỆU NĂM THỨ SÁU SẮC PHONG TIẾN CÔNG THỨ LANG, THẦN SÁCH QUÂN HIỂN BẠ, TUỲ QUÂN PHÓ QUẢN, LĨNH DU SƠN BÁ, ĐỖ LỆNH THỤY, TỰ VIÊN TỐ

Ông là con trai thứ hai cụ Viên Nghiện, bà là Nguyễn Thị Lương, sinh được ba người con. Mả ông ở cồn Bói, giỗ ngày mồng mười tháng mười, mả bà ở cồn Trưng, Giỗ ngày mồng chín tháng Giêng.

Con trai trưởng là ông Đỗ Lệ Trạch. Ông này lúc ít tuổi văn chương rất giỏi, có tiếng là người lỗi lạc trong giang hồ. Nhân lấy bà Lê Thị Thuần, người làng Hữu Chấp, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đến niên hiệu Cảnh Lịch thứ ba, khoa Canh Tuất lấy quê vợ đi thi, đỗ tíen sĩ thứ mười bốn.

Con trai thứ hai là ông Đỗ Thiện Cơ nối nghiệp.

Con gái thứ ba là bà Đỗ Thị Bồng.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI THẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ bảy thứ của chi trưởng)

NIÊN HIỆU CHÍNH TRỊ NĂM THỨ TƯ SẮC PHONG TIẾN CÔNG THỨ LANG, THẦN VŨ QUÂN THAM QUÂN, ĐỊNH THÀNH BÁ, ĐỖ ĐỊNH CÔNG, TỰ THIỆN CƠ

Ông là con trai thứ hai cụ Duy Tố, bà là Lê Thị Trất, sinh được bốn người con. Mả ông ở Bái Nội, giỗ ngày 21 tháng 9 Âm lịch. Mả bà ở Đa Đôi giỗ ngày 23 tháng 5 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Cảnh. Ông lúc nhỏ theo cha ra kinh thành học tập, nhân lấy bà Hoàng Thị quê ở xã Hoằng Liệt (tức thôn Đại Từ ngày nay) thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông nội thành Hà Nội. Đến niên hiệu Chính Trị năm thứ tám ông lấy quê vợ đi thi, đỗ tiến sĩ thứ chín. Làm quan đến Thượng Thư tước phong Sầm Dương Bá.

Con trai thứ hai là Đỗ Quang Nghĩa. Ông này đem quân đi tuần, giữa đường không may bị chết.

Con trai thứ ba là Đỗ Duy Trang nối Nghiệp.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI BÁT ĐẠI TỔ

(Đời thứ tám thứ của chi trưởng)

NIÊN HIỆU HOẰNG ĐỊNH THỨ MƯỜI LĂM SẮC PHONH TIẾN CÔNG THỨ LANG, PHẤN DỰC QUÂN, ĐIỂN QUÂN, TUỲ QUÂN PHÓ QUẢN LĨNH TRUNG NGHĨA BÁ, ĐỖ LỆNH CÔNG, TỰ DUY TRANG

Ông là con trai thứ ba cụ Thiện Cơ, bà là Mai thị Minh, sinh được ba người con. Mả ông ở Đọi Đèn, giỗ ngày 2 tháng 5 Âm lịch. Giỗ bà ngày 11 tháng 6 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Quang Tiến nối nghiệp.

Con trai thứ hai là Đỗ Quang Thế.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI CỬU ĐẠI TỔ

(Đời thứ chín thứ của chi trưởng)

NIÊN HIỆU VĨNH TỘ NĂM THỨ TÁM SÁC PHONG MẬU LÂM TÁ LANG, BINH BỘ VIÊN NGOẠI, ĐỖ TƯỚNG CÔNG, HUÝ QUẦN, TỰ QUANG TIẾN

Ông là con trai trưởng cụ Duy Trang lấy bà Đỗ Thị Duyên. Ông này bị hỗn thú đã phải trừng phạt trước mặt họ trong thời bấy giờ.

Con trai thứ nhất là Đỗ Quang Luận nối nghiệp.

Con trai thứ hai là Đỗ Duy Luật.

Con trai thứ ba là Đỗ Duy Cẩm.

Con gái thứ tư là Đỗ Thị Dư.

Con gái thứ năm là Đỗ Thị Ư.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI THẬP ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười thứ của chi trưởng)

ĐỖ QUÝ CÔNG, TỰ QUANG LUẬN

Ông là con trai trưởng cụ Quang Tiến, bà là Mai thị Mỹ, sinh được bốn người con. Mả ông ở Đa Đôi, giỗ ngày 25 tháng 3 Âm lịch. Mả bà ở Đường Thẳng, giỗ ngày 6 tháng 9 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Duy Hám nối nghiệp.

Con trai thứ hai là Đỗ Viên Hoằng.

Con trai thứ ba là Đỗ Công Chấn tên huý là Công Lang. Ông này lúc nhỏ đương lúc rong chơi, vào ngày 10 tháng 8 khoảng niên hiệu Vĩnh Thịnh năm đầu thì bị bắt cóc. Đó là một người lái buôn, người thôn Đôn Thư, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông tên là Vũ Quốc Cẩm. Khi ông ta đỗ thuyền lên chợ thì thấy ông Công Lang họ ta, mới lên 5 tuổi mà mặt mũi khôi ngô. Vợ chồng ông Quốc Cẩm có bàn nhau rằng: "Đứa trẻ này ắt sau này làm nên hiển quý, chi bằng vợ chồng mình bắt quách hắn xuống dưới thuyền cho vui cảnh vợ chồng già. Rồi sau lớn cho ăn học để vợ chồng mình trông cậy lúc tuổi già". Bàn định xong xuôi Quốc Cẩm bèn bế Công Lang xuống thuyền. Vợ thì mua hết của ngon, vật lạ cho ông ăn. Ông đã được thưởng thức những món quà quý báu đó nên quên cả gia đình.

Khi lớn lên Quốc Cẩm cho ông ăn học. Ông rất thông minh nên đến niên hiệu Bảo Hoà, năm thứ năm, khoa Giáp Thìn ông đi thi và đã đỗ tiến sĩ thứ năm. Sau khi đỗ rồi ông có về lễ yết nhà thờ họ nhưng anh em họ không nhận. Ông buồn bực lại trở về thôn Đôn Thư lập nghiệp.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI THẬP NHẤT ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười một thứ của chi trưởng)

ĐỖ QUÝ CÔNG, TỰ DUY HÁM

Ông là con trai trưởng cụ Quang Luận, bà là Phạm Thị Liễu, sinh được ba người con. Mả ông ở cồn Liên, giỗ ngày 29 tháng Giêng Âm lịch. Mả bà ở Điếm Thí, giỗ ngày 23 tháng 11 Âm lịch.

_________________________________

THỨ TRƯỞNG CHI THẬP NHỊ ĐẠI TỔ

(Đời thứ mười hai thứ của chi trưởng)

ĐỖ QUÝ CÔNG, TỰ DUY TINH

Ông là con trai thứ hai cụ Duy Hám, bà là Thị Nhân, sinh được năm người con. Mả ông ở Lạc Ngà, giỗ ngày 1 tháng 8 Âm lịch, Mả bà cũng ở Lạc Ngà, giỗ ngày 19 tháng 7 Âm lịch.

Con trai trưởng là Đỗ Thiện Hội.

Con trai thứ hai là Đỗ Thiện Tăng.

Con trai thứ ba là Đỗ Huy Lạn.

*

*****************************


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn