Thứ hai, 06/07/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Thông báo
Góp ý
Hỏi và Đáp
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay817
mod_vvisit_counterHôm trước1278
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Góp vào tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt nam E-mail
23/05/2011

Một số ý kiến tham gia vào tộc ước

 dòng họ Đỗ, Đậu Việt nam

 

1- Về tên gọi văn bản, dự thảo sử dụng âm hán tức là” Tộc ước”. Nếu sử dụng như vậy thì sẽ có nhiều người trong dòng họ không hiểu, nhất là các thế hệ trẻ về sau. Việc mượn “âm hán” sẽ hạn chế tính thuần việt. Để dễ hiểu và cho rõ dòng họ Đỗ, Đậu là một bộ phận của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa chứ không phải có xuất xứ từ phương Bắc, và mang bản sắc của người Việt nam, nên chăng sử dụng cụm từ “ Qui ước dòng họ...” sẽ hợp lý và dễ hiểu hơn.

2- Ngay từ khi thành lập vào tháng 4/1997, Ban Liên Lạc họ Đỗ Việt Nam trước đây ( nay là dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam) đã khẳng định họ Đỗ và họ Đậu chỉ là một (chung một cội nguồn), sở dĩ có tên gọi khác nhau là do cách phát âm khác nhau của các địa phương. Vì vậy trước đây đã thống nhất tên gọi Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam. Chính vì vậy bản qui ước (tộc ước) này nên chưng phải có qui định:

- Ngay từ phần qui định chung cần qui định, từ “họ Đỗ”  trong qui ước (tộc ước) này được hiểu là cả họ Đỗ và họ Đậu của Việt Nam và sau đó là các chương, các điều của Qui ước (tộc ước) chỉ ghi ngắn gọn là họ Đỗ nhưng được hiểu là bao hàm cả họ Đậu.

- Trong trường hợp vẫn muốn dùng cả hai chữ “ Đỗ và Đậu” thì nên dùng đầy đủ thống nhất trong tất cả các chương, điều của văn bản.

Không nên dùng cọc cạch không thống nhất giữa trước và sau như dự thảo. Phần trên là họ Đỗ, Đậu, phần dưới tại điểm b của điều 3 lại ghi: “ Hội đồng dòng họ Đậu khu vực Nghệ Tĩnh” ở đây phải nêu là hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu khu vực...” và để các dấu chấm thì mới đúng, khi ghi tên khu vực cụ thể phải là nêu ví dụ và phải ghi đầy đủ cả hai từ Đỗ và Đậu. Tại điểm C của điều này trên thì ghi “ hội đồng gia tộc họ Đỗ văn thôn... ở dưới viết tắt là HĐGT họ Đậu Công, thôn ... Đúng là râu ông nọ cắm cằm bà kia. Kể cả là người đã hiểu (hoặc là đã có qui định ở phần chung) thì ở trên là “Đỗ Văn” viết tắt phải là “Đậu Văn” thì mới đúng, không thể là “Đỗ văn” và “Đậu công” được. Thực ra ở đây chỉ ghi là “ Hội đồng gia tộc họ Đỗ, Đậu... thôn... và viết tắt cũng phải như vậy  (trong điều kiện không qui định chung là Đỗ đã bao hàm cả Đậu).

3- Hội đồng dòng họ là tổ chức phi Chính Phủ, phi quyền lực, không nhằm mục đích lợi nhuận, tự nguyện tham gia hộ đồng vì cộng đồng dòng họ. Vì vậy các thành viên hội đồng do cuộc gặp mặt Toàn quốc, Khu vực, Chi hoặc Gia tộc tiến cử hoặc bầu ra (có thể dùng một từ nào đó thích hợp như đề cử và sự đồng thuận...). Không nên dùng từ “Bầu cử” tránh nhầm lẫn với chế độ bầu cử mà pháp luật đang qui định hiện hành (các điều 3, 10, 11).

- Về bài văn tế liệt vị tổ tiên dòng họ cũng cần thiết có một bài văn tế chung để các hội đồng dòng họ, Khu vực, hội đồng Chi tộc, Gia tộc áp dụng. Tuy nhiên cũng chỉ qui định đây là bài văn Tế mẫu, các hội đồng Khu vực, hội đồng Chi tộc, Gia tộc căn cứ bài văn tế chung để áp dụng vào địa phương, Chi, Gia tộc mình cho phù hợp với thực tế.

- Về trang phục nên sử dụng một loại trang phục hẹp ống tay áo, đầu đội khăn xếp, màu khăn theo màu của áo, chân đi giày dép bình thường hàng ngày cho giản tiện và chỉ dùng ở những ngày gặp mặt. Còn bộ áo tế lễ nên dùng chung như các dòng họ khác và chỉ những người làm nhiệm vụ tế lễ mặc.

4 - Tộc ước (qui ước dòng họ) là loại văn bản có tính luật do vậy câu văn phải viết ngắn gọn, rõ nghĩa, dễ hiểu. Các từ ngữ được dùng phải là từ đơn nghĩa, tránh dùng từ đa nghĩa hiểu thế nào cũng được. Trong trường hợp bắt buộc phải dùng từ đa nghĩa thì phải có chú thích để thống nhất cách hiểu chung. Không nên viết hoa (dùng những từ hoa mĩ) như:

+ Tại trang 1 (lời mở đầu) có cụm từ “ biến cố chiến tranh và thịnh suy thờì cuộc” chỉ nên viết ngắn gọn là biến cố của lịch sử là đủ.

+ Nên bỏ câu “ Bài ca đúng là chỉ có con người trong dòng họ thì mới có phút thăng hoa xuất thần viết lên lời ca, bản nhạc thật cảm động như vậy”  tại điều 7. Bởi vì câu này đặt ở bài văn “bình giảng” thì hợp lý hơn ở một văn bản qui ước có tính Luật.

- Cần chỉnh sửa những câu chưa rõ nghĩa, trúc trắc để dễ hiểu, dễ thực hiện cụ thể:

+ “Vật phẩm tế cúng phải sạch sẽ và chưa từng đã dùng tế cúng. Thực ra ở đây ý muốn nói là vật phẩm dùng để tế cúng phải sạch sẽ, chưa dùng tế cúng lần nào và cũng chưa sử dụng. Vì thế nên viết lại cho đỡ trúc trắc (tại điều 13).

+ “Không nói lời làm gây thêm sự nóng bức xúc” tại điều 17. Ở đây chỉ nên nêu: “ không gây thêm sự bức xúc” hoặc  “ không nói lời gây nên sự nóng giận”

+ “ Trai gái dòng họ khi dựng vợ gả lấy chồng” (tại điều 21). Ở đây lên bỏ từ lấy.

+ “ Từ nhận lời dạy và thức này” (tại điều 25). Câu này chẳng rõ nói gì?

+ Sửa các từ “ bàng quang” tại các điều 28 và 29. Bởi vì “ Bàng quang” là chỉ một bộ phận cơ thể người; còn ý ở hai điều này phải là từ “ Bàng quan” mới đúng.

+ Tại điều 31, ở đây là quản lý thu, chi tài chính chứ không phải quản lý Thi, chi tài chính.

+ Tại điều 35 chỉ nên dùng một trong hai cụm từ “ thực thi” hoặc “ thực hiện” là đủ, không cần phải dùng cả hai.

5 - Điều 33 cần phải qui định có ít nhất 2/3 thành viên hội đồng dòng họ (thành viên hội đồng dòng họ khu vực, thành viên hội đồng Chi, Tộc họ) nhất trí thông qua chứ không phải là 2/3 thành viên hội đồng dự họp. Vì nếu chỉ qui định 2/3 thành viên hội đồng dự họp thì sẽ có trường hợp ý kiến được nhất trí thông qua bởi một số ít người (không phải số đông, không quá bán) không đại diện cho ý chí của hội đồng, và vì thế tộc ước (qui ước dòng họ) khó đi vào thực tế cuộc sống của cộng đồng dòng họ.

6 - Sửa các từ in sai, thừa chữ tại các điều 6 và điểm b điều 16. Cụ thể:

- Tại điều 6 in thừa một chữ “Nam” và có nêu “... để đủ hai khắc dòng chữ ...” có lẽ là “ để đủ khắc hai dòng chữ...” mới đúng.

- Tại điểm b điều 16 có in: “ chi trên, nhành dưới” ở đây có lẽ là “ chi trên ngành dưới”.

Trên đây là một số ý kiến tham gia vào dự thảo Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam. Kính đề nghị Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam nghiên cứu, chỉnh sửa Tộc ước trước khi ban hành.

Đỗ Quang Thịnh

Hội đồng dòng họ Đỗ khu vực Hải Phòng


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn