Thứ sáu, 03/07/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1103
mod_vvisit_counterHôm trước1196
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Sưu tầm nghiên cứu về Cụ Đỗ Quí Thị và Bát Bộ Kim Cương E-mail
24/03/2007

    Con người có tổ có tông

Như cây có cội như sông có nguồn

Muốn biết cội nguồn của mình, của gia tộc mình, dân tộc mình  từ đâu mà sinh ra, từ đâu mà đến là khát vọng của mọi người ở mọi thời đại. Với mục đích làm sáng tỏ nguồn gốc tổ tiên họ Đỗ, trong 10 năm qua BLL họ Đỗ Việt Nam mà tiêu biểu là cụ trưởng BLL họ Đỗ Việt Nam- phó giáo sư Đỗ tòng, người khới xướng tích cực nhất đồng thời là người hướng dẫn tổ chức nhiều chuyến đi điền dã, khảo sát thực tế, tìm hiểu gia phả các dòng họ, các tư liệu thư tịch cổ (ngọc phả, thần phả, sắc phong,...) ở các nhà thờ, đình, chùa, miếu mạo. Một thực tế đáng tiếc là rất nhiều tư liệu, di tích cũ trong dân gian đã bị bọn xâm lược thống trị cướp đi, hoặc bị mai một theo thời gian, may thay  còn khá nhiều gia đình dòng họ, làng xã vẫn cất giữ chu đáo, trân trọng các thư tịch cổ với ý thức rất sâu sắc, đó là di vật của Thánh hiền, của Tổ tiên. Vì thế nhất thiết phải tuân theo những thủ tục bắt buộc: không được phép tùy tiện bất cứ lúc nào, nếu không phải là ngày lễ trọng; chỉ có những người có vị trí quan trọng, có uy tín trong dòng họ, trong làng xã, trước đó phải tắm rửa sạch sẽ (có khi còn phải qua xin âm dương các vị Tổ tiên, Thánh thần) mới được phép mở từ trong các hòm cất giữ, hoặc được giao phó đọc trước cộng đồng.Với tư liệu hiện có bước đầu đã dựng nên bức chân dung khá rõ nét về những người họ Đỗ việt Nam đầu tiên từ ngọc phả, thần phả, sắc phong ( nhiều tài liệu chưa được công bố rộng rãi trước cộng đồng). Những tài liệu nay không có trong chính sử, là những câu chuyện thời xưa nửa hư nửa thực, nhuốm màu hoang đường, truyền kể từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tất nhiên nó vẫn phản ánh sự thật khách quan. Với hy vọng cung cấp cho bà con họ Đỗ những tài liệu trung thực như nó vốn có khi chúng tôi sưu tầm được , Website hodovietnam xin lần lượt giới thiệu những tài liệu gốc, gồm những tài liệu hán nôm dịch ra chữ quốc ngữ, các tài liệu nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu là người trong và ngoài họ Đỗ. chúng tôi cũng hy vọng nhận được những tài liệu về đề tài tương tự , để làm giàu thêm kho tư liệu của họ Đỗ chúng ta, vì chúng tôi tin chắc rằng  kho báu thư tịch cổ về tổ tiên xa xưa còn không ít trong các gia đình, các đền thờ, đình chùa, miếu mạo, nhất là ở những vùng phát tích, sinh tụ của người Việt cổ trên đất nước ta. Do bị hạn chế bởi các điều kiện chủ quan và khách quan, chúng tôi mới chỉ có trong tay một số tư liệu, thư tịch thành văn mà các gia đình, các làng xã còn giữ được.

BLL họ Đỗ Việt Nam không ai có chuyên môn và kinh nghiệm về nghiên cứu sử, nhưng với lòng kính tín tổ tiên chúng tôi vẫn tin rằng:

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo.

Đỗ Quang

*

TRÍCH ĐOẠN CÁC BẢN DỊCH HÁN NÔM LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN HÀNH TRẠNG CỦA CỤ ĐỖ QUI THỊ VÀ 08 NGƯỜI EM TRAI

Trích dịch: NGỌC PHẢ TRUYỀN THƯ CỦA TỪ ĐƯỜNG HỌ NGUYỄN (quyển thứ 2)

Năm Tân Mùi (971) niên hiệu Thái Bình, tháng Hai, ngày Tốt - Đinh Tiên Hoàng sai ta triệu tập 12 Sứ quân hợp nhất cùng tôn Đinh Bộ Lĩnh làm Vua (Thiên tử).

Đến ngày 20 tháng Hai (cùng năm) Đinh Tiên Hoàng cùng các khanh tướng đến nhà Tổ Bách Việt (miếu Hùng Vương) làm lễ dâng hương để báo ơn công đức. Lại phong ta cùng người em là Nguyễn Bặc làm Quốc công, lập ra các Ban, trùng tu miếu, điện, cấp tỉnh điền(1) Ruộng nằm ở giữa là của nhà thờ, cho người cày cấy ở 8 thửa xung quanh làm, nộp sản phẩm cho nhà thờ để lo việc đèn nhang đời đời về sau.

Thiết nghĩ, thân cây có muôn cành lá, vốn bởi ở gốc, nước có ngàn dòng vạn nhánh, vốn bởi ở nguồn. Mọi vật còn như thế, huống chi người ta sinh ra, đều thừa kế từ Tổ tiên ngày trước. Nay tiên tổ ta, lấy đạo CẦN (siêng năng) mà vun gốc, lấy đạo KIỆM (chắt chiu) mà mở rộng nguồn, đời đời tích lũy đức NHÂN, vậy nên cháu con nhờ đó mà nối được.

Là con cháu, há chẳng nhớ về ngọn nguồn xa xưa, vậy nay lập thành gia phả, ghi lấy mồ mả tổ tiên ta ở nơi nào, giỗ ngày nào, cho đến các cành nhánh, thế thứ đều có ghi chép để cho con cháu mai sau nối dõi, mãi mãi noi gương.

*

CÁC ĐỜI TỔ SƯ, XỨ CỬU LIÊN HOA (2)

Tổ ta từ núi Tản Viên xuống dựng nghiệp, làm các nghề: Thầy thuốc, làm ruộng, trồng dâu, nung gạch ngói, rèn kim khí ở miền Tây. Giáo hoá chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc, mở nhà truyền kinh, có công mở nước, có đức che chở cho dân, cho nên đời sau tôn làm Tiên Phật để cúng thờ. Cả thế giới chịu ơn lớn, cùng tôn sư trọng đạo, xin làm đệ tử đều nhớ về Tổ ta, chiêm ngưỡng ở các đền (thờ Thần), các chùa (thờ Phật).

Từ núi Tản Viên đến Tây Phương Cực Lạc, Sài Sơn, Thổ Ngoã, Phụng Châu, Tiên Lữ đến tướng địa Phong Châu tạo thành đất tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng; tam đầu (Tam Đảo, Ba Vì); cửu vĩ (9 miếu ở Phong Châu, đó là Cửu Long) truyền đời mãi mãi.

Dáng Tứ Linh, Cửu Long tượng trưng cho địa thế. Tổ ta định đô từ Lôi Bằng đến Lôi Phong, Lôi Đỉnh. (Lôi Bằng, đời sơ khai định đô, Lôi Phong đời Kinh Dương Vương; Lôi Đỉnh thời Triệu Vũ Đế).

Buổi sơ khai, tên nước là Cực Lạc. Phật hiệu là Di Đà, sinh ra ở Hoà Bình, nơi ở là núi Tản Viên, hoá ở Tây Phương Cực Lạc, mộ ở chân núi. Kỵ ngày Một tháng Tư.

Đế Thiên (Phục Hy) mộ ở Chợ Giời, Sài Sơn (Quốc Oai, Sơn Tây). Kỵ ngày mồng Bốn tháng Tư(3). Địa Mẫu (Mẹ Đất) mộ ở Cực Lạc, bên cạnh chân núi. Kỵ ngày mồng Một tháng Tư. Mẹ Đất dạy dân chuyên nghề làm ruộng, trồng dâu và chăm lo cứu khổ chúng sinh. Đời sau truy tôn là Địa Mẫu Chân Tiên.

Đế Viêm là người mở ra con đường văn minh sớm nhất: đã biết dùng lửa luyện kim, nung gạch ngói, biết se sợi, bện dây may mặc, biết phân định âm dương, ngũ hành, vạch quẻ bát quái.

Đế Viêm bị một học trò tên là Hiên Viên làm phản, đuổi Đế Viêm ra ngoài. Vì tuổi già sức yếu, ngài mất ở trên đường sang Phương Bắc. Bà vợ mất ở núi Thổ Ngoã.

Đế Khôi, hiệu là Thần Nông mất ở Phụng Châu, sau cải táng đưa về Tỉnh Trung, Đình Sở, huyện Quốc Oai (núi Tiên Lữ, đất Cổ Pháp). Mộ cụ Ông, cụ Bà đều ở khu này. Ngày kỵ mồng 6 tháng Sáu, trong các đền thờ Thần gọi là lễ hạ điền. (Trên toàn cõi Đông Nam Á, các ngày lễ đầu năm, cuối vụ thượng điền, hạ điền, cơm mới) đều dâng hương làm lễ để nhớ ơn.

Hữu Sào, Toại Nhân(4)  là bạn thân của Đế Viêm. Khi Hiên Viên mưu phản làm loạn, hai ông cất quân đánh đuổi Hiên Viên ra khỏi bờ cõi. Từ đó, Hiên Viên tự lập bên Bắc Quốc, xưng là Hoàng Đế, đóng đô ở Trường An, khởi nghiệp, giáo hoá dân sinh. Hiên Viên đã học nghề làm ruộng, trồng dâu, học văn tự, luyện kim, nung gạch ngói bên nước Nam của Phục Hy.

Hữu Sào, Toại Nhân nhiếp chính giúp Thần Nông giữ nước, yên dân. Khi Thần Nông trưởng thành lên ngôi Thiên Tử, đóng đô ở Phụng Châu, Long Môn, Trầm Sơn (núi Trầm). Hai vị cáo tuổi già về quê ở Sào Vực, chợ Thổ Long, huyện Chương Mỹ, nuôi Quốc Mẫu Diệu Trinh nương và 3 vương tử văn võ toàn tài cùng giúp Thần Nông giữ yên muôn dân. Hai ông hoá ở nơi này.

Đế Tiết sinh ở Phụng Châu, hoá tại xã Thanh Lãm. Mộ tại Hoàng Anh Mộc. Kỵ ngày mồng 9 tháng Giêng. Các Hoàng hậu và Vương phi, mộ đều ở đây. Đế Thừa, huý Sở Minh công, sinh ở núi Sở (cho nên gọi là Sở Minh công) nối ngôi xưng Đế, hiệu là Đế Thừa, hoá ở núi Sở, Tiên La, châu Thuần Lãm. Các mộ của Hoàng Hậu, Hoàng Phi đều ở đây. Kỵ ngày mồng 1 tháng Sáu.Đế Minh (con trưởng của Đế Thừa),  húy là Nguyễn Minh Khiết. Sinh ở tướng địa (đất quý) Tiên La, hoá ở Định Công (Hà Nội). Kỵ ngày 12 tháng Hai. Mộ ở chân núi Định Công. Hoàng Phi, mỹ nhân đều để mộ ở đây.

Đế Thừa (Sở Minh công) sinh được 3 con trai:

Thứ nhất là: Nguyễn Minh Khiết làm Đế Phương Nam.

Thứ hai là: Nguyễn Nghi Nhân là Đế Nghi, Phương Bắc.

Thứ ba là: Nguyễn Long Cảnh, còn gọi là Lý Lang Công. (tên khác là Ba Công, Long Đại Vương), hoá tại thôn Nguyệt Áng.

Đế Minh lấy Vụ Tiên nương (sinh ở Ngõ Hồ, hoá ở Phong Châu, mộ ở Nội Vũ, chùa Đại Bi, làng Ỷ La.

Đế Minh lấy thứ phi, hờ hững với Vụ Tiên nương nương. Bà cùng 8 người anh em đến động Tiên ở tỉnh Hoà Bình tu hành giáo hoá dân sinh. Khi Kinh Dương Vương trưởng thành lên nối ngôi, đón Thân mẫu về Phong Châu tu hành tại chùa Đại Lôi Âm. Ngày sinh mồng 8 tháng Tư, hoá ngày 15 tháng Bảy. Sau này Bà được tôn là Hương Vân Cái Bồ Tát, Sa Bà Giáo chủ có công sáng lập đạo hiệu Bà La Môn. Mộ ở Ỷ La, thành Đại La. Đạo Tiên tôn làm Thánh Mẫu đệ nhất tiên thiên.

Từ cổ đến nay chỉ có một nước. Nay phân là 3 nước, ắt phải có 3 vương, nên Kinh Dương Vương lấy 3 chữ Vương hợp lại thành chữ Quỷ, gọi tên nước là Xích Quỷ. Đời sau, gọi ba ông là Tam Toà Đức Chúa Ông, đạo tiên gọi là Phủ - Tam Phủ Công Đồng(5)

chú thích:

(1) Nguyên bản viết là "tỉnh điền". Có cách hiểu khác là ruộng cấy lấy hoa màu (hoa lợi) để cúng tế thì gọi là "tự điền", "tế điền".

2) Liên hoa: Nghĩa đen là hoa sen. Vậy nghĩa đen ở đây là chín toà sen.

(3) Cúng theo lệ vào mồng 4 tháng Tư. Tục lệ ở ta thường cúng giỗ vào trước ngày kỵ để tỏ lòng hiếu nghĩa.

- Theo truyền thuyết thì Đế Thiên (Phục Hy) thờ ở núi nơi có chùa Tây Phương ở thôn Yên(Yên thôn) xã Thạch xá, Thạch Thất, Hà Tây hiện nay. Cách đó vài trăm mét có đồi (núi) thuộc thôn Yên Lạc, xã Cần kiệm,Thạch Thất, Hà Tây, có chùa Cực Lạc, nơi thờ Địa Mẫu.

- Đế Viêm là Phục Hy: còn Đế Khôi, Thần Nông là một vị.

4)Theo các sách sử khác thì Hữu Sào và Toại Nhân chỉ là chuyện huyền thoại, không có thực.

5)  Đạo Tiên hay gọi là đạo Nội, thờ tam toà Thánh Mẫu. Tam phủ gồm: Thiên phủ (trời), địa phủ và thuỷ phủ. Và sau thêm nhạc phủ (nhạc là núi rừng) đó là tín ngưỡng của người Việt cổ, tồn tại cho đến ngày nay.

 Theo các sách sử khác thì Hữu Sào và Toại Nhân chỉ là chuyện huyền thoại, không có thực.

*

Trích BÁCH VIỆT (1) TỘC PHẢ

(Mật không đưa ra ngoài)

Kính trọng tưởng nhớ tới:

Tiên tổ có công với nước, có đức cứu dân tiếng thơm lưu truyền ghi bia đá cao vời vợi. Nhà Đinh hết đời này sang đời khác, phát tích một vùng nước rộng Hoa Lư, Cẩm Bình, nối liền hai thế đất bằng phẳng rộng rãi trên núi, nguồn nước kéo dài. Từ đó vua ở Hoa Lư, Nghĩa Lĩnh là đất kinh đô.

Đường đi trên núi sáng sủa rõ ràng cách xa rồi vậy. Lịch sử thời đại không quên, nhớ lại điều đã qua của tổ tiên chúng ta. Rượu bày để tế lễ ba tuần, kính thành hai chữ vốn bày lễ vật, soi xét lòng thành, ban cho điều phúc, điều may mắn, khiến cho trong họ hàng hưng vượng, đinh nhiều của lắm, thêm sự giầu sang, thờ cúng một, lòng coi làm trọng vậy. Cho nên 100 chi (nhánh) cao cao tằng tổ khảo, cao cao tằng tổ tỷ, chú bác, anh em, cô dì, chị em các vị có tên.

Kính xin:

Ông tổ đầu tiên: Kinh Dương Vương quốc chủ, tự Phúc Lộc, trời sinh cao quý không lường được.

Thứ hai: Lạc Long Quân quốc chủ, tự Phúc Thọ. Phật sống lâu không lường được.

Thứ ba: 18 Vua Hùng quốc chủ, hiệu 18 Long Thần Già Lam (một ông quản tu đạo thành tiên), 100 bộ Đức Ông đều lấy hiệu Khang Ninh: 50 thần nước, 50 thần núi, tự là 100 thần sông núi.

Thứ tư: Phù Đổng Thiên Vương quốc chủ, tự Thánh Ánh Sáng, hiệu Phúc Quang (tên Cương).

Thứ năm: Tản Viên thần núi quốc chủ, tự Phúc Nguyên (Nguồn phúc).

Thứ sáu: Bình Dương quốc chủ, tự Phúc Thịnh.

Thứ bảy: Trưng Nữ Vương quốc chủ, hiệu Diệu Minh, hiệu Từ Thuận.

Trời Nam có 72 đền thờ Đông Trù Tư Mệnh Phủ quân(2) cùng lại phối hưởng (phối hưởng là khi cúng giỗ một vị tổ nào, Mười các vị tổ khác cùng tới dự).

Kính Mười các ngài, các vị vua đời trước: Hoàng hậu, Vương phi, Mỹ nương Công chúa muôn vàn linh thiêng cùng lại phối hưởng.

Xin phép kính trọng:

Tiên tổ Nguyễn Tướng công tên húy là Minh, tự Phúc Đình, hiệu là Khương Thái công(3), sinh ở làng Minh, hoá tại Khương Thượng (Hà Nội). Khương Thượng, Khương Trung, Khương Hạ, Khương Đình, đổi họ là Nguyễn; bà Đỗ Quý Thị tên húy là Sơn Trang, hiệu Diệu Tín, hiệu Phật là Hương Vân Cái Bồ Tát. Bà sinh ra Kinh Dương Vương. Bởi nhân duyên gia đình không hoà thuận. Bà xuất gia đắc đạo ở Tây Vực. Bà sinh ở Nghi Tàm, Ngõ Hồ, sau này là Tây Hồ, Hà Nội; hoá ở Nội Tích, Đại Lôi (bây giờ là Ba La), chùa Đại Bi (thời Pháp tàn phá, thời Duy Tân trùng tu, nay còn ở đấy). Mộ táng trong chùa Bồ Đề tát ma ha tát(4) ở Ba La (bí mật) ngày giỗ 15 tháng Bảy.

Ông tổ đầu tiên là Kinh Dương Vương, tự Phúc Lộc, sinh ở Vân Lôi, Nghĩa Lĩnh, Phong Châu, hoá tại Phong Châu, an táng trong chùa Hương Tích, núi Hoa Cái, làng Vân Lôi, khu Văn Nội, xã Thắng Hiền, phủ Phụng Bà Động Đình tiên nữ, tự Thanh Minh, tên huý là Ngàn, hiệu Từ Phú, an táng ở đất bí mật Xích Hậu, Tiên La (ngày nay là thôn Văn La, sau chùa Ba Vì?). Ngày giỗ mồng 3 tháng Ba.

Chia ngành họ:

Chi 1: Hùng Nghiêm, tự Phúc Nghiêm, hiệu Pháp Phong (an táng tại Hoa Cái Sơn, chỗ cũ cung điện Phong Châu).

Bà: hiệu Diệu Đức, an táng tại thôn Văn La, Tiên La.

Chi 2: Hùng Quyền, tự Phúc Quyền,  hiệu Pháp Vũ (an táng tại khu chùa, cánh đồng Thượng Khánh cùng ấp).

Bà: hiệu Từ Nhân, an táng tại cửa nhà thờ Thành Tiên Sơn.

 Chi 3: Tự Phúc Lâm, tên húy Thọ, Hùng Hiền hiệu Pháp Lôi, an táng tại ba gò đất trên đồng Bảo Cựu, sau đổi Bảo Hoa.

Bà: hiệu Từ Quý, sử ghi chép Âu Cơ (an táng ở Tiên Lạc, Động Hiền) ngày giỗ mồng 6 tháng Ba.

 Chi 4: Hùng Quyên, tự Phúc Quang hiệu Pháp Điện, an táng tại Hy Sơn, giếng Liên Quyết Cường, ấp Thủy Tiên khu Văn Nội.

Bà: hiệu Từ Thọ, an táng tại cửa Sơn Trạch ấp Thủy Tiên.

Chi 3: Thừa kế làm trưởng chi. Từ đây, phân chia 100 chi, là 100 họ, lấy Nguyễn làm trưởng tộc(5).

Cao tổ khảo tên húy Lân tức là Lân Lang Vương (Đ.T) làm thần nước thứ nhất, hiệu Hà Bá, tự Phúc Tâm, giỗ ngày 28 tháng Năm, an táng tại ấp Thủy Tiên, Đào Nguyên, Tiên Sơn.

Tiên tổ 100 chi, hiệu Linh Lang tự Phúc Minh là thần linh hoặc thần nước, thần núi, cúng giỗ ngày 1 đến ngày 4 tháng Tư ở chùa Phúc Thiền, mọi chùa chiền đều tôn là Đức Ông (an táng tại đất bí mật).

Chú thích:

(1) Từ ngữ "Việt" ông cha dùng ở đây mang biểu tượng tốt đẹp. Kết cấu của từ Việt  như là một trái cây trong đó có chữ (mễ, là thóc gạo), hình ảnh của nền văn minh nông nghiệp lúa nước.

(2) Phủ quân không phải chỉ chức, tước hoặc danh hiệu nào đó, mà là từ ngữ viết trong phả, trong bài vị, xưng hô tỏ ra tôn kính đối với người bố quá cố, thường được viết sau tên hiệu. Đã từ lâu người ta ít dùng danh từ này.

(3) Khương Thái Công (Đế Minh) được nêu lên trong sách " Tố Thư" (Tức là sách vốn từ xưa để lại, (ĐT.) tác giả là Hoàng Thạch Công. Trong sách này giới thiệu về binh pháp của Khương Thái Công.NXB Thanh Hóa 1996. Xem ở phần Hai tham khảo sẽ rõ hơn.

(4) Ma ha tát nghĩa là bậc đại thánh hay Bồ tát đại thánh. Tại các chùa ở nước ta từ xưa đến nay, trong các buổi lễ, mỗi lần khai kinh đều mở đầu câu: Nam mô Hương Vân Cái bồ tát ma ha tát...Nam mô nghĩa là xin theo, quy y; Hương vân cái là mẹ Hương vân; ma ha là lớn; tát là Bồ tát.

(5) Con số 100 đây là chỉ số đông chứ không phải là con số tuyệt đối. Có thể là do về sau dịch từ chữ Hán "Bách tính" (Bách là 100, tính là họ). Theo ngôn ngữ Trung Quốc thì không phải với nghĩa đen là 100 họ mà là đông đảo nhân dân, là quảng đại quần chúng. Nguyên Siêu hiệu là Phương Đình (thường gọi là thần Siêu), trong sách của ông với tên Phương Đình địa dư chí (Nxb VH-TT năm 2001, tr 14 ghi rõ: "bộ lạc rất nhiều nên gọi tổng quát là bách".

*

KHẢI ĐỊNH NĂM THỨ 9 (1924): HỌP 100 CHI HỌ THÔNG QUA BẢN SAO CHÉP NGỌC PHẢ.

Từ buổi đầu khai thiên lập địa phải có người nối tiếp, bởi vì chưa có văn tự mà ghi chép, ông tổ thúc Nguyễn Phi Hương nói rằng: Xuất xứ của sự thông hiểu, việc thành công là do lao động, lấy cái vui của tự nhiên, cái hư không của bầu trời, đến cái to lớn mà thôi, bốn mùa thành một năm, mà không hiểu rõ ràng việc đời xưa để lại, sự cao thượng không sát thực tế, đến việc to lớn mà không hiểu được công lao vạn vật đội ơn mà lộ dấu vết, như vậy thật rất thanh hư và rất lớn lao thay.

Nhà Làng(1) từ Thiên Hoàng xoay vần đến dẫy núi Ngũ Nhạc chầu vào, không còn nước dâng(2) không còn thâm tiêu. Tiên thời tiếng tăm, rồng thời linh thiêng, ở nhà chật hẹp, ông họ Vân tên gọi Minh Khiết, hiệu là Thái Khương Công đời đời ở Châu Phong (là kinh đô) làm chủ trưởng, hiệu là quan lang, của cải giàu có, sức mạnh có thể đánh chết hổ, bẻ gẫy sừng trâu (bắt hổ, đánh trâu), người em là Nghi Nhân, và em nữa là Long Cảnh cũng có sức mạnh.72 động chủ (chúa động) nghe tiếng đều sợ hãi. Nhân vì loạn quân mũ đỏ Chân Lạp, anh em, hầu hạ phục dịch lẫn nhau, hiệu lệnh ban bố xuống mọi làng xóm, đều không bị tan tác, ba vị tổ thoả lòng sung sướng của mình.72 động chủ đều tôn xưng ba vị là "đế" vui vẻ. 72 động chủ kế tục kết nghĩa anh em lập thành Tổ. Đời sau, suy tôn hiệu là Tam phủ công đồng(?).

Cao cao tổ khảo tên chữ là Thái Khương Công, cũng là Khương Thái Công, giỗ ngày 2 tháng Hai tại Khương Thượng (ngày nay thuộc Hà Nội), mộ ở xã Thắng Hiền, Hương lang.

Cao cao tổ tỷ Đỗ Quý Thị tên gọi là Trang, người Ngõ Hồ, vùng Nghi Tàm, đúng lúc Tổ thúc Nguyễn Nghi Nhân lấy Đỗ Quý Thị làm vợ đồng thời Thái Khương Công cũng yêu làm vợ. Bởi vì hai vị tiên tổ cùng một bọc sinh đôi, diện mạo giống nhau, thường thường không thể phân biệt được ai là anh, ai là em, qua lại với nhau. Điều suy nghĩ của bà chỉ có một Công chúa Đoan Trang họ Đỗ, tên Trang là con gái vua Hải Vương.

Nhân vì Cao Cao Tổ Thái Khương Công đã nghi Công chúa Đoan Trang là một phụ nữ bất chính, có ý tình nghi nên đưa bà từ Chính thất xuống làm thứ phi. Bà oán giận bỏ nhà đi tu, vào động, dùng sự dạy dỗ để cảm hoá người khác.

Bà dạy dỗ và nuôi lớn con trai của động, đời sau được tên tuổi là Tiên Phi Động ở tỉnh Hoà Bình(1). Có 8 người em trai của bà có thứ bậc trên dưới cùng về trông nom giúp đỡ dạy cháu ở Sơn Động. Công việc trọn vẹn hoàn toàn đạt được thành tựu của người tu hành.

Tám vị đều đạt Thần hiệu: "Bát Bộ Kim Cương bồ tát"

1). Đỗ Xương, hiệu Thanh Trừ Tai Kim Cương.

2). Đỗ Tiêu, hiệu Tịch Độc Thần Kim Cương.

3). Đỗ Kỹ, hiệu Hoàng Tùy Cầu Kim Cương.

4). Đỗ Cương, hiệu Bạch Tánh Thủy Kim Cương.

5). Đỗ Chương, hiệu Xích Thanh Hoà Kim Cương.

6). Đỗ Dũng, hiệu Định Trừ Tai Kim Cương.

7). Đỗ Bích, hiệu Từ Hiền Thần Kim Cương.

8). Đỗ Trọng, hiệu Đại Thần Lực Kim Cương.

Chú thích:

(1) Nhà Làng : Tức là tên gọi tôn kính, thân thiết đối với ông tổ Khương Thái Công - Nguyễn Minh Khiết, cùng gia đình

(2) Theo khảo cổ học, cách đây 5000 năm là thời kỳ biển tiến. Nước biển dâng cao hơn hiện nay khoảng 4mét. Phải chăng, đây là thời kỳ nước biển đã hạ xuống? Và là thời kỳ cụ Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) dời núi xuống vùng đồi và đồng bằng mở ra, sau khi nước biển hạ xuống.

*

SỰ TÍCH NƯỚC XÍCH QUỶ, TỔ LÀ KINH DƯƠNG VƯƠNG, TÊN CHỮ LÀ PHÚC LỘC

Tổ Kinh Dương Vương, húy Quảng(1, Quốc sử gọi là Lộc Tục, tên chữ là Phúc Lộc, con của Thánh tổ Nguyễn Minh Khiết và Vụ Tiên. Khi nhỏ ở động Tiên Phi tỉnh Hoà Bình, sau ngày đánh thắng Ma Mạc ở Tử Di Sơn, được Phụ Vương phong làm Kinh Dương Vương, cho cai trị đất Kinh Châu, Dương Việt, có chú là Long Cảnh cùng Bát Bộ Kim Cương phù trợ. Khi Đế Minh băng hà, 15 bộ đồng lòng tôn Ốc tổ làm Thiên tử, sau tôn hiệu là Nam Triều Thánh tổ Ngọc hoàng Thượng Đế, hoá ở Phong Châu. Mộ ở núi Hoa Cái. Kỵ ngày 25 tháng Chạp. Ốc tổ lấy con gái Động Đình Quân, tên bà là Đăng Ngàn, về ở núi Nghĩa Lĩnh, hoá ngày 3 tháng Ba, an táng ở nơi gọi là Xích Hậu, thôn Văn La (trước cửa đình). Đời sau tôn hiệu là Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu.

Ốc tổ sinh được 5 người con. Một bị mất sớm. Bốn vị là Tứ Phủ, có tứ vị Triều Bà, gọi là Tứ Phủ Công Đồng.

Tên gọi 5 người con như sau:

- Con trưởng là Nguyễn Nghiêm huý là Hùng Nghiêm, đời sau tôn là Phong Thần. Kỵ ngày 16 tháng Mười. Mộ ở sau đình Văn Nội.

- Con thứ là Nguyễn Quyền huý là Hùng quyền, tên chữ là Pháp Vân. Kỵ ngày 7 tháng Chạp. Mộ ở sau đình Văn Nội.

- Con thứ ba là Nguyễn Đô, huý là Vũ Thiên Hầu, tên chữ là Pháp Vũ. Kỵ ngày 4 tháng Tư. Mộ ở sau đình Văn Nội. Sau chiêu hồn nhập mộ.

- Con thứ tư là Nguyễn Khoản (sử ký là Sùng Lâm)Lạc Long Quân. Mộ để ở Ba Đống đồng Thượng Bảo Đà. Kỵ ngày 28 tháng Hai.

- Con thứ năm là Nguyễn Hoạch, tự là Pháp Điện, huý là Quang Anh. Táng tại miếu Công Minh, châu Bảo Hà. Kỵ ngày 15 tháng Năm.

chú thích:

(1) Có chỗ gọi là Quăng. 

*

THỦY TỔ TỶ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT ĐỖ QUÍ THỊ  (Quý bà họ Đỗ)

Có tên là Ngoan, bị chồng bỏ thì đem con vào Động Tiên Phi (ở tỉnh Hoà Bình) tu hành, dạy dân làm điều thiện, bỏ điều ác và nuôi con là Nguyễn Lộc Tục trưởng thành. Đạo hiệu là Diệu Tín Thiền Sư.

Trong nước có giặc Ma Mạc quấy phá ở núi Tử Di Sơn, Bà cho con đem bánh chưng, bánh dày dâng lên Đức Ông Nguyễn Minh Khiết (hiệu Thái Khương công). Được Đức Ông khen và giao cho binh quyền dẹp giặc. Nguyễn Long Cảnh là chú thấy cháu là con trưởng còn ít tuổi, xin anh cho đi cùng với cháu.

Dẹp được giặc Ma Mạc, Lộc Tục lúc trở về đi qua hồ Động Đình, được Động Đình quân gả con gái cho, đó là Mẫu Thượng Ngàn. Còn có 8 anh em trai của Bà (có nghề rèn đúc đồng, làm vũ khí) là:

1. Đỗ Xương

2. Đỗ Triệu (Tiêu)

3. Đỗ Hiệu (Kỹ)

4. Đỗ Cường

5. Đỗ Chương

6. Đỗ Dũng 

7. Đỗ Bích

8. Đỗ Trọng (1)

Đời sau, tôn hiệu Bà là Hương Vân Cái Bồ Tát (Tây Vương Mẫu). Người dân tộc Mường- Hoà Bình gọi Bà là Sơn trại Chúa Mường.

Tám em trai Bà được tôn hiệu là Bát Bộ Kim Cương bồ tát.

Bà sáng lập ra đạo Bà La Môn. Người Kinh theo đạo này gọi Bà là Nương và đạo Bà Nàng.

Mộ của Bà đặt ở vùng Ba La ngày nay. Mộ thật của Bà không biết ai đã cho chuyển về Mả Thạch (Tiên Đào) Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây (?)

Tượng Bà chuyển di đến Đông Lao - Hoài Đức. Người ta lầm tưởng đó là tượng Nguyễn Công Triều.

Nếu trong nhà có điều lo sợ cho một phụ nữ hãy gọi:

"Ba hồn chín vía người đó về che chở cho con cháu".

Khắp đất nước các chùa đều đặt trước Tam Bảo một toà tượng Cửu Long. Đó là 9 con rồng tượng trưng cho 9 con suối và 9 ngôi mộ các Vua Hùng đã có công sinh ra 9 họ Hùng Vương gọi là Thủy tổ Cửu tộc. Còn tượng bà Hương Vân Cái Bồ Tát đứng trong vòng càn khôn của toà tượng này. Trong vòng càn khôn, không phải là tượng Thích Ca Sơ Sinh (vì ở Việt Nam thờ tiền Thần hậu Phật)(1). Toà tượng Cửu Long còn là biểu tượng sự tích Rồng Tiên.

Rồng (Thổ Long) đắp bằng đất, có con dài đến ba cây số để đánh dấu khu nghĩa địa an táng dòng họ các Vua Hùng.

Tiên (Địa Tiên) đắp bằng đất, có tên là Tiên Na và Tiên Đào. Tất cả các di tích ngày nay vẫn còn (Tiên Đào, các cơ quan đã làm nhà, hợp tác xã đào đất đóng gạch, gần hết). Mỗi chùa thờ ở Tam Bảo đều có một nàng tiên dâng na, một nàng tiên dâng đào là do sự tích này (số là các nghĩa lĩnh an táng dòng họ các Vua Hùng).

Ngày mồng 8 tháng Tư là ngày đản(2) Đức Hương Vân Cái Bồ Tát. Ngày Rằm tháng Bảy là ngày hoá của Bồ Tát.

Làng Vân Lôi ta dòng trưởng có ruộng nhà thờ, gồm 100 mẫu chia cho ba thôn.

Mã sắm trong ngày lễ giỗ phải như sau:

- Một cái mũ chéo có tàn vàng tán tía.

- 18 mũ bình Thiên cho 18 Vua Hùng có công thống nhất đất nước.

- Một con voi vàng, một con voi đen, một con ngựa hồng, 100 hầu gái, 100 con trâu bò, 100 con lợn, cờ và võng lọng.

- Một ông nốt 3 đầu người mình rắn.

- Một ông nốt 9 đầu người mình rồng.

- Một ông nốt 12 đầu người mình rồng.

- Một ông nốt 11 đầu người mình rồng.

- Xiêm y cho 12 tiên nương, 18 địa ngục.

Lễ ba ngày, ba đêm, mỗi năm hoá mã ở một vùng đất để nhớ rằng đây là nơi yên nghỉ của các Vua Hùng và Lạc Hầu, Lạc Tướng.

chú thích:

(1) Ở Việt Nam có tục thờ Thần đằng trước, Phật đằng sau (tiền thần, hậu phật). Ơ các làng thường một bên đền, một bên chùa (đền, chùa gần với nhau). Theo tộc phả Bách Việt thì Thích Ca Mâu Ni đã đến đây tu thành chính quả. Thích Ca sinh ra cách nay hơn 2.545 năm, tức hơn 500 năm trước công nguyên. Còn trên đất Việt xa xưa cách đây 5.000 năm đã có đạo Sa Bà (?). Theo phả cũ còn nói rõ: Đây là trung tâm giáo chủ của 37 vương quốc theo đạo Sa Bà? Về sau, Thích Ca đã sang đây tu thành chính quả.

(2) Đản là ngày sinh. Xưa nay ở nước ta hằng năm thường lấy ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch là ngày Phật đản, tức ngày sinh của Phật. Đây chính là ngày đản của Hương Vân Cái Bồ Tát?

*

ỐC TỔ BÁCH VIỆT TRIỀU THÁNH TỔ

ĐỆ NHẤT QUẢNG GIÁO KINH DƯƠNG VƯƠNG

Kinh Dương Vương húy Nguyễn Lộc Tục tự là Phúc Lộc (đổi họ Thần Nông thành Hồng Bàng) là con trai trưởng của Thái Khương Công - Nguyễn Minh Khiết và bà Hương Vân Cái Bồ Tát.

Thánh tổ thuở mới sinh bị cha đuổi hai mẹ con, lấy vợ khác. Bà giận thân đem con đi tu ở Hoà Bình. Khi Thánh tổ lớn lên đánh được giặc Ma Mạc và được Động Đình quân đem Mẫu thượng Ngàn gả cho.

Nhân đóng quân ở đất Kinh Châu, Dương Việt, Đức Ông Nguyễn Minh Khiết phong cho Thánh tổ làm Kinh Dương Vương. Từ đấy đất nước thanh bình, nhân dân an lạc.

Khi cha Nguyễn Minh Khiết mất, đất nước của cha ông do các em của Người trị vì. Nhưng cả 15 bộ tộc đều tôn con trưởng lên nắm quyền cai quản đất nước. Ngài đặt tên nước là Xích Quỷ. Thời ấy thường lấy da thú làm quần áo, đội sừng trâu bò lên đầu, trà trộn vào muông thú để săn bắn.....


à

bia_pha_goc

 Ảnh chụp một trang "Bách Việt tộc phả"

* Đây là tên (chữ Hán) bìa bản phá gốc:Chú giải:

- Cột bên phải: Xích Quỹ quốc, Giao Chỉ bộ, Mê Linh huyện, Văn Lang trang, Văn Nội khu.

- Cột giữa: Cổ Lôi Ngọc phả truyền thư, Bách Việt Nguyên trưởng.

- Cột trái: như kim (nay là) Việt Nam quốc, Hà Nội tỉnh, Thanh Oai huyện, Thắng Lãm trang, Vân Nội.

 

 Đỗ Quang sưu tầm giới thiệu

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn