Thứ tư, 20/01/2021
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay906
mod_vvisit_counterHôm trước773
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Một chuyến đi tìm di tích. E-mail
26/05/2010

Một chuyến đi tìm di tích.

Một ngày trung tuần tháng 5-2010, Thầy giáo Đỗ Văn Xuyền từ Thành phố Việt Trì điện xuống, hẹn ngày cùng chúng tôi đi thăm một di tích thờ cụ Đỗ Năng Tế. Cụ là thầy dạy của Hai Bà Trưng và là một công thần có công lớn giúp Hai Bà khởi nghĩa mùa xuân năm 40, giành độc lập cho dân tộc. Tham gia đoàn hôm đó ngoài anh Hùng, một nhà báo trẻ, rất ham tìm hiểu lịch sử, mấy anh em còn lại đều đã công tác trong ngành giáo dục, nên có thể coi đây là  chuyến hành hương của các nhà giáo tìm hiểu lịch sử ngành mình. 

Lúc khởi hành, thầy Xuyền cho biết, thầy mới chỉ nghe nói đình thờ cụ Đỗ Năng Tế ở Mỹ Giang, xã Tam Hợp, huyện Phúc Thọ và đề nghị tôi dẫn đường.  Tôi biết Phúc thọ không có xã Tam Hợp, vả lại có tài liệu chép đình thờ ngài tại thôn Mỹ Giang, xã Tam-hiệp, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Sợ có sự nhầm lẫn tôi liền gọi điện hỏi thầy giáo Đỗ Ngọc Lân, quê Phúc Thọ. Thầy Lân cho biết, đúng là trước kia Mỹ Giang thuộc về Quốc Oai, nhưng nay thuộc xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ và chỉ đường cho chúng tôi cặn kẽ. Vào đến Mỹ Giang hỏi thăm, may quá gặp ông Nguyễn Văn Hợi biết rõ về di tích. Chúng tôi mời ông Hợi lên xe cùng đi, vào đến đình Mỹ Giang ông Hợi lại bươn bả đi tìm người thủ nhang đình Mỹ Giang và ông Nguyễn Đức Hiền, nguyên trưởng ban di tích Xã Tam Hiệp.

mieudonang_te 
 Ban di tích xã Tam  Hiệp cùng các thành viên trong đoàn trước miếu thờ cụ Đỗ Năng  Tế

Sau khi dâng hương lễ Thánh, thầy Hoàng Kim Chung (nguyên chánh văn phòng UBND Thành phố) giới thiệu mục đích chuyến đi của chúng tôi, muốn tìm hiểu về thân thế sự nghiệp và vai trò của người thầy  dạy Hai Bà Trưng trong cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40. Tôn vinh một di tích lịch sử giáo dục của Thủ đô trong dịp kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long Hà Nội. Thầy Đỗ Văn Xuyền giới thiệu vắn tắt kết quả nghiên cứu của Thầy về giáo dục thời đại Hùng Vương và chữ Việt cổ. Thầy tặng ban di tích bản đồ vị trí của hơn 20 di tích thờ các thầy cô giáo và học trò  thời Hùng Vương, cùng hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được viết bằng chữ Khoa Đẩu và giải thích rằng, đây là thứ chữ 2.000 năm trước dân ta vẫn dùng.  

dinh_my_giang 
 Đình Mỹ Giang nơi thờ Thần Thành hoàng Đỗ Năng Tế

Ông Hiền mang ra cuốn ngọc phả “Phụ quốc Đại thần Đỗ Tế Công phu phụ Ngọc phả” đã dịch ra Quốc ngữ. Ngọc phả ghi lại chi tiết thân thế và sự nghiệp của Phụ quốc Đại thần Đỗ Năng Tế (Tế Công) và phu nhân Tạ Cẩn Nương và những ghi chép về cuộc khởi nghĩa cảu Hai Bà Trưng.

Theo Ngọc phả, vào thời Hán thuộc có ông Đỗ Năng là nhà hào phú, làm chủ trưởng ở đất Sơn Nam, phủ Khoái Châu, huyện Đông An, xã Đông Cao. Ông lấy vợ người họ Trần sinh được một người con trai là Đỗ Năng Tào. Trần nương mất sớm, lại bị kẻ gian hãm hại, mất cả cơ nghiệp, Ông uất ức gửi con cho cô ruột nuôi, rồi theo thầy họ Hòe học nghề thuốc, chẳng bao lâu trở thành thầy thuốc giỏi. Do có công cứu mạng một hào trưởng họ Nguyễn ở Khánh Hợp, nên được họ Nguyễn gả con gái cho. Vì hiếm muộn ông bà đến cầu tự ở chùa Thiên Thai, sau trăm ngày sinh được một con trai. Cậu bé mặt mũi khôi ngô kỳ lạ, năm tuổi đã nghe hiểu âm luật, được cha mẹ rất mực yêu thương đặt tên là Tế. Năm tám tuổi Đỗ Năng Tế được cha mẹ cho theo học thầy giáo họ Tạ. Tạ tiên sinh thấy Tế Công khí chất anh hùng, phong tư tuấn vĩ nên rất cảm mến. Ông lại có một con gái là Cẩn Nương, cũng là một nữ lưu tài sắc vẹn toàn, thật là một đôi trời định. Năm Tế Công mười sáu tuổi, Cẩn Nương mười lăm tuổi, Tạ tiên sinh đứng ra tác hợp cho hai người. Cả hai đều văn võ song toàn và giỏi y thuật, đức lượng như núi nên dân chúng các nơi đều nể phục mà theo về.

Bấy giờ Lạc tướng Phong Châu (Thành cổ Phong Châu, theo An Nam chí chép : Ở phía tây bắc phủ Giao Chỉ, tức đất Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ đời Hán), dòng dõi Hùng Định Vương và phu nhân là Man Thiện, ngầm nuôi chí lớn đánh đuổi giặc Hán, khôi phục nhà Hùng, nhưng tuổi đã cao,  nên quyết tìm thầy giỏi trong thiên hạ để dạy công tử và nhị vị công nương là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Nghe danh vợ chồng Tế Công là bậc anh hùng uy trấn bốn phương, Lạc tướng cho phu nhân là Man Thiện thân chinh đến mời, và phong ngay cho Tế công chức Tiết cấp Trưởng Nội Các binh sự.

Trước lúc lâm trung Lạc tướng lại gọi Tế Công đến giao phó quốc sự, gia phong ông chức Tiết cấp nhập nội Thái tử Quốc chính Trung tín hầu, để phò tá Thái tử. Phu nhân Cẩn nương được phong Tham tán phu nhân hoằng tướng phu nhân,  thống lĩnh nội thị. Từ đấy mọi sự chính trị và quân sự đều do Tề Công sắp đặt.

Sinh thời ông bà đã đem hết sở học truyền dạy cho các học trò, Chẳng may Thái tử mất sớm, Ông bà phù giúp Hai Bà Trưng làm nên nghiệp lớn, đánh đuổi Thái thú Tô Định, thu hồi 65 thành ở Lĩnh Nam, rồi lên ngôi nữ vương, định đô ở Mê Linh.

Đất nước thanh bình được ba năm, Mã Viện lại đem quân sang xâm lược, hai ông bà cùng Trưng Vương và các tướng chia quân các đạo, quyết chiến với giặc. Thế giặc quá mạnh, Tạ Cẩn Nương tuẫn quốc ngày 19 giêng ở trận Lãng bạc. Tế Công đánh với giặc Hán nhiều trận, sau phải rút về Mỹ Giang, ẩn thân trong rừng Quán Cấm. Khi ấy gia thần chỉ còn 47 người, dân binh trong ấp còn độ vài trăm. Ông bèn đem chia của cải, cung ấp của mình, một phần cho con cháu, một phần cho hương ấp để làm lễ trong những kỳ lễ tiết.

Ngày 15/7 ông làm lễ cho người đã khuất là Cẩn Nương và hai người thiếp, viết thần hiệu cho vợ và phó thác các việc cho con cháu cùng dân làng trông giữ. Nhân dân nghe xong tất thảy đều bái lậy vâng mệnh. Quân Hán lại kéo đến ông xông ra tử chiến với giặc bị trúng thương ở bả vai. Biết mình không qua khỏi, ông sai người mua rượu ngon về cùng uống với dân làng và nói với dân rằng: Ta cùng với dân ân tình chưa chan đã thành có nghĩa, nói đến đây thì hóa, vừa khi đang khâm liệm cho ngài, kiến mối đã đùn đắp thành mả mới. Hôm ấy là ngày 17 tháng 7.

Đời sau có thơ chép rằng:

Nhất đường tụ hội sở tinh thần

Vạn cổ hương yên tại xã dân

Tuy thị túy trung hoan ẩm tửu

Tình lưu Khánh Hiệp ức niên xuân.

Lại có thơ rằng:

Sinh vi tướng tử vi thần

Từ vũ huy hoàng tuế nguyệt tân

Thánh hợp trường lưu lăng miếu tại

Nhất môn trung nghĩa ức niên xuân.

Dân làng làm lễ Tế Công tại các cung sở, chép duệ hiệu ngài và thờ ngài làm Thành hoàng.

mo_do_nang_te 
 Khu miếu mộ cụ Đỗ Năng Tế

Ngày nay ở Mỹ Giang còn 02 ngôi đình thờ Tế công. Chùa Thiệu Long là nơi đặt lăng mộ cha mẹ Tế Công. Miếu và mộ Tế Công vẫn được nhân dân trong vùng giữ gìn, hương lửa gần 2.000 năm qua.

Chúng tôi đã vào thăm chùa Thiệu Long và được nhà sư trụ trì tiếp đón rất ân tình, sau đó cả đoàn ra dâng hương ở miếu thờ Tế Công. Dưới gốc cây xanh cổ thụ trước miếu, dân làng kể cho chúng tôi nhiều câu chuyện không có trong Ngọc phả. Cảm động nhất là giai thoại cầu người hiền. Khi bà Man Thiện đến mời, ban đầu Tế Công không thuận, bà bèn quì xuống, đến khi Tế Công nhận mệnh dạy dỗ Thái tử mới chịu đứng lên lên. Thế mới hay, tôn sư trọng đạo đã là truyền thống từ thời dựng nước.

chua_thieu_long 
 Chùa Thiệu Long nơi đặt lăng cha mẹ cụ Đỗ Năng Tế

Được biết khu mộ Tế Công  xưa có tên là Quán Cấm. Đây nguyên là khu rừng Tế Công thường đến luyện thuốc nên có dựng một cái quán nhỏ, nhưng không thường ở. Trước cách mạng tháng 8 khu này rất rộng, kéo dài đến tận bờ sông, nay dân đã xây nhà ở, xã lấy đất làm nhà trẻ, phạm vi khu lăng mộ ngày một thu hẹp, nên dân làng rất lo lắng. Bà con thắc mắc hỏi chúng tôi: bà Lê Trân chỉ là một nữ tướng của Hai Bà Trưng mà được Thành phố Hải Phòng dựng tượng và xây đền thờ rất lớn. Công đức của vợ chồng Tế Công lớn như vậy,  sao đến nay chưa được Thành phố tôn tạo xứng đáng.

Được biết tôi và thầy Xuyền là con cháu họ Đỗ, dân làng và bà con họ Đỗ ở đây nhờ chúng tôi chuyển lời nhắn đến bà con họ Đỗ, có dịp hãy hành hương về viếng mộ và đền thờ Thầy giáo- Tướng công Đỗ Năng Tế ở thôn Mỹ Giang, xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.

Chúng tôi cùng có nguyện vọng, một ngày không xa khu miếu- mộ này sẽ được tôn tạo, trở thành khu di tích giáo dục thế hệ trẻ về nền văn hiến nghìn năm và  những trang lịch sử bi hùng của dân tộc.

Bài và ảnh Đỗ Quang

 

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn