Thứ sáu, 17/09/2021
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay992
mod_vvisit_counterHôm trước881
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đi tìm mặt mũi Truyền thuyết Hồng Bàng E-mail
25/09/2008
Đi tìm mặt mũi Truyền thuyết Hồng Bàng

Nguyễn K.

      Truyện Hồng Bàng, được ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái và sau đó đưa vào Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, hiện nay bị xem như không có gì hơn là một cóp chép vay mượn. Xu hướng chung là cho rằng, truyện này là một tiểu thuyết mà cái lõi có do vay mượn các truyện tích trăm con của dân tộc ít người ở Việt nam. 

Đúng là khi lược bỏ những chi tiết mà nhiều người cho là lấy từ truyền tích Trung hoa, truyện Hồng Bàng sẽ ít nhiều giống với những chuyện trăm con của người tự nhiên, như truyện cục thịt cắt ra nhiều mảnh, mỗi mảnh thành một người con, vv. Đặc biệt, người Mường, dân tộc đã có những đóng góp nhất định vào lịch sử Việt nam, có hai truyện với những chi tiết và motif rất giống truyện Hồng Bàng. Sự mộc mạc, giản đơn trong chi tiết và cung cách trình bày các chuyện này so với truyền thuyết Hồng Bàng dĩ nhiên phải đưa đến nhận định rằng truyện sau phát xuất từ các truyện trước. 

Truyện tích Mường, mà trong thời gian qua được chú ý nhiều do sự tương đồng với truyện Hồng Bàng là như sau.[i] 

Ngày xửa ngày xưa, có một nàng công chúa xứ Mường tên là Ngu Kơ, mang tiền kiếp một con nai có đốm ngôi sao (cerf étoilé), cưới một ông hoàng tử con byua Yịt tên Lương Wong, gốc vốn loài cá. Ít lâu sau, Ngu Kơ sinh được 50 con gái và 50 con trai. Nhưng rồi cơm không lành canh chẳng ngọt. Từ ở chỗ con cái không đủ đồ ăn thức uống, Ngu Kơ và Lương Wong ưa cãi vã với nhau. Cuối cùng, Ngu Kơ và Lương Wong đành phải chia tay, đôi ngả đôi ta. Ngu Kơ dẫn 50 người con lên miền rừng núi, và Lương Wong dẫn 50 người con kia xuôi về miền sông biển. Ngu Kơ và đám con tạo nên những dòng vua chúa mặc áo màu đen, và Lương Wong, các gia đình vua mặc áo màu vàng.

Dân Mường thờ kính bà Ngu Kơ như mẫu tổ và thường làm cờ có hình con nai đốm sao, như một vật tổ để tưởng nhớ đến bà. 

Đúng là giống đến mức khó mà nghĩ là có thể giống hơn nữa, đến độ có người đã quả quyết, truyền thuyết Hồng Bàng có chỉ do đánh cắp từ truyện Mường này, từ đây tạm gọi truyện Ngu Cơ, mà thôi. Vấn đề đặt ra, theo đó, là truyện trăm con của các dân tộc ít người, trên đó truyện Hồng Bàng được xây dựng, bắt nguồn từ đâu?

Một ứng viên là đạo bụt, vốn có mặt sớm sủa và có ảnh hưởng rộng rãi từ các thế kỉ đầu tiên của kỉ nguyên tây lịch.[ii]   Nói như thế, bất ngờ đối với nhiều người. Nhưng tính đến ảnh hưởng này, có thể nghĩ, trước hết, biết đâu ngay cả truyện Mường nêu trên cũng mang dấu ấn phật giáo. 

Nai như con vật hiền lương vv. được đề cập trong nhiều truyện tích về tiền thân Phật và trong Lục Độ Tập Kinh, được biên tập và có thể đã được sử dụng rộng rãi ở "Việt nam" từ thế kỉ 2 tl.[iii] Cá cũng thế. Rồi "tiền kiếp" là một ý niệm rõ rệt về tái sinh. Lương Wong thì, cùng với tên Việt (Lạc) Long Quân, làm liên tưởng đến rồng (S. nàga), một linh vật quen thuộc trong truyện tích phật giáo. Và "50 con trai 50 con gái" cũng có thể xem như thỏa hiệp hiểu được giữa sự trọng nữ của người Mường và sự trọng nam khinh nữ lừng tiếng của Ấn độ, tức là biến dạng hợp lí của môtip Ấn độ quen thuộc "100 con trai".

Ở đây, cũng ghi nhận rằng môtip "trăm con từ cục thịt" của các dân tộc ít người Việt nam đã có trong một truyện tích phật giáo mà người đạo bụt Việt nam thời Khương Tăng Hội hẳn cũng đã nói đến. Như sẽ thấy, truyện này có vai trò quan trọng trong việc nhận diện chân tướng truyền thuyết Hồng bàng.

Các chi tiết như nai, cá nêu trên dễ dàng được giải thích hợp lí  như do trùng hợp tình cờ hoặc từ một nguồn khác. Thoạt nhìn, ngay cả "tiền kiếp" (và "gốc", theo mạch văn cũng mang nghĩa tiền kiếp) cũng thế, rằng nó không do ảnh hưởng của niềm tin tái sanh mà có, mà đơn giản là kết quả của sự ghi chép sai lạc một cách nói về ‘vật tổ' mà thôi.

Nhưng nếu đúng như thế, ý chỉ của câu chuyện đại khái là một biện minh rằng người Mường (vv.) lên núi sống cách biệt vì khó sống chung với người kinh, và họ thờ nai như vật tổ vì vật tổ của mẫu tổ là nai. Cách nghĩ quanh quẩn, mộc mạc này có nơi người tự nhiên.

Tuy nhiên người Mường như một toàn thể không phải là ‘người tự nhiên' thuần túy, không chỉ sống ở rừng sâu núi cao, trong tình trạng cách biệt với người Việt ở đồng bằng. Hai Bà Trưng có thể là người Mường (như sử gia Keith Weller Taylor đã gợi ý), và sau khi hai Bà thất trận, có những bộ thuộc của họ đã nương thân nơi chùa viện.

Và nếu dụng tâm đàng sau câu chuyện chỉ như nêu trên, thì nó không cho thấy người Mường nghĩ mình có dính dáng với quá khứ mà họ có chung với người Kinh: Văn hóa Đông Sơn, khg. thế kỉ 6 tr.tl.- thế kỉ 1 tl. Điều này khác hẳn với sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước của họ.[iv]

Là một ‘mo', một hình thức kinh kệ truyền đời và chính yếu được diễn xướng trong tang lễ để nhắc nhỡ người chết và kẻ sống về sự tạo lập thế giới (trời, đất, người, thú vv.), Đẻ Đất Đẻ Nước chứa đựng những thông tin quí báu về tín ngưỡng cổ sơ của người Mường, với những chi tiết và môtip giống truyện Hồng Bàng. Một trong các điểm lưu ý ở đây là nó có nói đến "chùa chiền":

Trống chim Tùng và Mái chim Tót, hai con chim khổng lồ trong buổi đầu hỗn mang của Vũ trụ, định ăn trái độc mà chết vì không biết nương náu nơi đâu. Nhưng chúng gặp mụ Dấn Dá, người Nữ đầu tiên của Vũ trụ, và được khuyên, (sđd., tr. 40-1) 

"Hai cháu chớ vào rừng mà sợ con gấu,
  Đừng vào thung mà sợ con cọp
  Con mái tìm chỗ mát rỉa lông
  Sẽ nên đá hay Trống,
  Con trống thì ra rửa mỏ
  Sẽ nên đá chùa chiền, hang Hao.
  Đào đất cho nên sông sâu, ruộng rộng
  Cho có nơi mà ăn
  Cho có ngăn mà ở."  

Đại khái là đừng vào thâm sơn cùng cốc hiểm nguy, thay vì thế hãy tìm chỗ ‘lưng chừng' thích hợp mà dựng nhà, lập chùa, khơi sông, mở ruộng. Nghe chừng như là lời khuyên tàn quân trong một lễ tang sau khi hai Bà chết đi! 

Trống chim Tùng và Mái chim Tót sau đó đã đẻ ra những người con nói tiếng Lào, tiếng Kinh, tiếng Mọn, tiếng Xiên Quan, tiếng Thái, tiếng Mán!

Tiên tổ của Mường, Việt vv., theo mo Đẻ Đất Đẻ Nước, là cặp đôi trống chim Tùng-mái chim Tót, vừa gần nhưng cũng vừa xa với cặp đôi Rồng-Tiên của truyện Hồng Bàng, nhưng rõ là không phải nai cho riêng Mường và cá cho riêng Việt như truyện Ngu Cơ trên kia nói -nếu hiểu ‘tiền kiếp' như chỉ có nghĩa ‘vật tổ' như đề cập ở trên.

Chúng ta không thể không hỏi, Chuyện nào ‘đúng', chuyện nào ‘sai', và tại sao? 

May mắn là các hiện vật của văn hóa Đông Sơn có thể gợi ra một câu trả lời. 

Chim là một trong nhiều thú vật thấy có trên các hoạ cảnh của các trống đồng vv.,[v] nhưng nếu có loài vật nào được người Đông Sơn xem như vật tổ chung cho các tộc người cùng nhau làm nên nền văn hóa này, thì đó phải là chim. 

Trình độ tư duy khái niệm của của người thuộc Văn hóa Đông Sơn (từ đây viết tắt "người Đông Sơn") rất cao. Nhiều tác giả đã nói lên điều này, nhưng đôi khi không biết phải nghĩ họ có suy luận quá lời hay không, chẳng hạn sẽ quá đáng khi suy diến, sự việc các nghệ nhân Đông Sơn có sự phân biệt trống/mái khi họ vẽ chim vv. cho thấy họ có quan niệm âm-dương. Nhưng đúng là người Đông sơn có tri nhận rõ rệt về sự khác biệt trên/dưới, trong/ngoài, trước/sau, đực/cái, thuận/nghịch, sống/chết, như nghiên cứu của Gs Đinh Trọng Hiếu khẳng định.[vi]

Một trong những ví dụ giúp thấy được khái niệm thuận/nghịch là, trên một băng hoạ cảnh của trống đồng Ngọc Lũ, thuộc về hạng hiện vật có ý nghĩa quan trọng nhất của văn hóa Đông Sơn, "các loài thú, chỉ có một con quay đầu theo chiều nghịch [chiều của thiểu số, khác với chiều thuận của đa số], nó đậu trên nóc nhà sàn mái cong, chim này là chim trĩ, hoặc gà lôi ..." (bđd., tr. 9) Những ví dụ như vậy cũng cho thấy người Đông Sơn cũng có một khái niệm về chung/riêng. 

Sẽ rất quan trọng nếu có thể nói, sự phân biệt thuận/nghịch, chung/riêng này lên đến mức trừu tượng đủ để họ biết gom lạnh, nhẹ, giống cái, tối vv. vào một khái niệm (ví dụ âm) và khái niệm khác (dương) cho những những cái đối lại. Nhưng có thể nói, khái niệm này đủ rộng để những người Đông Sơn xa cách, xa lạ nhau thấy mình như thuộc về một cộng đồng chung, điều có nghĩa là họ có lẽ đã có một mức độ của ý thức rằng họ là dân một nước, có chung một nước, hay có ý niệm quốc gia. Rất là bất kính với học giả thời nay![vii]

Họ phải có những kí hiệu, biểu tượng chung nói lên những ý thích, tập tục, tin tưởng chung. Và chim, so với các thú vật khác, là yếu tố chung, bao trùm trên trống Ngọc Lũ cũng như nhiều trống Đông Sơn khác. Các họa cảnh trên trống Ngọc Lũ cũng cho thấy, một giống chim mõ dài có vẻ được quan tâm đặc biệt. Trên một băng hoạt cảnh trên mặt trống Ngọc Lũ, những con chim này được vẽ từng cặp nối nhau, con đực xoải cánh vươn cổ bay-con cái khép cánh cúi đầu đứng, và cứ thế...  (xem hình 1)

 trong dong Dong Son

Hình 1. Xem thêm hình trong link dẫn ở chú thích 5.

Đây hẳn là cặp chim vật tổ mà Đẻ Đất Đẻ Nước nói đến, trừ phi người Đông Sơn hay bộ phận chủ lực của họ, không có chim như vật tổ chung, tất nhiên. 

Vật tổ là chim nên phải đẻ trứng, và người Mường, người Việt vv. là con cái chim thì phải nở từ trứng!

Nhưng, một lần nữa, có chắc là người Đông Sơn có chim như vật tổ chung? Ngoài các suy lí mà học giả đưa ra, dựa trên hiện vật Đông Sơn vv., còn có chứng liệu độc lập nào để khẳng định rằng, sự thật như thế chứ không thể khác? 

Như đã nói, trong truyền thống Ấn độ có môtip "trăm cục thịt thành trăm con trai". Trong văn học bản sinh của đạo bụt môtip này có khi trở thành "trăm con trai từ một bọc thịt", như trong một truyện cũng được chuyển dịch tại Trung hoa vào đầu thế kỉ 3 tl., thời Khương Tăng Hội. 

Truyện này đại ý kể một bà trưởng giả sinh ra một "bọc thịt" làm người chồng rất buồn rầu, nhưng nhờ ông theo lời khuyên của Bụt mà bọc thịt vở ra thành trăm đứa con trai đẹp đẽ, tài giỏi hơn người và, sau đó, đi tu tất cả đều thành chánh quả. Như Lê Mạnh Thát phát hiện (1972), truyện này, tại Việt nam lúc bấy giờ, đã được cải biên thành truyện số 23 trong Lục Độ Tập Kinh. Đại khái truyện 23 kể chuyện vị hoàng hậu sinh ra trăm trứng, bị bao người ghét bỏ, nhưng sau những khó khăn nghịch cảnh trăm trứng nở thành trăm con trai, trăm vị hoàng tử, 99 người đi tu thành chánh quả cả còn một làm vua.[viii]

Thế thì môtip gốc "Bọc thịt vở thành trăm con trai" đã được cải biên thành "trăm trứng nở trăm con trai". Sự cải biên truyện tích răn đời do tôn trọng niềm tin tôn giáo bản địa vv. là đặc tính xuyên suốt lịch sử truyền giáo của đạo bụt. Do đó, có thể khẳng định, ít nhất, là tin tưởng của người Đông Sơn về mình như phát sinh từ trứng sinh bởi vật tổ thiêng liêng, đã được nhà truyền giáo tôn trọng. Trong các thuyết giàng của họ cho người bản địa, bà trưởng giả ‘lên chức' hoàng hậu hẳn vì xã hội người Việt vv. lúc đó không có một hạng người như vậy, và sự cải biên bọc thịt thành (bọc) trăm trứng là "tùy duyên", "phương tiện thiện xảo", hay theo lối nhập gia tùy tục, rồi đi vào Lục Độ Tập Kinh khi nó được biên tập.[ix]

Đó là bằng chứng cụ thể cho thấy người Đông Sơn tin họ có chim như vật tổ. Theo đó, và theo thông tin về ‘lưỡng hợp' đầy rẫy trên trống đồng xưa, chim vật tổ phải là một cặp chim trống mái mà ở mo Đẻ Đất Đẻ Nước là trống chim Tùng và mái chim Tót. 

Đẻ Đất Đẻ Nước đáng tin hơn truyện Ngu Cơ nêu trên và Hồng Bàng, ở việc lưu giữ huyền thoại quá khứ về nguồn gốc các dân tộc Việt nam, mặc dù có một vài chỗ nó có thể tạo ấn tượng là đoạn, câu thơ đó đã có, hay bị sửa đổi, do hoàn cảnh và sự có mặt của ảnh hưởng phật giáo. Nhưng không có lí do để nghĩ là điều này ảnh hưởng đến truyền tích đôi chim vật tổ sinh ra các dân tộc kinh và thượng. 

Cặp chim khổng lồ này đẻ được tất cả "1919" trứng sau lần đẻ trứng hư đầu tiên (sđd., tr. 47). Con số này thường gặp. Ở một chỗ trước đó của Đẻ Đât Đẻ Nước có đề cập đến 1919 vùng đất sinh ra từ sự mục rã của cành cây si (: cây sự sống, mà gốc biến ra mụ Dấn Dá). Đây phải là con số thiêng, bắt nguồn từ cách diễn tả cổ, rất cổ, thuở người Đông Sơn (hay tiền-Đông Sơn?) chưa biết đến hệ thống thập phân.

Họ không thấy số 10 (và càng không ‘thấy' số 0, một điều đỏi hỏi một bước nhảy lượng tử trong tư duy trừu tường![x].   Họ chỉ thấy, khái niệm được số 9, vì đó là con số đếm được trên hai tay. Nếu họ biết được số 10, có hệ thống thập phân, như người Ấn thuộc văn minh Indus cách đây khg. 4.500-5.000 năm, họ đã không nói 1|9|1|9. Thay vì thế sẽ nói 100, mà nghĩa ban sơ phải là ‘nhiều nhất trong mức độ đếm được', vì đây là con số của 10 ngón tay đếm 10 lần.

Tuy vậy, họ đã nhận ra 9 chưa phải cao nhất, vì còn một ngón chưa tính-ngón để đếm các ngón khác. Nói cách khác, 9191 thật ra là con số trên hai bàn tay (9 ngón cộng 1 ngón để đếm) và nhân đôi (một đôi chim cơ mà!) và mang nghĩa ... gấp đôi của nhiều hết mức (trong mức độ còn đếm được). Việc đảo ngược lại thành 1919 cho thấy ý nghĩa thiêng thánh của con số, giống như ý nghĩa được gán cho số 100 trong truyền thống Ấn độ.[xi]

Thế nên phải khẳng định ‘chim vật tổ đẻ 1919 trứng' là một chi tiết rất cổ xưa, còn lại từ thời kì đầu của văn hóa Đông Sơn.

Nguồn gốc bản địa của môtip "đẻ trứng, trứng nở con" như thế xem như được chứng minh.

Mặt khác, có nhiều lí do để đoán rằng từ tín ngưỡng chim vật tổ cổ truyền, một truyện tích trăm trứng trăm con đã được tạo ra, và chính người đạo bụt chứ không ai khác-có nhiều lí do để đoán như vậy-đã cố ý tạo ra truyện đó, để rồi nó có sự sống của riêng mình, biến đổi thành hai phiên bản khác nhau do hoàn cảnh vv., nhất là phiên bản họ Hồng bàng.

Như bao nhiêu cá nhân khác trong lịch sử truyền bá đạo bụt, tác giả đã rất tôn trọng truyền thống văn hóa/tín ngưỡng cổ sơ bản địa khi đưa ra truyện trăm trứng. Tôn trọng tín ngưỡng cổ, ông chỉ đổi cách nói, chẳng hạn 1919 thành 100 cho ‘hợp khoa học' và thêm chi tiết "cái bọc" cho trăm cái trứng kia, có lẽ nghĩ như vậy vừa hợp lí hơn vừa nối kết với truyện dụ ngôn phật giáo (môtip bọc thịt của truyện tích phật giáo). Cũng trong cân nhắc như thế, và, như sẽ đề cập, do một hậu ý chính trị, ông ta đã biến đổi một chi tiết quan trọng của tín ngưỡng cổ: 

Tín ngưỡng chim vật tổ cổ sơ hẳn rất giống với truyện trong Đẻ Đất Đẻ Nước, theo đó cặp chim vật tổ đẻ nhiều trứng nhưng lần đầu trứng không nở ra con được, nở đến đâu hư đến đấy, rồi lần sau, phải nhờ đến những con chim ‘tầm thường' khác, thì 1919 trứng đẻ ra cuối cùng mới nở thành con, mới "lao nhao tiếng Kinh ... hớt hải tiếng Mán". Điều này dễ làm nghĩ, nó biết đâu có thể hàm chứa một sự thật về sự hình thành Văn hoá Đông Sơn, rằng nền văn hóa này, theo lăng kính đôi/đối của người Đông Sơn, có hai bộ phận chủ lực xây dựng nên, nhưng mặc dù thế cũng phải cần đến các bộ tộc khác để nền văn hóa này được như nó đã từng là. Nhưng đây không phải là giải thích (thuận tai) duy nhất, do đó chưa có giá trị gì. 

Điểm quan trọng là tác giả đã không để yên như vậy mặc dù ông có cơ sở giáo lí để không làm khác -theo giáo lí này, cho dù có bột (nhân) nhưng vẫn không gột nên hồ được (quả) nếu không đủ điều kiện thích hợp (trợ duyên, thuận duyên). Thay vì thế, ông bỏ chuyện trứng hư, hay biến trứng hư thành trứng tốt cả, để bao nhiêu trứng đẻ ra là bấy nhiêu bé con đẹp đẽ, bé trai như trường hợp mẹ Âu Cơ! 

Cải biên ‘thô bạo' này là một trong các chi tiết gợi ý, người đạo bụt là tác giả phiên bản gốc của truyện trăm trứng trăm con vì cân nhắc quan trọng nhất, mà chúng ta có thể nghĩ ông có, của việc làm đó là cân nhắc chính trị.  

Nhưng đó là chuyện sau. Cái cần nói là ở đây, theo truyền tích trong Đẻ Đất Đẻ Nước, cũng như nói theo tính cách liên tục và bản địa của Văn hóa Đông Sơn, ‘trăm con' là toàn thể các bộ tộc làm nên Văn hóa Đông Sơn chứ không phải là các nhóm dân Bách Việt ở Trung hoa, trừ phi Văn hóa Đông Sơn được khẳng định là do các nhóm Bách Việt này đến Việt nam và làm ra, hoặc trừ phi các nhóm này có nguồn gốc Bắc và Bắc Trung bộ VN.

(Còn một kì)

NK, http://onthehorizon.homepage.dk/


[i] Dẫn theo Nguyên Nguyên trong các bài viết đăng tải nhiều nơi của ông, ví dụ http://khoahoc.net/baivo/nguyennguyen/quoctomanghaigiongmau.htm

[ii] Sử gia Lê Mạnh Thát trình bày điều này trong một loạt nghiên cứu đăng tập san Tư Tưởng của Ðại học Vạn Hạnh, từ số 5 & 6, 1973. Có thể xem các chương đầu của Lê Mạnh Thát, Phật giáo Việt nam từ Khởi nguyên đến Lí Nam Đế, Thuận Hoá, Huế 1999.

[iii] Về sự hình thành, nội dung và ảnh hưởng của Lục độ Tập kinh, xem Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam  Sài Gòn 2000, tập I, phần II

[iv] Vương Anh & Hoàng Anh Nhân (bt), Đẻ đất đẻ nước, Thanh Hoá 1975.

[v] Hình thú trrên các hiện vật Đông Sơn thể xem ở  http://chimviet.free.fr/tacpham2/hvdn/anhtrong/trongdong01.htm

[vi] Đinh Trọng Hiếu, "Thuận, nghịch, lãnh đạo, chống đối. Một phương pháp ‘đọc' họa cảnh, một bài học rút ra từ trống đồng Ngọc Lũ", Văn Lang, số 1 thg 6/1991.

[vii] Quốc gia hiểu như "một cộng đồng chính trị tưởng tượng - imagined political community" được cho là hình thành rất trễ. Nhưng vào thời xa xưa, khi chính trị chưa bị tách rời với các khía cạnh khác của văn hóa, thì nếu có một mức độ ý thức về chung-riêng, thì đó là một bước quan trọng cho sự hình thành một hình thức nhà nước.

[viii] Hai truyện này được Lê Mạnh Thát tóm lược ở http://thuvienhoasen.org/vanhocpgvn-1-06-5.htm . Bản dịch Truyện 23 của Lục Độ Tập Kinh cũng tìm được từ đây.

[ix] Theo đồng thuận cho đến nay, Lê Mạnh Thát, khi phát hiện điều này (1972), dĩ nhiên đã nói rằng cái được giữ là môtip sinh trăm trứng nở trăm con (trai).  

[x] Theo đồng thuận trong lịch sử toán, số 0 được phát minh vào thế kỉ 2 hoặc 3, do người Ấn độ. Có những người nói người cổ sơ đã biết đến con số cực kì quan trọng trong lịch sử khoa học này. Nhưng phải sẵn có một trình độ toán học nhất định và suy tư triết học thật cao về một thực thể ‘cộng không tăng, trừ không giãm, hữu không phải, vô  cũng không phải vv. và vv., thì người ta mới may ra phát minh (dù là do tình cờ hay trực giác) một kí hiệu biểu thị trừu tượng. Triết học, tư tưởng tánh Không (sunyata) của đạo bụt đại thừa cung cấp các điều kiện cần đó. Khó khăn sử học là, vấn đề thời điểm chính xác cho sự hình thành hệ tư tưởng này lại không nói được, mặc dù tư tưởng đã thấy có dấu tích rất rõ trong kinh sách sơ thời thuộc hệ Sanskrit: kinh Pháp Ấn (Nhất Hạnh dịch).

[xi] Ghi nhận quan trọng: Tác giả Nguyên Nguyên, trong một bài viết về "18 đời Hùng Vương. Một Ý niệm về Liên tục" (?) thấy đăng ở nhiều báo và website, như  http://www.khoahoc.net/, đã nói người Mường có hệ thống đếm số 9. Khi đọc bài này trên một diễn đàn điện tử, tôi đã tìm đến website này để trao đổi chuyện này với ông, giữa những điều khác. Cùng với các chi tiết thấy trong Đẻ Đất Đẻ Nước, đặc biệt là con số 1919, cách đếm của người Mường được tác giả dẫn ra trong bài cho thấy ông đã nghĩ đúng: Người Mường xưa quả có hệ thống đếm số 9! Từ đó, nhờ các dấu tích trên trống đồng, có thể khẳng định rằng hệ thống đếm này cũng được người Đông Sơn sử dụng.

© Copyright 2006 giaodiem.com


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn