|
Tham gia thảo luận về Đổi mới quản lý và Nâng cao chất lượng giáo dục.
Nhận diện VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG
trong bối cảnh mới
Hồ Hương
Văn hóa nhà trường (VHNT) là một khái niệm mới xuất hiện trong nhiều chục năm gần đây, nhưng nội hàm của nó thì đã được đề cập đến từ lâu rồi, trong nhiều tình huống của giáo dục (GD) và đào tạo (ĐT), nhất là ở thời kỳ Đổi mới. VHNT đã được các nhà nghiên cứu GD coi là một yếu tố rất cơ bản của cơ chế phát triển đối với từng nhà trường cũng như của toàn hệ thống các trường học nói chung, nó làm nền tảng và định hướng cho sự phát triển tiến bộ của nhà trường, và là một động lực quan trọng để thực hiện Đổi mới quản lý (QL) GD ở từng nhà trường.
Từ một số nghiên cứu về xã hội học và giáo dục học, chúng tôi xin thử đưa ra một cách tiếp cận khái niệm VHNT như sau : VHNT là một hệ thống phức hợp các giá trị, các chuẩn mực xung quanh chức năng ĐT con người của nhà trường, được chấp nhận tự nguyện, được cam kết tôn trọng để theo đó mà các thành viên của nhà trường cùng nhau thực thi các hoạt động dạy và học, nhằm hoàn thành ngày càng tốt sứ mệnh cao cả của mình.
Các giá trị và chuẩn mực này phải tương đối bền vững, nghĩa là phải qua trải nghiệm và thử thách của thời gian, phải biến thành niềm tin trong hành động của mọi thành viên, và trở thành biểu tượng trong từng mặt hoạt động của nhà trường. Do đó VHNT là sự thể hiện bản sắc tập thể, thông qua đó mà các thành viên của nhà trường được kết nối với nhau để phấn đấu cho mục tiêu chung, trách nhiệm chung.
Ví dụ : trình độ giác ngộ về mục tiêu GD của nhà trường ở các các thành viên (nhất là các thành viên chủ chốt), tầm nhìn chiến lược đối với sự phát triển của nhà trường, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thầy cô giáo, mức độ sâu sắc về lòng yêu nghề, yêu trẻ của thầy cô giáo, sự mẫu mực về đạo đức, lối sống và ý chí vươn lên tự học suốt đời của các thầy cô giáo, sự thuần nhất về đạo đức và ý thức tự tu dưỡng rèn luyện đạo đức của học trò, tính chủ động, tự lực và lòng say mê ham học của học trò, tinh thần vượt khó để học tập của học trò, sự trung thực trong đánh giá và tự đánh giá chất lượng GD, truyền thống tôn sư trọng đạo của học trò và nhân dân, truyền thống (đặc biệt là truyền thống dạy và học) của nhà trường, cảnh quan sư phạm của nhà trường, nề nếp kỷ cương (nhất là nề nếp dạy và học) của nhà trường, trình độ và phong cách quản lý của hiệu trưởng, trình độ dân chủ hóa trong sinh hoạt của nhà trường, quan hệ phối kết hợp tay 3 trong GD học trò,.. và còn nhiều nữa. Trong đó có lẽ thành tố cốt lõi nhất là trí tuệ và lòng yêu thương con người.
VHNT thường được xem xét ở 2 cấp độ : vô hình và hữu hình. Các thành tố chủ yếu thường ở dạng tiềm ẩn trong nhận thức và tình cảm của con người (thầy, trò, phụ huynh, nhân dân,...), chúng hình thành nên cấp độ vô hình của VHNT, khó nhận ra ngay. Chính hành động của con người (chủ yếu là thầy và trò) trong hoạt động thực tiễn dạy và học đã biến các thành tố vô hình nói trên thành các biểu tượng, và tạo nên cấp độ hữu hình của VHNT. Nhìn từ phía khách quan, người ta dễ nhận ra cấp độ hữu hình của VHNT, nhưng đó chưa phải là toàn bộ VHNT, mà đó chỉ là biểu hiện bên ngoài của VHNT. Chẳng hạn, biểu tượng về các chuẩn mực trong VHNT mà chúng ta thường thấy khi đến thăm một nhà trường nào đó, chính là cấp độ hữu hình của VHNT, như là : cảnh quan sư phạm, trang phục của thầy và trò, quan hệ giao tiếp trong trường và giao tiếp với khách, nghi thức chào cờ đầu tuần, nghi thức chào đón học trò đầu cấp và tiễn đưa học trò cuối cấp, nghi lễ ngày khai trường, ngày bế giảng, ngày kỷ niệm thành lập trường, ngày Nhà giáo Việt Nam, nề nếp gặp mặt và tặng quà các cựu giáo chức của trường nhân ngày 20/11, nề nếp gặp mặt và giao lưu với học sinh cũ đã ra trường,...
Muốn nhận diện được đúng trình độ của VHNT thì phải có cách đánh giá toàn diện, kết hợp được cả 2 cấp độ, không thể chỉ căn cứ vào cấp độ hữu hình, nhưng cũng không thể chỉ qua đánh giá trình độ của cấp độ vô hình bằng suy diễn cảm tính.
Như vậy thì VHNT không phải là vấn đề gì mới lạ của GD&ĐT. Có lẽ vì lâu nay chúng ta không để tâm nghiên cứu, ít dành thời gian suy ngẫm về triết lý GD, triết lý VH ẩn đàng sau những công việc chúng ta đã làm nên chúng ta thấy có vẻ hơi lạ. Thực tế là VHNT luôn ở bên chúng ta, đồng hành với mỗi công việc chúng ta làm trong từng nhà trường.
VHNT được hình thành và phát triển trong quá trình xây dựng và phát triển của nhà trường, không thể tự nhiên là có ngay, mà phải qua thời gian. Sự phong phú, sâu sắc và bền vững của VHNT sẽ được nhân lên theo cùng với sự trưởng thành của nhà trường. Mặt khác VHNT còn chịu ảnh hưởng từ trình độ phát triển KT-XH của địa phương, từ chất lượng đời sống VH của địa phương. Do đó, nhìn vào trình độ của VHNT người ta có thể suy ra, nhận ra trình độ chất lượng GD của nhà trường, và phần nào hình dung ra được bộ mặt của đời sống VH địa phương. Lực lượng tạo dựng nên, gìn giữ, nuôi dưỡng và phát huy được VHNT chính là thầy và trò cùng nhân dân địa phương, và ngược lại kẻ trực tiếp làm tha hóa nó, biến dạng nó, thậm chí phá nát nó cũng lại chính là lực lượng này (Đương nhiên thủ phạm chính không phải là họ, mà là một nhân tố vô hình, sinh ra từ cơ chế phát triển KT-XH). Do đó các nhà trường phải thường xuyên đặt ra nhiệm vụ chăm sóc, bồi dưỡng, hoàn thiện cái “phông” VH cho các thành viên nói trên, trước hết là VH sống (lẽ sống, đạo đức, lối sống, nếp sống,..) thể hiện ra trong hoạt động dạy và học cũng như trong đời thường.
Có thể nói VHNT luôn chi phối trực tiếp đến sự phát triển tiến bộ của nhà trường, thể hiện ở những biểu hiện sau đây :
- Hoạt động của nhà trường luôn giữ được đúng quĩ đạo và bản sắc của nhà trường XHCN Việt Nam, luôn bám sát mà không xa rời mục đích phục vụ “Vì con người”, “Vì lợi ích của đất nước”, không bị ô nhiễm bởi xu hướng thương mại hóa GD, không bị sa vào mục đích lợi nhuận đơn thuần (với trường ngoài công lập),...
- Thúc đẩy được lao động sáng tạo trong hoạt động dạy và học, thúc đẩy sự hợp tác và cam kết trách nhiệm, thúc đẩy nâng cao năng suất lao động dạy và học để dẫn đến nâng cao chất lượng GD, thúc đẩy đổi mới QL,...
- Tạo dựng được tình thương yêu và sự quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên, quan tâm đến lợi ích chung của nhà trường, phát huy được truyền thống “Tôn sư trọng đạo”,...
- Giúp nhà trường luôn phát huy được vai trò là một trung tâm VH, một trung tâm GD&ĐT,...một điểm sáng tiêu biểu cho sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong từng cộng đồng dân cư...
Như vậy là VHNT vẫn luôn đồng hành và dẫn dắt chúng ta trong thực thi chức năng ĐT con người, nó là một nhân tố vô cùng quan trọng định hướng cho nhà trường, tạo ra nội lực cho nhà trường, tác động trực tiếp đến chất lượng GD&ĐT của nhà trường,...Chỉ vì chúng ta chưa biết, chưa hiểu đầy đủ về nó nên chúng ta vẫn tưởng như là không có nó, và do đó chúng ta đã bỏ qua nhiều cơ hội, thậm chí là chểnh mảng việc chăm sóc nó, bảo vệ nó, phát huy nó,...!
Điều đó cũng có nghĩa là : nếu VHNT bị xuống cấp hoặc thậm chí bị đánh mất đi thì lập tức nhà trường sẽ bị tha hóa, bị mất phương hướng, bị suy thoái nội lực, chất lượng GD sẽ giảm sút trông thấy, có thể đến mức nhà trường không còn đủ năng lực và uy tín để tiếp tục làm nhiệm vụ đào tạo con người nữa !...
Từ những nội dung chúng ta vừa nghiên cứu trên đây về VHNT, đã có người nêu ra câu hỏi : Chúng ta đã có VHNT chưa ?, thực trạng hiện nay của VHNT ở Việt Nam như thế nào ?
Có lẽ câu hỏi này xin dành cho từng nhà trường và cho các cấp QLGD. Chính các nhà giáo và các cán bộ QLGD đương chức mới có được câu trả lời đầy đủ nhất. cụ thể nhất và có lẽ trung thực nhất.
Tuy nhiên, để cho sự trả lời được khách quan thì cũng nên tham khảo nhiều nguồn thông tin khác nữa. Chẳng hạn, cũng đã có ai đó nói rằng : trong quá khứ chúng ta đã từng có VHNT rất tốt đẹp, nhưng hiện nay thì chúng ta lại như là chưa có VHNT thích hợp cho thời kỳ đất nước đổi mới. Ý kiến này đang được khá đông nhà giáo, các nhà nghiên cứu GD và nhất là hàng triệu triệu gia đình đang có con em đi học tán thành. Thật vậy, khẩu hiệu “Tất cả vì học sinh thân yêu” và các bài học sâu sắc, đầy sức thuyết phục từ ngọn cờ Bắc Lý và các điển hình Hải Nhân, Trường Thanh niên lao động XHCN Hòa Bình,...đã từng một thời làm sáng lên VHNT vừa chuẩn mực, vừa trong sáng của nền GD của chúng ta đó sao ! Những bài học đó vừa có giá trị lý luận lại vừa có ý nghĩa thực tiễn, không những ở thời điểm đó mà còn đến cả bây giờ.
Còn bây giờ thì...?...chúng ta thử đi tìm lại nó xem nó đang ở đâu, diện mạo nó đã bị biến dạng đến đâu rồi, có nhiều không, có cơ bản không ?...
Chỉ cần nhìn vào sự thay đổi của hai nội dung cốt lõi trong VHNT : trí tuệ (sinh ra tri thức) và lòng nhân ái (cốt lõi của nhân cách) là chúng ta có thể đoán định được tình trạng của VHNT hiện nay. Nhìn ra thế giới thì chúng ta thấy mọi nhà trường trong nền KT thị trường đều coi nhẹ yêu cầu về nhân cách hơn yêu cầu về tri thức, kỹ năng, tay nghề,...đối với người học. Bởi vì nội dung và phương thức ĐT ở đó nặng tính kỹ trị thực dụng, nhất là với các nhà trường được xuất khẩu sang các nước kém phát triển. Và tuy tri thức, kỹ năng, tay nghề,...có được coi trọng hơn, nhưng là coi trọng cái kết quả đó chứ không quan tâm đến phương thức để đạt được nó. Người ta sẵn sàng chấp nhận và dung dưỡng việc mua bán, trao đổi các giá trị này, coi đó cũng là hàng hóa như trên thương trường. Hơn nữa quan niệm về nhân cách ở đó cũng đâu có đồng nhất với chúng ta, còn có điểm khác biệt, nên không thể coi là chuẩn mực chung. Thế mà chúng ta lại đang đi theo hướng này để tìm kiếm mô hình cho nhà trường Việt Nam thời kỳ Đổi mới, kể cả chấp nhận loại hình nhà trường được hoạt động theo cơ chế lợi nhuận, với những cam kết khá thoáng ? Mặt khác, trên thực tế những mặt trái của cơ chế KT thị trường ở nước ta đã thâm nhập khá sâu vào hoạt động GD&ĐT của các nhà trường, đã và đang gây ra nhiều bất ổn theo hướng như ở các nhà trường trong nền KT thị trường nói trên. Do đó chắc chắn là VHNT ở Việt Nam phải chịu một áp lực biến đổi khá căng, trái chiều, không thuận lòng người, và tất yếu sẽ dẫn đến sự biến chất, tha hóa chứ không phải là sự an toàn và thăng hoa. VHNT của chúng ta hiện nay đang trong quá trình biến đổi không sáng sủa và đầy thử thách như thế đấy ! Bệnh thành tích, gian lận trong đánh giá, thi cử, chuyện mua bán các kết quả học tập và rèn luyện, chuyện lình xình mất đoàn kết, chuyện gia trưởng của Hiệu trưởng, chuyện tài chính bất minh, chuyện học sinh, sinh viên hư hỏng, đua đòi ăn chơi, và dính dáng vào các tệ nạn XH, chuyện bạo lực học đường tùm lum,..., và dẫn đến chất lượng GD&ĐT giảm sút nghiêm trọng, nề nếp kỷ cương bị đảo lộn,...đều thấy nhan nhản trong rất nhiều nhà trường. Mục tiêu “Vì lợi nhuận” đang lấn át mục tiêu “Vì con người”, “Vì lợi ích cộng đồng” trong mọi hoạt động dạy và học, nghiên cứu khoa học, xây dựng đội ngũ,...ở phần đông các nhà trường, kể từ trường Mầm non !
Phải nói rõ và công khai thực trạng là như thế, với tinh thần thực sự cầu thị và với ý thức trách nhiệm trước đất nước và nhân dân. Tỷ lệ không vui này là khá đậm, nhưng cũng còn may vì chưa phải là tất cả. Nói bây giờ đã là hơi muộn, nhưng còn tốt hơn không nói !
Nguyên nhân quan trọng và bao trùm nhất dẫn đến cái thực trạng không sáng sủa nói trên là ở chỗ : con người chúng ta đã đầu hàng trước những mặt trái của cơ chế KT thị trường, chúng ta đã bất lực trước sự tấn công dữ dằn, sự lộng hành ngang nhiên của chúng đối với sự nghiệp GD&ĐT. Có thể nói đó là một sự thất bại đau đớn của chúng ta, các nhà trường thời KT thị trường và hội nhập hiện nay còn đâu sự sạch sẽ và cao cả như nó vốn có nữa. Thử bình tâm mà suy ngẫm xem lâu nay VHNT kiểu nào đang thống trị các nhà trường của chúng ta, giá trị nào, chuẩn mực nào đang chi phối các hoạt động dạy và học hiện nay ? Các mặt trái của cơ chế thị trường cùng với sự chưa hoàn thiện mô hình KT-XH tương ứng với nền KT thị trường định hướng XHCN, đã và đang tạo ra nhiều khó khăn, thử thách đối với sự phát triển tiến bộ của nhiều lĩnh vực, trong đó có GD&ĐT, đã và đang làm cho bộ mặt VH của XH chúng ta có những biến đổi không bình thường, thậm chí có thể nói là đang xuống cấp, tha hóa. Trong bối cảnh ấy thì VHNT bị biến dạng là điều khó tránh khỏi. Vấn đề cần bàn là không thể để thực trạng này quá kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển tiến bộ của các nhà trường nói riêng và nền GD nói chung, trong khi đất nước đổi mới thì lại đang có yêu cầu rất cao ở GD&ĐT, đang cần sự chuyển biến tiến bộ thực sự mạnh mẽ của GD&ĐT.
Khi bàn về Đổi mới QL GD&ĐT thì chúng ta phải coi đổi mới QL từ các nhà trường là mục tiêu cơ bản, vì đó mới là trận địa thực sự để làm nên chất lượng. Chính VHNT đích thực và trong sáng là động lực quan trọng nhất cho quá trình đổi mới QL của từng nhà trường. Không có VHNT thì không thể nói đến đổi mới QL từ nhà trường. Khi bàn về Đổi mới QL nói chung hay Đổi mới QL ở đơn vị cơ sở (trường học) thì không thể chỉ bàn về các giải pháp đổi mới cho các vấn đề “mang tính kỹ thuật” (như xây dựng kế hoạch chiến lược, tổ chức bộ máy QL, chỉ đạo điều hành, kiểm tra đánh giá,...) mà trước hết cần quan tâm ngay đến “phần hồn” của công việc, đó là VHQL, VHNT, VH đánh giá,... Không có những thứ VH này thì đừng nói đến Đổi mới QL GD&ĐT, vì ở đó là định hướng, là chuẩn mực, là động lực,...của QL. Chỉ đưa ra những giải pháp mang tính kỹ thuật đơn thuần thì không Đổi mới được QL, và theo đó cũng không thể nâng cao được chất lượng GD&ĐT.
Với vị trí đặc biệt của nhà trường (là tổ chức cơ sở) và với vai trò quan trọng của VHNT đối với sự phát triển tiến bộ của nhà trường cũng như đối với yêu cầu Đổi mới QL nhà trường nói riêng và QL GD&ĐT nói chung, chúng ta cần phải tìm ra cách phát huy cho được VHNT vào thực tiễn hoạt động dạy và học và thực tiễn hoạt động QL của Hiệu trưởng.
Xin được đề xuất mấy việc sau đây :
- Phải giác ngộ vấn đề VHNT cho toàn thể các thành viên của các nhà trường, trước hết là cán bộ QL và các thầy cô giáo. Đặc biệt cần lưu ý làm rõ những vấn đề triết lý GD của chúng ta hiện nay.
- Từng nhà trường và toàn ngành tổ chức đánh giá lại thực trạng VHNT, đặc biệt cần chỉ ra được giá trị nào, chuẩn mực nào đang thực sự thống trị các nhà trường hiện nay, cái gì đang là nét chủ đạo trong VHNT hiện nay, chúng ta còn giữ được VHNT truyền thống không ? nó đã bị biến dạng đến đâu rồi ?...
- Bàn bạc biện pháp khôi phục lại các thành tố tích cực và còn thích hợp của VHNT truyền thống, đồng thời cũng tích cực tạo dựng các thành tố mới, tiến bộ, để từ đó mà hình thành dần VHNT tương thích cho thời kỳ đổi mới. Theo đó thì mọi thành viên phải tự “chỉnh huấn” lại mình để ai cũng có được cái “hồn” VHNT mới, lấy đó làm điểm tựa cho hành trình tiếp theo.
- Trong phương án Đổi mới QL nhà trường của Hiệu trưởng, nhất thiết phải đề cập đến yêu cầu phục dựng VHNT. Khi nêu các giải pháp đổi mới cho từng vấn đề “mang tính kỹ thuật” của QL thì kèm theo phải có lý giải cơ sở VHNT, VHQL tương ứng. ....
Đây thực sự là một việc khó, cần có thời gian, nhưng cũng là một việc cấp bách không thể chần chừ và càng không thể không làm. Và dù biết rằng nếu làm đơn phương, khi chưa có sự đổi mới của cơ chế QL vĩ mô, thì có thể không đi đến được mục tiêu đổi mới QL của ngành, nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận hành động. Chúng ta có trí tuệ và có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của triệu triệu thầy và trò và của cả dân tộc, nhất định chúng ta sẽ vượt qua được.
Tháng 5 năm 2010
H H
(Cựu giáo chức)
|