Thứ hai, 06/07/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay826
mod_vvisit_counterHôm trước1278
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Về vụ án Đỗ Thích dưới triều Đinh Tiên Hoàng (bài 3) E-mail
29/01/2007
  Tích sao sa vào miệng, Đỗ Thích thí Đinh Đinh,   thảm hoạ lớn của kinh thành Hoa Lư và đất nước

 Đền thờ Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư-Ninh Bình

Để giúp độc giả có thông tin nhiều chiều, chúng tôi trân trọng giới thiệu trích đoạn "Tích sao sa vào mồm, Đỗ Thích thí Đinh Đinh, thảm hoạ lớn của kinh thành Hoa Lư và đất nước" trong tập "Hoàn Vương ca tích" do Nguyễn Văn Cường biên dịch.

"Hoàn Vương ca tích" trong dân gian còn có các tên gọi "Sách Lê Vương", "Sách đời Lê Vương", "Sách thiêng đời Lê Vương", "Hoàn Vương tích sử"; bản gốc được truy tìm từ năm 1982 đến năm 1995 tại xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Liễu Đôi - Liêm Cần là nơi có mộ tổ phụ Lê Hoàn và là nơi có đền thờ tứ vị hoàng đế (Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lê Trung Tôn, Lê Ngoạ Triều) và tam vị đại vương (Minh Quang, Thiên Cang, Nhữ Hoàng đế).

Kể từ vận nghiệp lao linh (01)

Vầng trăng chia nửa ngậm vành còn non

Tràng An: mây nước cồn cồn

Mái lầu gió đẩy, nước dồn bạc văng.

Bây giờ lại đến sự rằng:

Có người lại muốn nuốt trăng giữa trời

Ấy là Đỗ Thích chả sai,

Đại Đê là chốn nào ai biết gì?  (02)

Theo Đinh từ thuở hàn vi

Khom lưng cõng chúa mới Tri nội hầu (03)

Tiếng thơm danh giá lầu lầu,

Chiêm bao lại thấy sự đâu thế này:

Tinh sa vào miệng mới hay (04)

Bồn chồn đợi đến sáng ngày hỏi han.

Đinh triều đang lúc cậy chen (05)

Vội vàng lấy mộng kẻ hèn làm mưu

Xảo hung, bội phụ trăm chiều (06),

Trung quân giữ bậc, ngoại triều ra tay (07),

Nó mà hành quyết cho ngay

Ấu chúa cũng chẳng qua tay kẻ phàm!

Rồi ra đường rộng thênh thang

Còn như Dương Hậu thê loàn tính chi? (08)

Bây giờ ta kíp ra uy

Lập nghiêm tẩy đục muôn vì nhà Đinh (09).

Trước mài dao đúng cổng thành,

Sau thời uy lập ở trong cung đình.

Ấy nên quỷ kế mọc hình:

Rỉ tai họ Đỗ tội tình lắm thay:

- "Mộng nào cho sánh mộng này?

Nước non biến cải xưa nay đã nhiều.

Ngẫm xem cơ trứ vương triều (10),

Trời tin ai, ấy nên điều đế vương,

Mộng người lại ngậm sao băng,

Dẫu cho trời đổ cũng bằng đế vương,

Liệu mà tính nước xem đường,

Đinh vương nghiêng ngả, mối dường vỡ to!

Vận thiên chớ có để ngơ,

Dắt dao tay áo chờ cơ lập thành!"

Lâm cùng tác độc ra nanh (11)

Những lời độc địa đổ thành loạn nhân

Lời phàm sai khiến bỉ nhân (12)

Càng nóng cơn đục, càng tin mối lường (13)

Một mình trăm mối vấn vương

Đêm ngày tức tối, canh trường đầy vơi,

Vận trời thời đã đến nơi,

Mà sao ta vẫn ở ngôi Nội hầu? (14)

Trời cao đất rộng là đâu,

Mà sao hạ giới lắm màu đảo điên?

Kíp thì sắp sửa cho liền,

Giắt dao, nhật dạ, thủ hiềm chờ cơ! (15)

Canh ba đêm mỏng như tờ

Cha con Đinh Đế bấy giờ hồn hoa (16),

Phủ cung chểnh mảng vào ra,

Đêm thanh lạnh ngắt, canh gà chưa sang.

Trăng treo gác phượng bàng hoàng,

Muôn khuông hùm ngủ, ao vàng cá bơi.

Đỗ Thích ngửa mặt trông trời,

Nghĩ rằng vận nước sao rơi mà mừng!

Bỗng đâu tin giật sau lưng (17),

Đặt tay đã thấy gươm vàng người trao,

Nửa lòng mê tỉnh lao đao

Độc ngôn khi ấy nói vào tận tai (18):

- "Kíp chày việc đến một mai,

Sợ chi bốn ngả trong ngoài bảo vương? (19)

Thật là thuận gió xuôi đường,

Cơ trời đã đến coi thường lẽ nao?

Trời khuya vắng vẻ, tẻ sao

Vội vàng mới lẻn ngay vào hậu cung,

Chân đi lén lút lạ lùng,

Mờ mờ đã thấy trong cùng rồng say (20),

Lấy gươm tay áo ra ngay,

Hồn hoa phu tử lên mây tức thì

Máu đào lênh láng một khi,

Đỗ càng trông ngóng, nào thì có ai? (21)

Hay đâu khắp chốn cung đài,

Ran ran tiếng động, lời lời quát hô,

Đuốc đèn bật lửa đuôi cờ (22)

Người hô, kẻ thét, bấy giờ ầm vang.

Hậu cung lửa đỏ chạy hàng,

Ai ai thì cũng bàng hoàng rẽ run,

Chạy vào mới biết bất thường,

Cha con đẫm máu, mối giường ra sao?

Hoàn Công vội mở phòng đào,

Rước ngay ấu chúa cho vào hậu cung (23),

Cắt người phụ chúa, canh rồng,

Trong ngoài niêm nặc, quyết lòng bảo ngai (24),

Minh Hầu trấn trị bảo đài,

Thiên Cang Mỵ chúa giáo dài hai bên (25),

Lại truyền: nến sáp đuốc đèn

Võ công vòng toả lấy rèn nội phong (26),

Chư thần bội giả nhà Đinh (27),

Lỡ cơ lại sợ rõ hình quỷ ma,

Cho hay mưu cả, mẹo già,

Thiếu minh vương, ắt chẳng là đại danh (28),

Cùng thời ngao ngác chạy quanh (29),

Thôi còn đâu nữa cơ mành nhà Đinh?

Hùm thiêng bốn ngả canh rình

Lưỡi gươm đâu lại tác hình là sao?

Bấy giờ có một người nào

Tâu rằng: Đỗ Thích máu dào đầy tay,

Quỷ âm vừa mới qua đây (30),

Bấy giờ bốn ngả đông tây giáo đèn

Trống đồng bồng lửa cả đêm

Chiêng khua, lệnh thét gươm vàng tuốt ra,

Nội phủ vây kín lối ra

Ngoại phủ con gà cũng chẳng lọt nao,

Tướng công ruổi ngựa ra vào,

Y quan thứ bậc chỗ nào đứng im! (31)

Một hồi lục soát tra tìm,

Há rằng phản nghịch cánh chim lên trời (32).

Xông xênh vừa mới sang trời,

Khói mờ mặt nguyệt, sương rơi đầu cành,

Tàn rơi, lửa đỏ chân thành,

Cũi hùm ngáp vặt, sân rồng ngựa khua,

Nào đâu nói sự đón đưa

Mặt rồng lồ lộ vẫn chưa phủ tờ (33),

Đĩa đèn đỏ - khói âm u,

Long cung rồng toả - bấy giờ tan hoang

Máu me be miệng sập vàng,

Áo bào tơi tả, mãng quan dặt dờ.

Nghĩ rằng Đinh Đế nằm mơ,

Ai ngờ một phút cơ đồ lở tan

Bây giờ máu đỏ ngai vàng,

Giang hà, nhật dạ, ra đàng nào đây?

Đã nên cơ sự dường này,

Gốc kia chưa vững - hồn kia đã lìa.

Dương Hậu nước mắt đầm đìa,

Hoa kia sương đậu, nguyệt kia mưa nhoà.

Ôm lòng Thiếu Đế bấy giờ

Ai hay số kiếp - Ai ngờ vận thiên!

Truyền rằng: "Giết kẻ đảo điên

Công nào của ấy, ta đền công cho!"

Lại phen cung phủ mịt mờ

Miếng chung đỉnh để nhấp nhô cõi lòng!

Kẻ thì kiếm tuốt ngang hông,

Sẵn tay đốt lửa, sẵn lòng vung đao,

Người rầm rập, kẻ ra vào

Bồn chồn gươm nách, lung lao nét mày,

Chém bừa chém bãi ghê thay!

Sang canh, cho đến cách ngày, tính ra:

Mấy trăm cổ máu đổ cà,

Hổ no ngửi thịt, chó đà ngấy xương!

Bặc, Điền hùng hổ ai nhường (34),

Lưu Cơ thời lại cậy cường ra tay (35),

Hoàn Công đau đớn lắm thay:

Bưng mặt khóc chúa, khinh bầy tiểu nhân.

Nội cung, phủ chúa ầm ầm

Loạn long trời đất ai cần cho đây?

Nha công có đứa ác thay,

Tự đêm đã chém trăm tay binh tài,

Chém rồi đội thủ ra ngoài,

Sáng ngày chọn lấy đầu loài quỷ vương! (36)

Thấy cái sọ lợp mái sương

Mặt cầy, râu hổ vội trương ra ngoài,

Phán rằng: "Đỗ Thích chẳng sai"

Vội vàng vào phủ cung đài tâng công,

Nộp lên đến trước bệ rồng,

Tâu rằng: Tôi đã tìm đông, tìm đoài,

Bắt được Đỗ Thích chả sai

Một phen dâng thủ yết bài lập công

Dương Hậu chưa rõ sự lòng:

"Dễ tài Đỗ Thích ra vòng ngoài thiên!"

Hoàn Công thấy sự đảo điên,

Vung gươm chem. đứa hản tiền đứt đôi.

Ồn ào lại ở mái ngoài

Có người quận phủ xứ Đoài vào tâu (37):

"Vó ngựa Đỗ Thích tới đâu,

Tôi đều tru diệt làu làu như không!

Sợ mà sót lọt khỏi vòng,

Ra tay tung lưới chụp lồng toả kiên (38),

Ao lửa đỏ cỏ đồng điền,

Ngàn quân canh giữ, trăm miền cẩn phong

May cơn phong hoả toả lòng

Vẫn còn tang vật toại lòng lắm thay!

Xin cho tướng phủ được tày,

Mãng quan Đỗ Thích còn đây đệ trình (39),

Hoả phong liền mất ngũ công (40),

Xin tạm lấy lòng dâng phục triều vương!"

Đương cơn tai biến lo lường

Hoàn Công rõ mặt bao phường bất nhân,

Truyền cho ngựa xé tặc thần,

Quay vào đã thấy ầm ầm báo lên:

"Trăm miền binh lửa nối liền

Tràn qua nội nhục, tràn lên non ngàn (41),

Thuận đường đánh tới Tràng An,

Lệnh khua nửa buổi, đuốc tàn nửa đêm.

Truy phong, mã ruổi tựa tên,

Cửa thành chuông đáp vang rền cấp nguy,

Việc này kíp liệu tức thì,

Sai dăm đạo tướng trấn vi bên ngoài".

Kể ra chưa hết sự tai

Vận thiên thân tại, tâm vong đã nhiều (42).

Người ta ra thế bọt bèo,

Gặp đâu chém. đấy, vận triều mà kinh,

Làm ra trăm sự bất bình

Thánh nhân quân tử ra hình mỏng mong (43),

Lại còn Ngũ Sở đàng trong (44),

Khôn ngoan cho lắm ra lòng bạo tham

Lầu son gác tía chan chan

Giấc mơ vương giả nổi gan lão tà (45),

Thân phụ chính thực nhu hoà (46),

Tội thân tuổi tác nghĩ mà sởn gai.

Trời phú lão phụ đôi tai,

Giống y như tướng của loài sát vương (47).

Có người quan võ thưa lên

Làm quà - câu chuyện mà nên oán dày,

Đùng đùng Ngũ Sở ra tay,

Cắt ngay tai phụ, lạt nay xâu vào,

Lão thần vái lạy tế sao (48).

Một tai lão phụ máu đào tong tong,

Nghịch thiên động vạn cõi lòng,

Ngũ Sở dịu lòng để đến canh ba (49),

Nửa đêm rung vía một nhà (50),

Vôi vàng leo đến tít đà cây cau,

Ngũ Sở tìm suốt giờ lâu:

"Giá như thí sát cắt đầu cho xong? (51)"

Kíp chày phải đến bệ rồng

Hồng lâu vương giả dễ lồng cho ra! (52)

Xót thay lão phụ tuổi già,

Mơ màng giấc ngủ rơi đà cây cao,

Ngũ Sở mừng xiết là bao,

Cắt nốt tai phụ xâu vào một xiên

Tức thời gióng mã lên yên

Sáng ra thời đã chực bên bệ rồng

Lệnh trình Vương Hậu vừa xong (53),

Hoàn Công trông thấy động lòng xót thương

Cuồng tâm dâm mộng đế vương (54),

Nhã lòng phụ quốc, nhiễu nhương dân tình (55),

Cầm tai lão phụ lệ ròng

Dập đầu nghịch tử cho lòng thoả căm

Rặt loài yến tước, rêu rong (56),

Vạ lây nên nỗi cháy thành, bại cương (57).

Ngẫm cho sự nước mà thương

Thơ ngây tấm bé biết đương thế nào? (58)

Trăm hùm ngàn sói xâu vào,

Mành tơ, cơn gió - cánh đào, trận mưa (59),

Lại truyện đến nội hầu kia (60),

Ba ngày nằm máng, đêm khuya ngóng trời

Nghĩ người càng oán cho người

Chiêm bao thấy những máu tươi ròng ròng

Mở mắt lại thấy nguyệt trong

Nào đâu có thấy sao bong ra ngoài?

Tức gan chép miệng thở dài,

Bê trơi U Lệ biết ai là người? (61)

Cả gan giơ đuốc đốt trời,

Tàn rơi cháy áo, hỡi ơi thế này!

Nghe người nên nỗi nhỡ tay,

Tưởng trăm năm được một ngày hiển vinh!

Ngẫm đi ngẫm lại một mình,

Trời cao sao nỡ trớ trình lắm thay? (62)

Cũng là vận nghiệp chi đây,

Trăm gươm, ngàn giáo lên ngay chọc trời (63).

Mải nhìn sao rụng, sao rơi,

Bồn chồn gan ruột, tả tơi mái sầu

Bụng thèm, miệng khát rầu rầu,

Vừa chưng bạch nhật, mưa đâu kéo về...

Ngoài trời mưa kéo dề dề

Trong máng nhịn khát não nề lắm thay!

Nghĩ thôi, mới giơ bàn tay

Hứng mưa, mấy giọt cho ngay vào mồm.

Ngờ đâu chiêng lệnh om xòm

Nguyễn Bặc trông thấy tay còm quỷ vương.

Gươm xô, giáo dậy thét dường:

Bắt ngay Đỗ Thích trình đương sân rồng (64).

Lại còn xé áo gang mồm

Bịt cho tung tích mối giường chả ra.

Ác thay một lũ hung tà,

Chỉ vì nhẹ dạ nên ba, bảy sầu.

Truyền cho trảm quyết mau mau,

Cho hồn họ Đỗ biết đâu là tà (65).

Mưu vương mới giở đao ra

Đỗ Thích ngơ ngác: phải là hình dong? (66)

Đại hình nhát chém chưa xong

Đỗ còn lên ngựa, xô rồng, dạt mây,

Ầm ầm vó đuổi tên bay

Giật dây cương mới hướng ngay Phượng Cầu (67),

Này chưng vương đế để đâu

Ngửa mặt trông đến trời sâu chín tầng

Đầu còn cắt dở, máu đầm,

Rơi ngay xuống ngực chẳng nhằm rơi đâu,

Vội vàng lắp lại cho mau,

Dưới dồn chân ngựa, trên đầu ngưỡng thiên,

Đầu lăn xuống ngực liền liền,

Vận sa, nước bĩ, ngẫm thiên trên đầu (68),

Nghe chừng im ắng phía sau,

Đỗ Thích xuống ngựa đến đầu quán kia,

Y quan tả tượi dầm dề

Hỏi ra mới biết đây là trại Chem (69),

Vòng trời mây nước đánh phèn,

Nóc cao xanh ngắt, hồ vàng mặt gương (70).

Chỉ rằng đường ấy Xứ Vương (71),

Nhân Hoà đắc địa, Dương Quang xứ này (72).

Hỏi người ngồi quán có hay:

"Như cái cổ này người thử xem xem,

Vận trời còn để sang hèn,

Cưỡi rồng hay thắp ngọn đèn tò te? (73)"

Quán rằng: Như tướng ông kia,

Có leo cho lắm cũng thì cỏ may,

Bằng như hạ giới thế này,

Miếng trầu dập bã, hồn bay tức thì.

Đỗ Thích đứng dậy kíp đi,

Chưa đầy nửa dặm, hồn chia thân tàn.

Lạ thay tiền chướng nghiệp oan,

Tóc tai dựng ngược, mắt loàn trâng trâng,

Cũng là tham thực nhi vong,

Dục danh, tranh vị, vào vòng lao đao (74)..

Ghi chú:     

01- Lao linh: Lao đao, nghiêng ngả.

02- Đại Đê: Tức làng Khớm, xã Thanh Bình (Thanh Liêm ngày nay), làng này thờ Đỗ Thích làm Thành hoàng.

03- Đỗ Thích có công cõng Bộ Lĩnh qua hiểm hoạ (với nhiều công lao lớn nữa) nên được phong tước Tri Nội hầu.

04- Tinh sa: Đỗ Thích mộng thấy sao rơi vào miệng.

05- Cậy chen: Cậy mạnh chen lấn, giành giật chức tước, quyền vị.

06- Xảo hung, bội phụ: Gian giảo, hung ác, bội bạc

07- Chốn triều trung văn võ ra vào vẫn giữ đúng phép tắc, thứ bậc, nhưng ra khỏi triều thì vẫn âm mưu xếp đặt hành động phản loạn.

08-Thê loàn: Người vợ dâm loạn, ngoại tình, bản nôm chép: "Thê loàn một khi".

09- Lập nghêm tẩy dục: Thiết quân luật, dọn sạch (giết) mọi thứ dơ bẩn. Môn vị: Cửa ngõ, cột kèo.

10- Cơ trứ: Tình hình, hiện trạng.

11- Lâm cùng: Nơi sơn lâm cùng cốc, ý là bọn này như ma quỷ từ trong chốn sơ lâm cùng cốc phun nọc độc vào Đỗ Thích, biến Đỗ Thích thành quỷ dữ.

12- Bỉ nhân: Loại người thấp hèn, xấu xa.

13- Dục vọng được thổi bùng lên, càng tin lời phỉnh nịnh.

14- Đỗ Thích tin lời phỉnh nịnh rồi nghĩ ngợi tức tối vì mình chỉ mới ở cái chức Tri Nội hầu thấp quá, bé quá.

15- Giắt dao trong mình, ngày đêm giữ mối hiềm khích, chờ cơ hội ra tay.

16- Bấy giờ hồn hoa: Lúc ấy đang ngủ, hồn phách còn phiêu diêu mộng mị.

17- Tin giật sau lưng: Có ai đó ra hiệu (ví như vỗ nhẹ, đặt tay vào ai...)

18- Độc ngôn: Là lời nói ác độc, lời xúi giục của quân phản loạn.

19- Đừng có sợ quân cẩn vệ canh phòng vì có bố trí cả rồi!

20- Rồng say: Ý nói nhà vua đang ngủ say.

21- Đỗ Thích trông ngóng những người đã hứa tiếp tay cho mình, nhưng lúc này chẳng có ai cả.

22- Đuốc đèn bật lên cháy to và liềm đến đuôi của các lá cờ.

23- Ấu chúa: Tức Đinh Tuệ, con Đinh Tiên Hoàng.

24- Niêm nặc: Bịt chặt, khoá chặt. Bảo ngai: Giữ vững ngai vàng.

25- Mỵ chúa: Có lẽ là Nhữ Nương, một nữ tướng cùng Lê Hoàn giúp Bộ Lĩnh.

26- Các võ sĩ võ công vây bọc phòng vệ ở ngoài rèm

27- Bội giả: Là kẻ phản bội (đối với sự nghiệp nhà Đinh)

28- Thiếu minh chủ thì mọi sự đổ nát hết.

29- Ngao ngác: Ngơ ngác.

30- Quỷ âm: Quỷ từ âm phủ lên, ám chỉ Đỗ Thích.

31- Cả câu: Các quan chức áo mũ chỉnh tề, theo thứ tự đứng đâu thì đứng yên chỗ ấy, không được dị chuyển.

32- Ý là tên phản nghịch (Đỗ Thích) như có cánh đã cao chạy xa bay.

33- Chưa phủ tờ: Chưa có vải hoặc giấy che mặt. Bản nôm chép: ngoi nhung nằm đó vẫn chưa phủ tờ.

34- Bặc, Điền: Nguyễn Bặc, Đinh Điền.

35- Lưu Cơ: Cũng là tướng của nhà Đinh.

36- Chém rồi tập trung đầu vào một chỗ, đợi đến sáng trời mới đem ra chọn lấy đầu Đỗ Thích.

37- Quận phủ xứ Bài: Là một viên quan ở một đơn vị cấp phủ, huyện nào đó ở xứ Bài.

38- Toả kiên: Là phong toả, bao vây chặt chẽ.

39- Mãng quan: Đai, mũ

40- Ngũ Công: Những quả bằng sợi màu trang trí (có khi biểu hiện chức vụ) trên mũ.

41- Nội mục, non ngàn: Các nơi đồng ruộng và nơi núi rừng.

42- Thân tại, tâm vong: Còn thân xác mà không có lòng dạ nữa! Ý nói lòng dạ đã đổi thay.

43- Trong cơn biến loạn thì người tài giỏi và người tử tế, sinh mạng đều không có gì chắc chắn cả.

44- Ngũ Sở Đàng Trong: Chưa rõ Ngũ Sở là tên người hay tên chức tước? Cũng chưa rõ đàng trong là ở vùng nào?

45- Lão tà: Kẻ gian ác đã già đời.

46- Cha của Ngũ Sở là người ngay thẳng, hiền hoà.

47- Loài sát vương: Là loại giết vua (chỉ Đỗ Thích).

48- Vái lạy như tế sao: (ông già này sợ quá nên lạy con giai là Ngũ Sở)

49- Bản Nôm chép: Ngũ Sở Cần lòng

50- Rụng vía: Ý là sợ khiếp vía (mất vía).

51- Thí sát: Giết bỏ đi cho xong.

52- Dễ lồng: Dễ mà giãy cho ra khi mà chạy đâu cho thoát.

53- Vừa được lệnh vào trình Vương Hậu.

54- Lòng cuồng si: dám mơ ước đến cả ngôi đế vương

55- Nhã long phụ quốc: Ý là...

56- Yến tước: Chim sẻ, chim én... nói chung là các loài chim nhỏ

57- Bại cương: Sụp đổ cương thường đạo lý.

58- Nói về vua nhỏ Đinh Tuệ đảm đương việc nước sao nổi đây?

59- Cả câu này nói về Ấu Đế và Dương Huệ, cả hai đều yếu đuối trước biến cố lịch sử.

60- Nội hầu: Chỉ Đỗ Thích.

61- U Lệ: Là U Vương và Lệ Vương thời nhà Chu ở Trung Quốc, hai đời vua này đều là vua tối tăm.

62- Trớ trình: Trớ true.

63- Ý hai câu: Mưu vương (kẻ chủ mưu mà Đỗ Thích biết) vừa rút gươm ra để chém. Đỗ Thích, làm Đỗ Thích ngơ ngác: Ồ lại là kẻ này à?

64- Cả hai câu trên và dưới: Chém ngay không cho nói năng gì hết, thế là chỉ có hồn Đỗ Thích mới biết những ai là kẻ gian tà thôi, còn mọi người sẽ không ai hay biết gì cả.

65- Phượng Cầu: Tổng Phượng Cầu thuộc huyện Thanh liêm, vùng quê Đỗ Thích.

66- Vận sa nước bỉ: Vận hạn rơi vào cơn đen. Ngắm thiên trên đầu: Ngẫm nghĩ ra là tại ông Trời trên đầu cả!

67- Trại Chem: tức làng Chem, nay thuộc xã Thanh Bình, nơi có đền thờ Đỗ Thích. Tên cũ là làng Khớm hoặc Đại Đê.

68- Ý câu trên và câu này: Trời đất này nước trong vắt như được đánh phèn. Nóc chỗ vòm trời cao xanh ngắt. Mặt hồ phẳng lặng sáng như gương vàng.

70- Đường Xứ Vương: Trong khu vực quân doanh của Lê Hoàn hồi mới khở binh.

71-. Dương Quang: tức Dương Quang, Tự nơi Minh Quang sinh trưởng. Hai nơi này gần đất trại Chem.

72- Thắp ngọn đèn tò te. Ý là chết, một ngọn đèn leo lét trên đầu kèn già nam thổi tò te.

73- Tham thực nhị vong: Tham ăn mà mất hết.

74- Ham danh, tranh giành địa vị mà rơi vào vòng khốn đốn.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn