Thứ sáu, 03/07/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1125
mod_vvisit_counterHôm trước1196
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Giới thiệu sách Cổ Loa- Làng Quậy E-mail
21/03/2007

sach 
Cổ Loa là một địa danh lịch sử, kinh đô nước Âu lạc từ năm 257 TCN, nhiều phong tục địa danh từ lâu đã đi vào lịch sử như Làng Quậy, tục đón anh cả Quậy nhưng chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra những giải thích thoả đáng và thuyết phục.

Gần đây Ban liên lạc Họ Đỗ Việt Nam nhận được cuốn sách "Cổ Loa - Làng Quậy" do ông Đỗ Ngọc Liên gửi tặng. Là người sinh ra và lớn lên ở Làng Quậy (tên chữ là làng Hà Vĩ) nên tác giả rất gắn bó và yêu mến quê hương. Có năng khiếu về nghệ thuật, ông đã sáng tác nhạc, viết kịch, rồi tự tổ chức dàn dựng, biểu diến cho bà con trong làng xem, mấy năm nay ông bỏ nhiều công sưu tầm nghiên cứu những thần tích, ngọc phả và những câu chuyện vẫn lưu truyền trong dân gian có liên quan để viết thành sách "Cổ Loa - Làng Quậy". Là  vùng địa linh nhân kiệt, làng Quậy cũng là nơi có nhà thờ Tiến sỹ Đỗ Túc Khang, công trình được Nhà nước công nhận là "Di tích lịch sử văn hoá" năm 1990. Sách dầy trên 80 trang in trên giấy đẹp, có nhiều ảnh màu minh hoạ.

Ban Website hodovietnam xin cám ơn tác giả Đỗ Ngọc Liên và trân trọng giới thiệu một số trang trong cuốn sách này.

CỔ LOA - TRANG TRẠI HÀ HÀO VÀ LÀNG QUẬY

* Từ gọi: Hà Hào. Hay: Làng Quậy và hiện tại còn gọi là: Làng: Hà Vỹ. Ba từ đó đều là một.

 

Dân Cổ Loa lúc bấy giờ gọi là dân "Chạ Chủ". Dân số không đông; nhưng ở một nơi đất đắc địa. Đứng từ Cổ Loa nhìn phía Bắc: đó là khu vực trũng, dấu tích của một đuôi sông. Toàn vùng đồng lầy, nổi lên những gò đống nhỏ. Mùa nước như một biển hồ. Mùa hạn như một lòng chảo, toàn khu như một đầm lầy rậm rạp.

Chiếu chỉ Vua truyền; dân làng phải chấp nhận; vui vẻ xin Vua về phía gò và đầm lầy kia để sinh sống. Dân chủ yếu sống về cấy lúa nước (cấy một vụ là chính), còn một vụ ngập nước thì bắt cá kiếm sống; nên TRANG TRẠI HÀ HÀO có tên gọi từ đó. Cuộc mưu sinh vất vả, phải vật lộn với thời tiết khắc nghiệt. Ngạn ngữ còn truyền lại câu:

"Quậy ủ, Chủ cười,

Quậy tươi, Chủ khóc!"

Nghĩa là: đồng lúa làng Quậy úng lụt, mất mùa, thì đồng lúa đất Chạ Chủ được mùa. Khi đồng lúa Quậy được mùa, thì đồng lúa Chạ Chủ khô, hạn hán.

Thục An Dương Vương nhận thấy tấm lòng của dân "Chạ Chủ" một lòng trung với Vua, đã rời nơi "chôn rau cắt rốn" của mình mà không đòi hỏi điều kiện gì; lại đến một vùng đất trũng sống vất vả. Vua bèn tuyên chiếu chỉ: Ban cho dân Chạ Chủ một ân sủng đặc biệt: "Hằng năm được trực tiếp gặp Vua một lần để thỉnh cầu những điều dân mong muốn...".

Vua quyết định ngày Mồng Sáu tháng Giêng hàng năm đều mở hội(*). Các quan dịch phải ra tận bến Ninh Kiều (nay là ga Cổ Loa) để đón các đàn anh Chạ Chủ. Đại diện đoàn bô lão của Chạ Chủ sẽ đọc một "MẬT KHẨN" để tâu Vua. Và, mở cửa đền cho toàn dân làm lễ hội. SỰ TÍCH VỀ TÊN GỌI: "BỎNG CHỦ". Vua An Dương Vươngtruyền cho ba quân, nhà nhà ở trong thành nội, sấy thóc nếp, rang thành bỏng và cho mật vào ép thành khuôn, để khi hết hội tiễn anh cả (Chạ Chủ) bằng mười phong bỏng. Bỏng đó Vua đặt tên là "Bỏng Chủ" - Bỏng để tiễn chủ ra về. Từ đó mới có tên gọi đến ngày nay.

Thế hệ thứ nhất và thứ hai của dân Chạ Chủ đều yên bình. Đến khi người cháu nội lớn lên (giả sử sau 20 năm). Lúc này dân số Trang Trại Hà Hào đông lên. Trước kia nhà Vua đã ân sủng cho Trang Trại Hà Hào, miễn trừ các khoản thuế Điền địa, và phu phen tạp dịch. Nay đời sống dân đã khá lên, nhà Vua có huy động chút ít đóng góp cho việc gìn giữ đất nước..., khi chiếu của Vua truyền đến, những đứa cháu ỷ thế của ông cha được ân sủng, nên ban đầu thường nói ngang, chưa chịu chấp thuận ngay. (Nhưng khi được ông, cha khuyên bảo) đã ngoan ngoãn chấp hành.

Vua nghe chuyện biết vậy, bèn gọi là: "Anh cả Quẫy"! vì từ "Quẫy' khó gọi, nên sau đọc chệch sang: "Anh cả Quậy"!

Chữ "Quậy" khác với "Chú Cuội" ngồi gốc cây đa.

Ở vùng Kinh Bắc còn lưu truyền miệng một câu:

"Ăn kẻ Nối, nói dối kẻ Quậy!"(*)

Xét về hoàn cảnh kinh tế lúc bấy giờ, dân Quậy ngoài nghề cấy trồng lúa nước, còn phát triển một số ngành nghề phụ khác như: thợ mộc, thợ nề,...(ngày nay làng Quậy nằm trong vùng làng nghề nổi tiếng của đất nước) như: mộc, nề, sơn mài, thêu ren, thảm len...

Trong việc làm nghề mộc, nề...đều phải rời quê hương, sang các vùng lân cận để xin việc làm. Từ đó những người con của làng Quậy phải tiếp xúc với nhiều người; quan hệ xã giao phát triển, nên nói giỏi, tay nghề giỏi, mới kiếm được đất sống. Nhất là những chàng trai đang ở độ tuổi thanh xuân, từ 18 đến 22 tuổi (mà tục lệ ở làng Quậy con trai, con gái lấy vợ lấy chồng sớm. Nữ có thể từ 10 đến 12 tuổi. Nam từ 8 đến 10 tuổi đã dựng vợ gả chồng). Nên có anh ở nhà đã có 2 con, nhưng khi ra ngoài mới 20 tuổi, các cô gái thiên hạ cứ tưởng chưa có vợ. Hoặc những cô gái 18, 19 tuổi đã có 3 đến 4 con, ra ngoài, các chàng trai nhìn tưởng chưa chồng. Nên có câu ca:

"Lấy chồng từ thuở 13,

Đến năm 18, thiếp đà 5 con.

Ra đường ngỡ tưởng còn son,

Về nhà, thiếp đã năm con với chàng".

Có lẽ câu ca ấy cũng xuất xứ từ làng Quậy? Sự "nói dối", ở đây có thể là ở khía cạnh đó.

LỜI BÀN: Nguồn gốc của chữ "Quậy" không phải có từ ngay khi di dời dân từ "Chạ chủ" Cổ Loa về Trang Trại Hà Hào. Bởi nếu kháng lệnh Vua, sẽ bị chu di tam tộc, hay cửu tộc ngay. Không thể có sự ân sủng của nhà Vua cho dân Chạ Chủ.

Nguồn gốc của chữ "Quậy" không phải có từ ngay khi di dời dân từ "Chạ chủ" Cổ Loa về Trang Trại Hà Hào. Bởi nếu kháng lệnh Vua, sẽ bị chu di tam tộc, hay cửu tộc ngay. Không thể có sự ân sủng của nhà Vua cho dân Chạ Chủ.

Vì vậy chữ "Quậy" mãi về sau (khoảng 20 năm) mới có tên gọi.

Những con chó ở Cổ Loa cũng được Vua chiều chuộng. Vì con chó đã tìm được nơI đất tốt cho nhà vua xây dựng Kinh đô, nên Vua chiều con chó.

Điều đáng để lại cho con cháu bây giờ và mai sau học hỏilà: Sự trung với nước; vì lợi ích quốc gia. Dân Chạ Chủ ra đi với hai bàn tay trắng, không đòi hỏi điều kiện gì, nên nhà Vua mới ân sủng. Hằng năm cứ đến ngày Mồng Sáu tháng Giêng Vua mở hội. Dân ta có câu:

"Sống bỏ con bỏ cháu

Không bỏ ngày Hội Mồng Sáu tháng Giêng".

Dân làng Quậy, lại cử đoàn Bô lão về dự để mở hội; và, lại đọc "MẬT KHẨN" tâu Vua, và là chủ tế.

Ông Chu Trinh (Ban di tích lịch sử, văn hoá Đền Cổ Loa) đã nói:

..."Anh cả Quậy về, là về với vua Chủ, về nhà mình. Nên anh cả Quậy có quyền thắp hương trước và khấn trước, (như trong gia đình, người con trưởng khấn Tổ tiên ông bà). Tục lệ đó có trên hai ngàn năm nay, không có nơi nào có được như vậy. Chúng ta phải gìn giữ và truyền lại cho con cháu mai sau..." (Lời phát biểu trong Ngày lễ hội mồng Sáu tháng giêng năm 2002, tại Đền Cổ Loa).

* Nội dung của "MẬT KHẨN" khi tâu Vua còn sống, là những điều dân Chạ Chủ (làng Quậy) thỉnh cầu xin Vua. Ví dụ như: - Miễn thuế, do mất mùa lũ lụt; miễn giảm phu dịch v.v...Nên khi đọc cho Vua nghe chỉ đọc thầm bên trong nhà Đại Bái, không ai nghe được. Nên nước gọi là: "MẬT KHẨN".

* Sau khi Vua mất - Bản "MẬT KHẨN" trở thành một bài văn tế, nêu công đức và sự anh minh của Vua Chủ. Nên kỳ công của toàn thành (Cửu long thành xây đắp); và, cầu cho Quốc Thái, dân an. Bản "MẬT KHẨN" được đọc ở ngoài nhà Đại bái để toàn dân chiêm ngưỡng. Chiếc chiếu trải ở thềm nhà Đại Bái, chỉ có anh cả Quậy được quỳ đọc. Đọc xong lại cuộn chiếu đó đi, không ai được quỳ ở chiếu đó. Nay dưới chế độ XHCN - dân làng Quậy đồng ý để chiếu ấy không cuộn đi.

(Toàn văn bài "MẬT KHẨN" ở trang tiếp).

Nghĩa tình Cổ Loa, làng Quậy bắt nguồn từ xa xưa, nay vẫn được duy trì, với truyền thống tốt đẹp của ông cha.

 

 

 

 

LÀNG QUẬY - ĐẤT ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

 

Chúng ta - những người dân của ba làng Quậy, rất tự hào vì đã biên soạn được Lịch sử ba làng Quậy.

Dân ba làng Quậy, thờ năm vị Thần hoàng. Ngôi đình cổ kính thờ 5 vị Thần đã được Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cấp "Bằng Di tích lịch sử Văn hoá" (ngày 30/9/1989). Và Nhà nước công nhận "Di tích lịch sử văn hoá" nhà thờ Tiến sỹ Đỗ Túc Khang (ngày 9-1-1990). Đó là công lao của Tổ sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn. Chúng ta phải cảm ơn bốn vị này, vì họ là người thắp sáng thêm bó đuốc cho làng Hà Vỹ.

1. Đỗ Duy Lục (sinh 1919): Trưởng chi 2 họ Đỗ thôn Giao Tác (Đỗ tộc Ất chi). Hậu duệ đời thứ 17 của tiến sỹ Đỗ Túc Khang.

2. Đỗ Nguyễn Tửu (sinh 1920): Tức Hoàng Viết Phục - nguyên là giáo viên Trường Đảng Hoàng Văn Thụ, Liên khu Việt Bắc. Cán bộ lão thành cách mạng (đã nghỉ hưu). Hậu duệ đời thứ 18 của tiến sỹ Đỗ Túc Khang.

3. Đỗ Ngọc Tiến (1933-1997): Kỹ sư Thủy sản (đã nghỉ hưu). Hậu duệ đời thứ 18 của tiến sỹ Đỗ Túc Khang.

4. Đỗ Văn Bảng (1935): Tức Hồng Tiến Bảng - Thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyên là chủ nhiệm Văn hoá quần chúng, Binh chủng Công binh đã nghỉ hưu. Hậu duệ đời thứ 18 của tiến sỹ Đỗ Túc Khang).

Phải khẳng định một thành công lớn của bốn người này, từ năm 1986 họ đã miệt mài, không quản ngày đêm, tham khảo tài liệu, dịch thuật chữ Hán, để đi đến kết quả của một làng quê - Một làng cổ của vùng Kinh Bắc, đó là Làng Quậy - hay Hà Hào Trang - Hà Vỹ Xã - Hà Lỗ Tổng - Đông Ngàn Huyện - Từ Sơn Phủ - Bắc Ninh Tỉnh.

ĐẤT KINH BẮC: Một mảnh đất:

- Địa linh, nhân kiệt

Xuất nhập hanh thông

- Đất thiêng, người giỏi

Ra vào may mắn!

Phong thủy địa lý tốt lành; nằm trong vùng non sông cẩm tú:

Lưỡng Cổ sinh Vương

Ngũ Phù sinh Thánh.

Ứng với Âm Dương ngũ hành. Nơi đây:

- Có Cổ Loa: - An Dương Vương: Âm phù

- Có Cổ Pháp: - Lý Thái Tổ: Dương phù

Đẹp biết bao! Ngũ Phù sinh Thánh. Có: Phù Đổng - Phù Dực - Phù Ninh - Phù Chẩn - Phù Khê. Ứng với: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ.

Nơi đây! Tự ngàn năm - tại trang trại Hà Hào đã xuất hiện những anh hùng hào kiệt, đã làm rạng rỡ cho dòng dõi con Lạc cháu Hồng.

Phan Huy Chú đã từng viết:..."Mảnh đất tốt tụ vào đấy, nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp; tinh hoa hợp vào đấy, nên sinh ra nhiều danh thần. Vì là hồn trạng ở phương Bắc phát ra, nên khác với mọi nơi". Và "Phong tục dân phần nhiều chuộng văn hoá, ít quê kệch".

Ngay từ khi thành lập trang trại Hà Hào (khoảng 242 TCN): Dòng họ Vũ ở đầu tiên tại ngõ Nguyên Hương. Sau đó đến các họ: Lê, Nguyễn, Ngô, cùng đoàn tụ chung sống. Đôi câu đối họ Vũ còn ghi:

"Thiên vị tài bồi dương ngã Vũ

Thế truyền tác thuật tự Nguyên Hương"

Tạm dịch:                    "Trời làm giàu thêm cho họ Vũ ta

Đời đời truyền lưu lại xóm gốc"

- Vào những năm đầu, sau công nguyên, họ Phạm đến làng Quậy. Do đất hẹp, người đông dần lên, họ Phạm đã sang lập thôn Châu Phong (gọi là Quậy sau); cách đây gần 2000 năm. Vì năm Quý Mão (43 sau CN) tướng Khổng Chúng đánh giặc Mã Viện, đã hy sinh ngày 12 tháng 9 (năm 43 SCN) mộ ở xứ Đồng Trùng.

- Theo gia phả của Đỗ Đại Tôn: Năm Mậu Tý (1428) năm đầu của triều Lê, sau chiến thắng quân Minh; cụ Đỗ Tử Lỗi lập làng Tác Vỹ trên khoảnh đất chùa xưa, nay là khu vực "Vườn trên" của thôn Giao Tác. Đến năm Bính Thìn (1496) Đỗ Túc Khang đỗ tiến sỹ "Tam giáp đồng triều Tiến sỹ xuất thân" Hồng Đức thứ 27. (Được khắc tên ở bia số 3 hàng đầu Văn Miếu Quốc Tử Giám). Năm 1518: tiến sỹ Đỗ Túc Khang đã chuyển làng Tác Vỹ vào khu vực Ngõ Ba. Đổi thành thôn Giao Tác (còn gọi là Quậy Rào).

Như vậy ba làng Quậy gồm:

- Quậy cả (Đại Vỹ): có khoảng 242 TCN

- Quậy Sau (Châu Phong): có sau năm 43 SCN

- Quậy Rào (Giao Tác): có từ năm 1518

Nhân dân ba làng Quậy cùng chung sống, cùng tồn tại và phát triển, cùng chung một tập quán. Đời nối đời xây dựng và phát huy truyền thống sáng ngời.

Làng Quậy lúc đầu xây dựng trên những gò đất nổi, phát triển theo thế bò dần ra đồng trũng; đường làng quanh co, nhà ở nhiều hướng. Địa thế rất hiểm trở, tiện cho việc quân sự. Nhân dân ba làng Quậy "hào hiệp, mến khách, trọng nghĩa", nên ba làng Quậy là căn cứ địa của nghĩa quân đánh giặc cứu nước.

 


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn