Thứ bảy, 26/09/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay245
mod_vvisit_counterHôm trước1269
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Câu chuyện âm nhạc E-mail
18/12/2006

Trở lại câu chuyện Phát Diệm là tiền thân của nhạc đạo Việt Nam.

Nhà thờ đá Phát Diệm

Tôi không rõ nhạc đạo Pháp được du nhập vào Phát Diệm từ hồi nào. Có lẽ khi Phát Diệm được lập làm giáo-phận (1901), các cố Tây thuộc dòng Les Missions Étrangères de Paris theo Đức Cha Marcou Thành về phục vụ giáo-phận đã dạy người Phát Diệm hát nhạc đạo Pháp.

Theo ý tôi, bài hát Tây lời Việt đầu tiên được phổ biến tại Phát Diệm có lẽ là bài "Vân, Kiều thuở xưa, đôi xuân nữ thắm tươi như hoa" theo điệu bài hát lính tẩy "La Madelon" (rất thịnh hành bên Pháp và Âu-châu trong thời kỳ Đại-chiến thứ nhất). Tuy nhiên, ai đặt lời, và bài hát từ đâu tới, thực sự tới nay tôi vẫn chưa rõ nhưng chắc chắn là bài này ra đời trước tới gần hai chục năm những bài hát Tây lời Việt của Năm Châu và bà Ái Liên thường hát xen lẫn với vọng cổ trong các vở kịch cải lương có đề tài xã hội mới. Đã có một thời tôi rất mê nghe bà Ái Liên hát các vở cải lương loại này tại rạp ngõ hàng Bạc, Hà Nội. Có lẽ không phải mê tuồng mà là bà Ái Liên và những bài Tây lời Việt bà Ái Liên hát và diễn xuất mà theo ý riêng của tôi lúc đó rất là có duyên.

Vào thời xa xưa đó, ngoài một số rất ít người nổi tiếng như Nguyễn Khắc Cung, Duy Linh, Chung Quân v.v. Phát diệm còn có một số thuộc loại tài tử như ba anh em Lê Văn Giáp (accordéon), Lê Như Khôi (clarinette), Lê Hữu Mục (Saxo), Nguyễn Gia Huân (violon), Quang (Saxo), v.v. Về phương diện chơi nhạc, Phát Diệm có một nhân vật khá đặc biệt tôi tưởng cũng nên nói tới ở đây cho vui. Đó là anh Trần Văn Mẫn, bào huynh của linh-mục học giả chữ nôm Trần Văn Kiệm. Anh Mẫn thực ra chẳng chuyên một thứ đàn gì, nhưng về các loại đàn giây hầu như cái gì anh cũng thử "cò ke, kéo co" chút ít cho vui. Năm đó (1949), tôi, Đoàn Văn Cầu (tức cựu NS Cừu) và Đỗ Thế Phiệt nổi hứng cùng nhau tổ chức một cuộc trình diễn nhạc cổ-điển tại Phát Diệm, có thể nói là độc nhất vô nhị trong suốt mấy năm kháng chiến tại miền Bắc. Hưởng ứng tới tham dự với chúng tôi có Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Anh Thường (dương cầm), Lương Ngọc Châu, Nguyễn Văn Hướng (vĩ cầm), Nguyễn Quý Lãm (trung vĩ-cầm), Đỗ Anh Tuấn, Đỗ Đình Toại (flute), Đỗ Đình Thiều (clarinet), Nguyễn Văn Quỳ, Đỗ Thiếu Liệt (guitare) v.v. Chương-trình gồm có các bản hoà tấu như Marche militaire (Schubert), Marche Turque (tức Le Calife de Bagdad của Boeldieu), Le beau Danube bleu (J. Strauss), Les flots du Danube (Ivanovici) v.v. độc tấu hay đơn ca như Romance en Fa của Beethoven (Đỗ Anh Tuấn, độc tấu flute), Romance et boléro (Đỗ Thế Phiệt, độc-tấu vĩ cầm), Invitation à la danse (Nguyễn Văn Hiếu, độc tấu dương cầm), Sérénade, Come back to Sorento (lời Việt do Đoàn Minh đơn ca) v.v. Chúng tôi cũng không quên nhạc Việt Nam nên chương-trình có thêm một vài bản nhạc Việt rất thời trang lúc đó như Anh tới thăm em một chiều mưa của Tô Vũ, mới ra lò, do Đoàn Minh đơn ca (anh Minh là em của Đoàn Tòng, một giọng ca tài tử khá nổi tiếng tại Hà Nội trước 1945), Nhớ người thương binh (Phạm Duy, hợp ca, do một số anh chị em ca sĩ tài tử từ Thái Bình sang tham dự) v.v.

Năm 1969, tôi và Đoàn Văn Cầu có dịp gặp lại Lương Ngọc Châu tại Paris. Tôi còn nhớ nhà anh chị Châu ở banlieue, một căn nhà cổ, đơn sơ, có vườn rộng cạnh một con sông nhỏ, phía bên kia là khu rừng phong, về mùa thu cảnh thiệt là thơ mộng (lúc đó tôi mới được biết chị Châu, tức Phạm Thị Hoàn, là ái nữ cụ Phạm Quỳnh). Vì không có nhiều thì giờ, tôi chỉ được nghe Lương Ngọc Châu chơi một vài bài lặt vặt, nên tôi có cảm tưởng tài nghệ của anh thua sút những năm xưa rất nhiều.

Người mà trước kia tôi có dịp được nghe nhiều nhất là Đỗ Thế Phiệt. Phiệt tiến bộ rất mau là nhờ ông thày người Nga (vì lâu ngày nên tôi quên tên) lúc đó là nhạc trưởng đồng thời cũng là người chơi vĩ cầm của ban tứ cầm (Quatuor) chơi hằng đêm tại quán rượu Taverne Royal trong hành lang cao ốc Crédit foncier (góc đường Bờ Hồ và Tràng Tiền).

Tôi tình cờ gặp lại họ Đỗ tại hội chợ Núi Voi (Phượng-trì, Yên Mô) rồi từ đó cứ mỗi lần từ Thanh Hoá ra khu III Đỗ Thế Phiệt thường tới thăm tôi, có khi ở lại chơi cả tuần, thường khi rảnh rỗi chơi đàn cho cả gia đình tôi nghe. Theo như sự hiểu biết rất giới hạn của tôi, mặc dầu Đỗ Thế Phiệt rất trẻ, nhưng tiếng đàn của anh lúc đó đã khá điêu luyện, kỹ thuật cao, rất mực ngọt ngào, ấm áp, đầy tình cảm và nhất là như chứa đựng một cái gì thiệt là lãng mạn và trẻ trung. Đối với thời đó ở Việt Nam, (tức trước đây trên 50 năm), répertoire của Đỗ Thế Phiệt có thể nói là phong phú, vì gồm có cả những tác phẩm hiện đại, đặc biệt là những tác phẩm của vĩ cầm gia Kroestler, mà tôi nghĩ rằng anh đờn rất xuất sắc. Trong số những bản nhạc này, thiên hạ thích nhất bản Romance et Boléro, vì với bản nhạc này, anh vừa có thể thi thố được kỹ thuật điêu luyện, vừa có thể diễn tả được những tình cảm nồng ấm tràn trề trong bản nhạc.Từ ngày sang ở Hoa Kỳ, tôi cố tìm mua đĩa nhạc của bản độc tấu vĩ cầm Romance et Boléro của Kreisler nhưng tìm không đâu ra.

Hai bản La chanson triste và Chanson de Solvejg tuy đơn sơ, không cần phải sử dụng nhiều kỹ-thuật mà anh chơi cũng thiệt là hay, người nghe ai nấy đều xúc động, nhất là đối với những người mới biết nghe âm nhạc cổ điển. Chẳng hạn như Mẹ tôi, một bà cụ già Việt Nam, chẳng biết gì về nhạc cổ điển, thế mà cụ rất thích nghe Đỗ Thế Phiệt chơi bản Chanson de Solvejg (Edvard Grieg). Những người thích loại nhạc tả cảnh rất phục những bản độc tấu của họ Đỗ như Sur le marché persan, Danse macabre, Chanson de Solvejg và nhất là khúc Mùa Đông, một trong bốn phần của Les quatre Saisons (Vivaldi). Có thể nói tiếng đàn cũa Đỗ Thế Phiệt gắn liền với đoạn đời trai trẻ vô tư, lãng mạn, rất mực văn-nghệ của tôi cách đây trên nửa thế-kỷ. Năm 1970, anh đã vội vàng vĩnh viễn ra đi trong khi tôi vắng mặt Sài Gòn. Tôi rất ân hận là đã không được gặp lại anh trước đó. Về phương diện âm-nhạc cổ điển, đối với giới trẻ ở vùng kháng chiến (vào những năm cuối thập niên 40)) những Lương Ngọc Châu, Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Anh Thường v.v. quả là những thần tượng.

Theo thế kỷ 21- Sơn diệm Vũ ngọc ánh                                                                      (Còn tiếp)


 
< Trước
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn