Chủ nhật, 23/11/2014
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Lời hay ý đẹp
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay487
mod_vvisit_counterHôm trước930
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn từ đâu trong lịch sử và truyền thống văn hóa E-mail
16/02/2010

Tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn từ đâu trong lịch sử và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt ?

 Đầu xuân người Việt Nam thường đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm, đi lễ các đền phủ. Cùng với tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần, tín ngưỡng thờ Mẫu rất phổ biến, nhiều người gọi là Đạo thờ Mẫu. Tại các chùa ngoài chính điện thờ phật, bao giờ cũng có ban thờ Mẫu và thờ các thánh trong Đạo Mẫu. Tại các đền phủ thì thờ các thánh trong đạo Mẫu ở chính điện.  Đạo Mẫu về cơ bản có hệ thống, lớp lang như sau:

Ngọc Hoàng Thượng Đế là ngôi thánh cao nhất, tuy nhiên trong tâm thức dân gian Ngọc Hoàng có phần mờ nhạt, không được đề cao.Tam tòa Thánh Mẫu tượng trưng cho trời, đất và nước, Tứ phủ Công đồng thờ Mẫu thượng Thiên, Mẫu thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa.

Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ. Mẫu Thượng Thiên trong quan niệm của dân gian về Tứ Pháp gồm có: Pháp vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi, đó là 4 vị nữ thần tạo ra mây, mưa, sấm, chớp  liên quan tới văn hóa Nông nghiệp lúa nước. 

Những huyền thoại và huyền tích của Mẫu Thượng Thiên đều có liên quan đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất hiện muộn, theo các nhà nghiên cứu về văn hóa dân gian Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỷ XVI, thời Hậu Lê.

Bàn thờ Mẫu

Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu Hạnh còn có thể hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi, hay thành Địa Tiên thánh Mẫu- Mẹ Đất, cai quản mọi đất đai và đời sống sinh vật. trở thành vị Thần Chủ của Đạo Mẫu được thờ cúng nhiều nhất trong đạo Mẫu Việt Nam. Đền thờ Bà có ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất có đền Sòng ở Thanh Hóa và Phủ Giầy ở Nam Định.

Mẫu Thượng Ngàn cai quản Nhạc phủ: Mẫu trông coi các miền rừng núi, gắn bó với con người cùng cỏ, cây, chim, thú. Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở nhiều nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính  là Suối Mỡ (Bắc Giang - Hà Bắc) và Bắc Lệ ( Lạng Sơn).

Mẫu Thoải cai quản Thoải (thủy) phủ: Đó là vị thần trị vì vùng sông nước, nữ thủy thần gắn với đời sống thủy sinh của dân tộc Việt từ xa xưa, liên quan trực tiếp tới Thủy Tổ dân tộc Việt trong buổi đầu dựng nước.

Mẫu Địa cai quản Địa phủ, trông coi mọi đất đai và đời sống sinh vật.

Sau hàng Mẫu là Ngũ Vị Quan Lớn (hàng Quan), đuợc gọi tên từ Quan Đệ Nhất đến quan Đệ Ngũ và Tứ Vị Chầu Bà, được coi là hóa thân, phục vụ trực tiếp của Tứ Vị Thánh Mẫu. Tứ Vị Chầu Bà là đại diện cho Tứ Phủ.

Dưới hàng Chầu là hàng ông Hoàng, được gọi theo thứ tự từ ông Hoàng Đệ Nhất đến Hoàng Mười. Cũng như các Quan, Các ông Hoàng đều có gốc tích là con trai Long Thần Bát Hải Đại Vương ở hồ Động Đình. Ở hàng thấp nhất có Thập Nhị Vương Cô, Thập Nhị Vương Cậu.

Đạo Mẫu còn thờ Quan ngũ Hổ và Ông Lốt (Rắn): nơi thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía duới điện thờ Mẫu. Phía trên điện thờ chính, có hình tuợng đôi Bạch Xà vắt ngang. Trong quan niệm dân gian, Hổ là vị chúa cai quản vùng rừng núi, còn Rắn là thần ở nơi sông nước.

Có nhiều truyền thuyết dân gian kể về  thân thế của các Mẫu. Ngoài Mẫu Thượng Thiên có xuất thân tiên giới (theo truyền thuyết Mẫu Liễu Hạnh đã ba lần giáng sinh ở nước ta). Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải đều có nguồn gốc nhân thần. Mẫu Thượng Ngàn được coi là hiện thân của Mỵ Nương Quế Hoa con vua Hùng Định Vương hoặc là hiện thân của nàng La Bình con gái của Tản Viên Sơn Thánh và Công chúa Ngọc Hoa.

Còn Mẫu Thuỷ (Thoải) gắn với truyền thuyết Kinh Dương Vương đi tuần du, tới hồ Đông Đình ngài gặp người con gái sắc đẹp tuyệt trần, con vua Long Vương hồ Đông Đình. Kinh Dương Vương lấy nàng làm vợ, sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, Tổ tiên Lạc Việt, từ Rồng, từ Nước.

Có truyền thuyết lại nói Mẫu Thoải không phải là một bà mà là nhiều bà. Các bà đều là con của Lạc Long Quân, trong đó chọn được ba người, giao cho quản lĩnh sông biển nước Nam. Một bà có hiệu là Thuỷ Trinh Động đình Ngọc Nữ công chúa. Bà thứ hai có hiệu là Hoàng Hà Đan Khiết phu nhân. Bà thứ ba là Tam Giang công chúa. Tam Giang nay là ngã ba Sà Yên Phong Bắc Ninh.

Một truyền thuyết khác, do người pháp là Durant sưu tầm, kể rằng ở vùng Tuyên Quang, có một hoàng tử con vua Đất là Kinh Xuyên, lấy vợ là con gái Long Vương ở hồ Đông Đình, bà rất yêu chồng. Nhưng Kinh Xuyên lại lấy vợ hai tên là Thảo Mai. Thảo Mai ghen ghét vợ cả, vu cáo vợ cả không chung thủy với chồng. Bực tức, Kinh Xuyên đem bỏ vợ cả vào rừng. Ở trong rừng, bà vợ cả được muông thú mang hoa quả nuôi sống. Một hôm có một Nho sĩ đi qua, bà nhờ Nho sĩ viết thư gửi cho cha là Long Vương, bà được cứu thoát. Đề cao đạo đức của bà, người đời tôn bà là Mẫu Thoải (Mẹ Nước) lập đền thờ ở Tuyên Quang.         

Tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ rất lâu đời, nhưng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về đề tài này, nên chưa có sự thống nhất và hệ thống.

Trong khi tìm tài liệu làm viết bài này, chúng tôi tìm thấy trong  B¸ch ViÖt téc ph¶”, phả họ Nguyến ở Vân Nội, Thanh Oai, Hà Tây viết khá chi tiết về cội nguồn dân tộc Việt, trong đó có phần  liên quan đến tín ngưỡng dân gian người Việt, cùng sự tích Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ phủ Công đồng và ngũ vị Tôn Ông trong Đạo Mẫu Việt Nam, để góp thêm tư liệu vào đề tài này cũng xin trích dẫn ở đây: 

 mau_au_co
Tượng Mẫu Âu Cơ tại  Sùng  Quang Tự ở Bình  Đà, Hà Tây cũ

Kinh Dương Vương là hậu duệ của vua Thần Nông, húy Quảng (quốc sử viết Lộc Tục) tự Phúc Lộc. Sinh Lạc Long Quân, húy Khoản (quốc sử viết Sùng Lãm) tự Phúc Thọ, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, tên gọi là Mỹ (Chúa Trịnh Minh Khang Thái vương tặng tên đẹp là Căn Kỷ Công Chúa; Lê Từ đặt tên là ích Khánh Long, tôn Bồ Tát). Bà ở Động Lăng Xương. Bà xin Hương Vân Cái Bồ Tát ở tại Thanh Nguyên, huyện Sơn Du, Trường Sa châu, lại xin Mẫu Thượng ngàn (mẹ chồng) trồng dâu ở vùng Tiên Châu tại huyện Bất Bạt, Sơn Tây cũ.

Truyền kế cho đời vua đều sinh ra ở Bản Châu cho nên lấy châu này làm đất tổ 50 vị theo cha làm Thủy Thần, dưới dạng tái thế là Đức Ông và làm Thành Hoàng. 50 vị theo về đền thờ các Thánh Mẫu gọi là Sơn Thần thổ địa.

Long Quân tuổi cao về ở cùng các phi tần cung nữ lập trang ấp ở Bảo Đà (Thanh Oai) mất ở đây. Còn Âu Cơ thì an táng tại Đồng Láng, trại Bác Lãm, cải táng đặt trong chùa Tường Quang, Thượng Mạo.

Đời sau thờ 5 con trai của Kinh Dương Vương gọi là Ngũ vị Tôn Ông, tứ vị chầu bà.

Năm người con của Kinh Dương Vương tôn hiệu:

                        Nguyễn Nghiêm     =       Thần Gió

                        Nguyễn Quyền       =       Thần Mây

                        Nguyễn Bé            =       Thần Mưa

                        Nguyễn Khoản       =       Thần Sấm

                        Nguyễn Huề          =       Thần Chớp

Đạo Phật: Thờ ở Tam Bảo. Tượng Cửu Long: Tượng trưng cho thủy tổ cửu tộc và Hương Vân Cái Bồ Tát; trên cùng  là tượng tam thế, tượng trưng cho 8.000 La Hán, Nghĩa Lĩnh Tiên Na - Tiên Đào tượng trưng nơi an táng tám vạn bốn ngàn vương mẫu, đất Nghĩa Lĩnh.

toa_cuu_long

 Tòa tượng Cửu Long ở các chùa- Đứng giữa tòa Cửu Long là tượng Hương Vân cái Bồ Tát

Vua Kinh Dương Vương và 4 người con (gọi là Tứ phủ Công Đồng).

Thập diện Minh Vương và một số tượng khác gọi là thập bát Long Thần tượng trưng cho các vua Hùng.

Đạo Tiên chỉ khác về hình thức, còn cốt lõi thì đạo Tiên, Phật và đạo Nho thờ giống nhau chỉ khác vài chi tiết mà thôi.

Tứ phủ thần linh: Đế Minh, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Quốc Vương. Thứ tự:

+ Thiên phủ còn gọi là Đệ nhất: Cha mẹ Kinh Dương Vương.

+ Đệ nhị phủ: Kinh Dương Vương và vợ là Mẫu thượng ngàn (gọi là Nhạc phủ).

+ Đệ tam phủ: Lạc Long Quân và Âu Cơ ( còn gọi là Thủy phủ).

+ Đệ tứ phủ: Khâm sai Hùng Quốc Vương trở xuống (gọi là đệ tứ khâm sai).

Chỉ có con trưởng được thế cha. Danh sách sau đây là 50 con theo cha xuống cai quản ở vùng biển và đều có tên hiệu chung là Lang Vương, khác với tên hiệu chung của 50 con theo mẹ là Lang Quân. Một sự phân biệt rõ ràng và không biết là có ý nghĩa gì ? (ĐT)

 

01. Lân Lang Vương

02. Xích Lang Vương

03. Quỳnh Lang Vương

04. Mật Lang Vương

05. Thái Lang Vương

06. Vũ Lang Vương

07. Đổng Lang Vương

08. Yến Lang Vương

09. Tiêu Lang Vương

10. Diệu Lang Vương

11. Tĩnh Lang Vương

12. Vân Lang Vương

13. Tập Lang Vương

14. Ngô Lang Vương

15. Ba Lang Vương

16. Loại Lang Vương

17. Hộ Lang Vương

18. Chân Lang Vương

19. Cốc Lang Vương

20. Chiêm Lang Vương

21. Khương Lang Vương 

22. La Lang Vương

23. Tuân Lang Vương

24. Tán Lang Vương

25. Quyền Lang Vương

26. Dương Lang Vương

27. Kiều Lang Vương

28. An Lang Vương

29.
Ô Lang Vương

30. Tảo Lang Vương

31. Lục Lang Vương

32. Ưu Lang Vương

33. Nhiễu Lang Vương

34. Lý Lang Vương

35. Tiêm Lang Vương

36. Tương Lang Vương

37. Định Lang Vương

38. Sát Lang Vương

39. Hâm Lang Vương

40. Minh Lang Vương

41. Sái Lang Vương

42. Chiêu Lang Vương

43. Kết Lang Vương

44. Mặc Lang Vương

45. Trường Lang Vương

46. Khuynh Lang Vương

47. Tẩm Lang Vương

48. Chai Lang Vương

49. Chiêu Lang Vương

50. Ích Lang Vương

 

Dưới đây là 50 người theo mẹ lên núi được thờ làm Sơn thần (nghĩa là thờ cùng với điện Mẫu). Tất cả đều có tên hiệu chung là Lang Quân:

01.   Hương Lang Quân

02.   Kiếm Lang Quân

03.   Thận Lang Quân

04.   Văn Lang Quân

05.   Võ Lang Quân

06.   Lệnh Lang Quân

07.   Tịnh Lang Quân

08.   Hắc Lang Quân

09.   Quân Lang Quân

10.   Cao Lang Quân

11.   Tế Lang Quân

12.   Sảnh Lang Quân

13.   Mã Lang Quân

14.   Chiêu Lang Quân

15.   Khang Lang Quân

16.   Chỉnh Lang Quân

17.   Đào Lang Quân

18.   Nguyên Lang Quân

19.   Cẩm Lang Quân

20.   Xuyến Lang Quân

21.   Yêu Lang Quân

22.   Thiếp Lang Quân

23.   Bái Lang Quân

24.   Tài Lang Quân

25.   Giám Lang Quân

26.   Biện Lang Quân

27.   Chiều Lang Quân

28.   Quán Lang Quân

29.   Cánh Lang Quân

30.   Thái Lang Quân

31.   Lôi Lang Quân

32.   Tú Lang Quân

33.   Việt Lang Quân

34.   Vệ Lang Quân

35.   Mẫn Lang Quân

36.   Triệu Lang Quân

37.   Viên Lang Quân

38.   Lộ Lang Quân

39.   Quế Lang Quân 

0.   Diêm Lang Quân

41.   Nhĩ Lang Quân

42.   Huyền Lang Quân

43.   Tào Lang Quân

44.   Nguyệt Lang Quân

45.   Xum Lang Quân

46.   Long Lang Quân

47.   Mai Lang Quân

48.   Tuấn Lang Quân

49.   Linh Lang Quân

50.   Huệ Lang Quân

Từ lúc mở ra nhà Hùng đến hết thời Hùng Vương có một trăm vị thần núi, thần sông biển. Gọi là một bọc trăm con bởi không phải sinh cùng một lúc, mà sinh ra trong khoảng 2622 năm qua nhiều thế hệ. Như vậy trong Phả đã bảo cho ta biết nhà Hùng có một trăm ông vua qua 18 lần thay đổi vương triều nhưng vẫn thống nhất đất nước được tôn hiệu là Hùng Vương. Còn các vị khác không  phải là người giữ vai trò thống nhất đất nước cho nên chỉ gọi là Lang Vương, Lang Quân mà thôi.  Ngoài ra các vua đều được tôn làm Đức Ông bản thổ, thờ trong các chùa, đình, quán, miếu, gọi là Sơn thần, Thổ địa, Thành hoàng.  (hết trích * )

 me_con
 Tượng Hương Vân cái  Bồ Tát tại chùa Vân La ở Hà Đông.

Như vậy theo Phả trên các Mẫu và ngũ vị quan lớn đều là Tổ tiên người Việt, Phả có rõ ghi ngày mất và mộ phần các vị ở đâu. Cũng theo Phả trên Mẫu Thượng ngàn là Hương Vân Cái Bồ Tát. Bà có tên húy là Ngoan là vợ của Đế Minh, bị chồng bỏ bà mang con vào động Tiên phi (Hòa Bình) tu hành, dạy dân làm điều thiện, bỏ điều ác và nuôi con là Lộc Tục trưởng thành sau nối ngôi vua lấy hiệu Kinh Dương Vương. Đời sau tôn hiệu Bà là Hương Vân Cái Bồ Tát. Người Mường ở Hòa Bình gọi Bà là Sơn trại Chúa Mường. Bà được thờ ở Động Tiên phi và nhiều nơi khác.

Mẫu Thoải là Mẫu Âu Cơ, có tên húy là Mỹ. Bà là vợ Lạc Long Quân, con dâu Hương Vân Cái Bồ Tát. Bà là người hiền đức, kế nghiệp mẹ chồng  dạy dân chăn tằm dệt lụa. Đời chúa Trịnh tặng cho Bà họ Ngô và mỹ tự “Thục đức đoan trang công chúa”, thụy là Căn Kỷ Công chúa. Bà được thờ nhiều nơi. Ở chùa Sùng Quang Tự ở Bình Đà, Hà Tây có tượng thờ Bà và tượng thờ Lạc Long Quân.

Phả còn chép vợ Kinh Dương Vương là bà Xích hậu (hoàng hậu nước Xích Quỉ), có tên húy là Động Đình Tiên Nữ (Hồng ĐăngNgàn). Bà là con gái Động Đình Quân, được dân gian tôn làm Quốc mẫu- Ngọc Tỉnh Thần Nữ- nàng cả Đại Vương, còn gọi là Mẫu đệ nhị thượng ngàn, được thờ ở đền Tiên Cát, Việt Trì Phú Thọ.

Nếu đúng như vậy, dường như có một nguyên lý Mẹ trong văn hóa người Việt: “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại cái mang”, sông cái, đường cái, cột cái, ngón cái, trống cái, thúng cái. Gần đây có thêm các khái niệm Mẹ Tổ quốc, Mẹ Việt Nam anh hùng...Với ý thức sâu nặng nhớ về cội nguồn, cùng tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẹ thuần Việt đã trở thành Đạo thờ Mẫu thuần Việt. Đạo Mẫu ngoài các nghi lễ thờ cúng còn tích hợp nhiều giá trị văn hóa- nghệ thuật- diễn xướng dân gian đặc sắc, độc đáo và rất có giá trị trong nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, cần được gìn giữ.

Đỗ Quang

 (*)  trích trong sách "Suy nghĩ về những khoảng trống trong thời kỳ tiền sử nước ta" của PGS Đỗ Tòng.

 

 

 


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn