Thứ hai, 06/07/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Thông báo
Góp ý
Hỏi và Đáp
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay923
mod_vvisit_counterHôm trước1278
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
BAN SOẠN THẢO TỘC ƯỚC HỌ ĐỖ, ĐẬU VIỆT NAM E-mail
31/05/2011
Vinh, ngày 26 tháng 3 năm 2011

                            THƯ  TRƯNG CẦU GÓP Ý KIẾN
                       VÀO DỰ THẢO TỘC ƯỚC DÒNG HỌ

Kính gửi:  
-   Thường trực Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam
-    Ban liên lạc và Hội đồng họ Đ
, Đậu các khu vực và các địa phương trong toàn quốc.
       Được sự tín nhiệm của hội nghị thường niên dòng họ Đỗ, Đậu năm 2011 tại thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
       Trên cơ sở tham khảo dự thảo Quy ước tạm thời của thường trực BLL họ Đỗ Việt Nam và nghiên cứu kế thừa các Tộc ước của các chi họ Đỗ, Đậu, trong toàn quốc cũng như việc tham khảo Tộc ước của các dòng họ bạn.
        Tôi luật sư Đậu Công Tuệ mặc dù rất bận công việc của Văn phòng nhưng đã khẩn trương chắp bút viết dự thảo ( lần thứ hai ) Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam để kịp trình xin góp ý kiến của mọi người trong dòng họ.
      Dự thảo Tộc ước lần này có 8 chương với 35 điều ( không kể lời mở đầu ).
      Tộc ước họ Đỗ, Đậu Việt Nam thể hiện sự kế thừa “Luật tục của dòng họ” nhưng mong mọi người trong họ cần hiểu rằng “ Tộc ước họ Đỗ, Đậu” chúng ta không phải là Luật pháp. Tộc ước dòng họ không phải do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành do vậy trong Tộc ước tuyệt nhiên không đề cập đến các quy định có tính chế tài cưỡng bức, cưỡng chế hoặc xử phạt, xử lý dưới bất kỳ hình thức nào đối với người trong dòng họ không thực hiện hoặc làm trái quy định của Tộc ước.
      Các câu từ, văn phạm thể hiện trong các quy định của Tộc ước bản thân tôi tôi đã cố gắng hết sức tránh sử dụng các từ mang tính bắt buộc như: “ PHẢI, CẤM, YÊU CẦU  mang tính cưỡng bức ”…Văn phong của Tộc ước không giống văn phong của “ Luật hình thức - Luật tố tụng” và cũng không giống văn phong của “Luật nội dung ”, cũng không giống văn phong của Nghị định, Chỉ thị hoặc Nghị quyết.       
      Tộc ước dự thảo vừa kế thừa nội dung văn phong giản dị, gần gủi của các Tộc ước tổ tiên xưa, mặt khác phổ thông hoá văn ngữ hiện thời để mọi người dễ hiểu thống nhất các nội dung quy định trong Tộc ước.
      Tổ tiên dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam xưa giáo huấn, định hướng giáo dục con cháu sống hiền lành, hiếu thảo, sống biết giữ chuẩn mực đạo đức, không tự huyễn hoặc cho mình là này nọ, không tham lam phô trương. Chính vì vậy dòng họ Đỗ, Đậu đã trải hàng ngàn năm và có lúc có người trong dòng họ đã từng giữ vị trí chức vụ cao trong xã hội “ chỉ dưới một người và trên muôn người ” nhưng người họ Đỗ, Đậu sống vẫn giản dị, khiêm tốn hoà vào mọi họ khác nên ít người biết đến.
       Đến ngay vị thế người tộc trưởng xưa và chủ tịch Hội đồng gia tộc hiện nay của dòng họ Đỗ, Đậu vẫn luôn lấy con trưởng; chức danh vị Chủ tịch Hội đồng gia tộc cũng không nhằm chọn những người thuộc: “ Phú vi trưởng hoặc Quý vi trưởng ” như một số dòng họ khác mà tiêu chí chọn và tiến cử người có tâm huyết, có uy tín, có tầm, điều kiện để làm việc họ.
      Tiếp thụ tinh thần ấy, trong quá trình chắp bút viết dự thảo Tộc ước tôi cũng đã nhận được nhiều ý kiến góp ý và gợi ý :
      - Nên đưa các tên như: Quy chế hoạt động dòng họ…; Quy ước dòng họ…; Luật tộc họ Đỗ, Đậu…;      
      - Tộc ước cố gắng nêu đủ các ý cần thiết nhưng không viết dài;
      - Lời nói đầu ngắn mà cô đọng, dễ hiểu hoặc không cần viết lời nói đầu;
      - Nêu cụ thể các quy định để mọi người dễ hiểu và thực hiện;
      - Nên ít các chương điều để khi đọc Tộc ước dễ nhớ.v.v.v.
      - Nên đưa một chương hay một điều về giải thích tại sao cùng một dòng họ Đỗ nhưng khu vực Nghệ Tĩnh lại gọi là họ Đậu để mọi người cùng cảm thông và đồng thuận để Tộc ước không cần thêm chữ Đậu bên cạnh chữ Đỗ nữa...  
      Dự thảo lần này tôi lấy tên là “ TỘC ƯỚC  HỌ ĐỖ, ĐẬU VIỆT NAM ”;
      Trong một thời gian ngắn để tìm hiểu, tham khảo các Tộc ước cổ truyền của các chi, tộc trong họ và của các họ bạn, tôi biên soạn dự thảo Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam lần này chắc chắn không thể tránh khỏi còn có nhiều thiếu sót.
      Rất mong mọi người trong dòng họ Đỗ, Đậu xem xét, nghiên cứu cho ý kiến góp ý vào dự thảo để Tộc ước dòng họ ta có tính khoa học cao, vừa phát huy kế thừa tinh hoa cổ xưa và những tinh hoa tiến bộ khoa học hiện nay đồng thời đáp ứng, phù hợp với mai sau. Chỉ khi dự thảo Tộc ước họ Đỗ, Đậu được mọi người con cháu trong dòng họ nghiên cứu, đóng góp ý kiến ( ý kiến mỗi người có thể hợp lý hoặc chưa hợp lý ) nhưng sẽ giúp mọi người trong họ cảm thông và hiểu nhau hơn. Tôi đồng ý và đề nghị Hội đồng họ Đỗ, Đậu Việt Nam nên phát động cuộc tìm hiểu, học tập, đóng góp  ý kiến vào dự thảo Tộc ước và cần có tổng kết, khen thưởng động viên. 
       Cuộc họp mặt con cháu họ Đậu, Đỗ khu vực Nghệ Tĩnh tại Vinh ngày 15/5/2011 đã thống nhất đồng thuận: Thường trực Hội đồng gia tộc phô tô dự thảo Tộc ước gửi đến các chi, tộc trong họ để con cháu nghiên cứu, học tập và đóng góp ý kiến. Tôi rất mong được các BLL, các Hội đồng họ Đỗ, Đậu trong cộng đồng dòng họ Đỗ Đậu Việt Nam đều thực hiện và làm được như vậy.
       Trong hoàn cảnh nhiều rất những con người sống trong trầm luân của sự tính toan tranh giành, chụp giật, chạy vạy thu vén mong vinh thân phì gia thì dòng họ Đỗ, Đậu ta như được tổ tiên mách bảo hãy bình tĩnh sáng suốt hướng con cháu mình tìm về đạo tâm, cội phúc để tránh những tai ương tật ách.   
       Vì vậy bản thân tôi và Ban soạn thảo Tộc ước của dòng họ luôn thành tâm lắng nghe, tiếp thu các ý kiến đóng góp xây dựng vì mục tiêu đoàn kết, hạnh phúc cho tương lai chung của dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
       Địa chỉ tiếp nhận ý kiến góp ý:
       + Ông Đỗ Ngọc Liên- Chủ tịch Hội đồng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
        số 27, phố Đào Tấn, quận Ba Đinh, thành phố Hà Nội.
       + Ông Đỗ Đình Dương – P/ Chủ tịch, Tổng thư ký Hội đồng họ Đỗ, Đậu
        Việt Nam- ngõ 151( ngách 2), số 8 phố Đội Cấn, quận Ba Đình, TP Hà
        Nội.   
       + Ông Đỗ Quang Hoà - P/Chủ tịch Hội đồng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
       Số 202 Nguyễn Ngọc Nại, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
       + Ông Đậu Công Tuệ – P/ Chủ tịch Hội đồng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
        số 7, ngõ 6B đường Hồng Bàng, TP. Vinh, tỉnh Nghệ An.

                        Xin trân trọng cảm ơn !

          TM/ BAN SOẠN THẢO TỘC ƯỚC HỌ ĐỖ, ĐẬU VIỆT NAM
                                            Luật sư Đậu Công Tuệ
_______________
 
Dưới đây là bản Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam đã được Ban soạn thảo Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam tiếp tục sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tiếp thu các góp ý của các cá nhân và tập thể họ Đỗ các nơi gửi về. chúng tôi mong tiếp tục nhận được nhiều đóng góp ý kiến của bà conđể bản tộc ước dòng họ Đỗ- Đậu Việt Nam thật sự là kết tinh của trí tuệ họ Đỗ.
 
 
                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                                      Độc lập  –  Tự do  –  hạnh phúc
                                              -------------o0o----------
                                      Hà Nội, ngày     tháng      năm 2011

   
  Dự thảo lần 2:        TỘC ƯỚC DÒNG HỌ
                                  ĐỖ - ĐẬU VIỆT NAM

      Người xưa có câu: “ Con người có tổ có tông, như cây có cội, như sông có nguồn”, hoặc “ Nhân sinh do Tổ ”. Tổ tông là cội nguồn, là dòng họ của mỗi con người, vì vậy mỗi con người sinh ra khi khai sinh đều mang tên họ nguồn gốc của mình, dù đó là nguồn gốc của cha hay của mẹ.  
      Nước Việt nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Dòng họ nói chung, dòng họ Đỗ, Đậu nói riêng từng trải qua bao thời đại, qua nhiều chế độ, vượt qua biến cố chiến tranh, thịnh suy thời cuộc nhưng dòng họ vẫn trường tồn và phát triển.
      Lịch sử nước Việt Nam ghi nhận dòng họ Đỗ, Đậu là một trong những dòng họ xuất hiện sớm và được ghi vào sử sách trên năm ngàn năm lịch sử. Theo Ngọc phả, Thần phả, Tộc phả dòng họ Đỗ, Đậu còn lưu lại: “ …họ Đỗ có cụ Đỗ Quý Thị – tự là Đoan Trang là vợ vua Đế Minh- Nguyễn Minh Khiết, người đã sinh ra Lộc Tục ( con trai trưởng của vua Đế Minh). Cụ Đỗ Quý Thị (Đỗ Thị Đoan Trang) đã cùng các em trai Đỗ Xương, Đỗ Tiêu, Đỗ Kỹ, Đỗ Cương, Đỗ Chương, Đỗ Dũng, Đỗ Bích, Đỗ Trọng có công nuôi dạy Lộc Tục. Khi Lộc Tục trưởng thành là người tài giỏi được vua cha truyền ngôi đã lập ra nước Xích Quỷ- xưng hiệu là Kinh Dương Vương. Lộc Tục - Kinh Dương Vương là người sinh ra Lạc Long Quân và Lạc Long Quân đã thiết lập triều đại Hùng Vương thứ nhất ( Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ ).
       Khi đất nước thái bình thịnh trị cụ Đỗ Quý Thị (tức Đỗ Thị Đoan Trang) đã cùng tám người em trai xuất gia tu hành theo đạo Sa Bà và trở thành chính quả. Cụ Đỗ Quý Thị với Phật hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát, còn tám người em trai được tôn với Phật hiệu Bát Bộ Kim Cương.
       Với tấm lòng tri ân tiên tổ, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tháng 4/1996 các đại diện chi, tộc dòng họ Đỗ, Đậu trong cả nước đã họp tại Hà Nội và thống nhất thành lập Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam. Tại cuộc họp này những đại biểu họ Đỗ mà ở địa phương phát âm gọi bằng họ Đậu cũng đã thống nhất tên chung là BLL họ Đỗ Việt Nam. Cuộc họp này đã đồng thuận lấy Tôn chỉ mục đích hoạt động như sau:      
         “1. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các dòng họ Đỗ, cùng nhau khai thác và phát huy truyền thống nhân văn của các dòng họ Đỗ của dân tộc Việt Nam.
         2. Giúp nhau tìm về cội nguồn, biên soạn gia phả
         3. Trao đổi những thông tin nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử có liên quan đến các dòng họ Đỗ Việt Nam.
         Đây cũng là sự đóng góp cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp hoá, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

        Ban liên lạc họ Đỗ Việt Nam đã hoạt động qua gần mười lăm năm, tập hợp quy tụ rộng rãi tình cảm anh em dòng họ Đỗ, Đậu trong nước và người họ Đỗ Việt Nam sống ở nước ngoài hướng về cội nguồn, tri ân tiên tổ. Ban liên lạc họ Đỗ Việt Nam và các Ban liên lạc họ Đỗ, Đậu ở các khu vực, địa phương, cùng bà con anh em trong dòng họ đã làm được những công việc để lại cho dòng họ, như sau:
        1. Phát hành 02 tập sách Họ Đỗ Việt Nam và 01 tập sách Suy nghĩ về những khoảng trống trong thời kỳ tiền sử .
        2. Phát hành 37 tập thông tin Họ Đỗ Việt Nam ( số ra hàng quý).
        3. Lập trang báo điện tử ( Website ) họ Đỗ Việt Nam.
        4. Phát hành 01 tập thơ họ Đỗ Việt Nam.
        5. Phát hành bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam.
        6. Phát hành bài Văn tế liệt vị Tổ tông dòng họ Đỗ Việt Nam.
        7. Làm được biểu trưng, và huy hiệu họ Đỗ Việt Nam.
        8. Chủ biên và cùng nhóm nghiên cứu thời kỳ tiền sử ấn hành bộ sưu tập & khảo cứu “ Những khám phá mới – Nhận thức mới về nguồn gôc dân tộc Việt”.
        9. Đã thống nhất trong dòng họ Đỗ, Đậu lấy ngày 15/2 âm lịch hàng năm làm ngày truyền thống dòng họ.
        10. Tuyên truyền, vận động các chi, tộc xây dựng, tu bổ nhà thờ, mồ mả, lăng miếu tổ tiên, biên soạn, bổ sung gia phả, phả hệ, lịch sử dòng họ, thành lập ban và quỹ khuyến học, xây dựng tiêu chí phấn đấu trở thành dòng họ văn hoá mới.
        Cuộc họp ngày 13/3/2011 ( ngày 09/2/ năm Tân Mão ) ở thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc được sự đồng thuận của trên 1.200.000 đại biểu họ Đỗ, Đậu toàn quốc tham dự thống nhất đổi tên Ban liên lạc họ Đỗ Việt Nam thành Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.   
        Hoạt động của Hội đồng dòng họ tiếp tục kế thừa nội dung cơ bản Tôn chỉ mục đích hoạt động của Ban liên lạc họ Đỗ Việt Nam do cố Phó giáo sư Đỗ Tòng đề xướng. Việc đổi tên là để phù hợp với xu thế hoạt động của các dòng họ bạn và tổ chức Hiệp hội các Hội đồng dòng họ Việt Nam.
        Trên cơ sở kế thừa và phát triển những tinh hoa của Tộc ước truyền thống tổ tiên các chi, tộc dòng họ Đỗ, Đậu xưa truyền lại. Nhằm định hướng việc giáo dục con người dòng họ Đỗ, Đậu luôn giữ nếp sống có văn hoá, trau dồi học thức, giữ gìn đạo đức hiếu nghĩa, có lòng tự tôn, tính tự lập, có tình thương yêu đoàn kết trong tộc họ và biết đoàn kết rộng rãi trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, là công dân biết tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước. Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam xây dựng và ban hành Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam để gìn giữ truyền thống tổ tiên xưa như sau: ( hoặc quy ước)                           
           
                                            Chương Một
                                      QUY ĐỊNH CHUNG
 
Điều 1. Tên gọi, đối tượng và phạm vi điều chỉnh:
a.  Tên gọi :
+ Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam ( …? )
b. Đối tượng điều chỉnh:
Mọi người từ các Cụ, Kỵ, Ông Bà, con trai, con gái, con dâu, con rể
thuộc dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam đều có bổn phận tự giác, tự nguyện đồng thuận, đồng lòng thực hiện các quy định của Tộc ước này (….? ).
b. Phạm vi điều chỉnh của Tộc ước:
Thống nhất tiêu chí theo Tôn chỉ mục đích hoạt động, tên gọi của tổ chức
Hội đồng dòng họ, quy định chức năng nhiệm vụ hoạt động, biểu trưng, huy hiệu, ngày truyền thống, con dấu và trang phục tế lễ;
     Quy định mô hình tổ chức hoạt động của dòng họ;
     Quy định việc tế lễ cúng kính, quản lý nơi thờ tự, di sản văn hoá, danh lam thắng cảnh, mồ mả, lăng miếu tổ tiên dòng họ;
     Quy định mối quan hệ, ứng xử, hoà giải mâu thuẩn tranh chấp, đạo hiếu thảo với ông bà cha mẹ, đạo nghĩa vợ chồng;
     Quy định việc vào họ, báo tuổi trưởng thành, việc hôn thú, cưới hỏi, việc mừng thọ, việc thăm hỏi, việc tang ma;
     Quy định việc giáo dục nuôi dạy con trẻ, việc khuyến học, lập và sử dụng quỹ khuyến học, quỹ khen thưởng;
     Quy định việc giúp đỡ động viên, bảo vệ hoặc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên;     
     Quy định việc thu, chi, quản lý tài chính, khen thưởng, giải đáp vướng mắc, việc sửa đổi, bổ sung Tộc ước, thời gian và hiệu lực thi hành.

Điều 2. Tôn chỉ mục đích hoạt động:
    -  Xây dựng mối liên hệ tốt đẹp giữa các chi, tộc thuộc dòng họ Đỗ, Đậu; Cùng nhau khai thác và phát huy truyền thống nhân văn của các chi, tộc dòng họ Đỗ, Đậu và các dòng họ khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
    -  Giúp nhau tìm về cội nguồn, biên soạn gia phả, lập phả hệ, bảo tồn di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh thuộc dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
    -  Trao đổi cung cấp thông tin nghiên cứu và tìm hiểu về Lịch Sử có liên quan đến các chi, tộc dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
    -  Hướng hoạt động văn hoá dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam vào mục tiêu giáo dục con người sống có văn hoá, có tri thức, có đạo đức hiếu nghĩa, lòng tự tôn, tính tự lập, giàu tình thương yêu, đoàn kết, biết tôn trọng và chấp hành Pháp luật. Góp phần cùng các dòng họ trong cộng đồng dân tộc, quyết tâm xây dựng nước Việt Nam XHCN thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.  

Điều 3. Tên gọi các tổ chức Hội đồng dòng họ:
       Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam là tổ chức do những người dòng họ Đỗ, Đậu tâm huyết, đồng thuận, đồng lòng, nêu cao bổn phận trách nhiệm, có uy tín và tích cực hoạt động theo Tôn chỉ mục đích của dòng họ đề ra. Hội đồng do các đại diện chi, tộc họ Đỗ, Đậu Việt Nam tiến cử hoặc do Hội đồng đề nghị.
       Hội đồng dòng họ là tổ chức phi chính phủ, phi quyền lực, không nhằm mục đích lợi nhuận, tự nguyện tham gia hoạt động vì cộng đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam .
       a. Tên gọi tổ chức toàn quốc:
       Tên đầy đủ: - Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
                 ( Hoặc - Hội đồng dòng họ Đỗ Việt Nam ?).
       Tên viết tắt: - HĐDH Đỗ, Đậu Việt Nam.
                  ( hoặc - HĐ dòng họ Đỗ Việt Nam ?)                           

       b. Tên gọi tổ chức khu vực và địa phương:
       Tên đầy đủ: - Hội đồng dòng họ Đỗ ( hoặc Đậu ) khu vực ….
       Tên viết tắt: - HĐDH Đỗ (Đậu ) khu vực ….

       c. Tên gọi tổ chức các chi, tộc họ:
       Tên đầy đủ: -  Hội đồng gia tộc họ Đỗ…( hoặc Đậu ), thôn…xã…( hoặc chi tộc)
       Tên viết tắt: - HĐGT họ Đỗ…( hoặc Đậu ), thôn…xã…

Điều 4: Chức năng nhiệm vụ cơ bản:
      Hội đồng dòng họ có bổn phận đại diện cho nguyện vọng, tiếng nói chung của cộng đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam, của khu vực, địa phương, của chi, tộc trong lĩnh vực hoạt động văn hoá dòng họ. Có bổn phận theo dõi nắm bắt, tập hợp và cung cấp thông tin, những sáng kiến kinh nghiệm về các hoạt động văn hoá của dòng họ; Phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động mọi thành viên trong dòng họ cùng thực hiện Tôn chỉ mục đích hoạt động, các quy định của Tộc ước,   ( quy ước) của dòng họ đề ra. Hội đồng là trung tâm đoàn kết, động viên giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn hoạn nạn; Đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong dòng họ Đỗ, Đậu theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu. Hướng dẫn, khuyến khích việc bảo vệ, bảo tồn di tích, di sản Lịch sử, Văn hoá, danh lam thắng cảnh của dòng họ. Hướng dẫn, sưu tầm, bổ sung tộc phả, lịch sử của dòng họ, chi, tộc họ. Xây dựng và duy trì hoạt động các bộ phận thuộc Hội đồng dòng họ, hoạt động của các khu vực, địa phương, chi, tộc họ Đỗ, Đậu trong toàn quốc.
     Động viên mọi người phấn đấu làm tròn bổn phận, phát huy truyền thống nhân văn tốt đẹp của tổ tiên dòng họ, giữ đạo hiếu nghĩa với tổ tiên, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, anh em, con cháu; hoàn thành tốt nghĩa vụ công dân đối với đất nước và dân tộc Việt Nam.  

Điều 5. Biểu trưng, huy hiệu:
       a. Biểu trưng:
       Biểu trưng dòng họ Đỗ Việt Nam là một hình tròn, có cách điệu vòng tròn để hở ở phía trên hình chữ “Đ”, nền vòng tròn màu đỏ, trên góc chữ “Đ” có năm lá tre; với ý nghĩa biểu thị chữ  ( Đ ) từ viết tắt của tiếng Đỗ, Đậu; lá tre là biểu trưng cho giữ gìn khí phách quê hương Việt Nam.
      Bên trong vòng tròn là hình tượng trưng ngôi nhà năm gian truyền thống, nền màu nâu, trước mái nhà nhà có dòng chữ  HỌ ĐỖ VIỆT NAM. Trước gian trung tâm có chữ Đỗ màu đỏ (      ) viết theo kiểu chữ Hán, Nôm . Bậc tam cấp vào gian chính giữa màu nâu.
      b. Huy hiệu:
      Huy hiệu họ Đỗ Việt Nam hình tròn bằng chất liệu mạ đồng vàng sáng; huy hiệu bố trí với ba phần: phần ngoài với hai đường viền tròn màu vàng sáng, phần tiếp vào trong phía dưới có dòng chữ HỌ ĐỖ VIỆT NAM màu vàng sáng trên nền màu đỏ, phần tâm điểm là hình một cây đại thụ với thế năm cành và nền lá màu xanh, trong nền xanh của lá có chữ Đỗ (       ) viết bằng chữ Hán, Nôm màu đỏ viền vàng với ý nghĩa dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam muôn chi, tộc đều chung một gốc .
 
Điều 6. Con dấu của Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
      Con dấu được làm bằng vật liệu đồng; Mực dấu màu đỏ.
      Dấu hình vuông mỗi cạnh ( 43mm X 43mm ), với đường viền phía ngoài một nét rộng đậm nét, tiếp đến phía trong là một đường viền nét mảnh và rõ, đường viền nhỏ trong trong ở 4 góc hơi cua; giữa hai đường viền cách nhau khoảng rõ nét. Dấu sau khi đóng thấy vuông vắn, rõ ràng khoẻ mạnh.
      Ở phía trong hai đường viền của con dấu được chia làm hai phần trên- dưới.
      Phần trên rộng hơn để đủ khắc hai dòng chữ quốc ngữ: HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ ĐỖ, ĐẬU VIỆT NAM nét chữ khoẻ khoắn rõ ràng.
      Để phân chia hai phần trên, dưới là một đường vạch (bằng nét đường viền phía trong dấu) nhưng không nối liền với đường viền phía trong ( đường vạch nhằm chỉ để phân định giữa dòng chữ  Việt và chữ Hán, Nôm).
      Phần dưới với một dòng chữ Hán, Nôm khắc theo kiểu chữ triện:



Việt  Nam  Đỗ   gia  Tộc  Hội   Đồng  => Việt   Nam   Đỗ   Gia  Tộc  Hội  Đồng                                                                                                                                                                
      Dịch nghĩa tóm tắt là:  HỘI ĐỒNG ĐỖ TỘC VIỆT NAM
                                                                                                                                                                    
Điều 7. Bài ca dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam:  
      Sử dụng: Bài ca có giọng hát đồng ca ?
                    Bài ca có giọng hát đơn ca ?  
     
     ( Hiện nay dòng họ đã phát hành hai bài ca, do nhạc sỹ người trong dòng họ Đỗ tâm huyết sáng tác và đã được anh em con cháu trong dòng họ rất ngưỡng mộ và lấy làm hãnh diện. Cả hai bài ca đúng là chỉ có con người trong dòng họ thì mới có phút xuất thần thăng hoa viết nên lời ca, bản nhạc thật cảm động như vậy.
      Đề nghị mọi người trong họ chọn một bài và gửi ý kiến cho Ban thường trực hoặc bản tin, hoặc trang Website của họ Đỗ Việt Nam để rộng đường nghiên cứu, tranh thủ sự đồng thuận – Chữ in nghiêng trong ngoặc là để giải thích không đưa vào Tộc ước).     
    
Điều 8. Bài văn tế liệt vị tiên tổ dòng họ Đỗ, đậu:

      Sử dụng bài văn tế như hiện nay ?
      Ban liên lạc đã tuyển chọn  bài Văn tế và được ông Đỗ Ngọc Liên – Chủ tịch Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu trực tiếp đọc và ghi âm, đang được sử dụng rộng rãi trong dòng họ.
      1. Có ý kiến đề nghị tiếp tục sử dụng cho đến khi thấy cần thiết sửa đổi bổ sung thêm.
      2. Có ý kiến đề nghị không nhất thiết câu nệ phải sử dụng một bài văn tế chung, vì ở mỗi vùng- miền khi làm tế lễ sẽ tuỳ nghi cho phù hợp với điều kiện sinh hoạt, lao động, tiếng phát âm theo khu vực, vùng- miền và hợp tình với quan khách.
      Để rộng đường xem xét: Chúng tôi xin đề nghị mọi người đóng góp ý kiến cho thường trực Hội đồng, hoặc bản tin, hoặc Website họ Đỗ Việt Nam.
 
Điều 9. Trang phục dòng họ:
      Trang phục dòng họ Đỗ, Đậu được gọi là: Đỗ phục.
      Bộ Đỗ phục sử dụng quần áo dài truyền thống Việt Nam với năm màu áo: Đỏ tía, Đỏ, Vàng, Xanh và màu Đen. Trang phục Đỗ phục chỉ mặc khi tế lễ, cúng kính hoặc hội họp truyền thống dòng họ hàng năm. Trước ngực áo có in biểu trưng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
      1. Có ý kiến đề nghị nên có hai loại trang phục:
      - Loại thụng ống tay áo để phục vụ cho việc tế lễ, đầu đội mũ tế, màu mũ theo màu áo, chân đi dày hia truyền thống.
     - Loại hẹp ống tay áo để dễ thao tác và giản tiện; đầu đội khăn xếp, màu khăn theo màu áo, chân đi dép, dày bình thường cho thuận tiện.
       2. Có ý kiến chỉ nên sử dụng một loại trang phục hẹp ống tay áo, đầu đội khăn xếp, màu khăn theo màu của áo, chân đi dày dép bình thường hàng ngày cho giản tiện.
       Chúng tôi xin đề nghị mọi người đóng góp ý kiến ( chữ in nghiêng là để giải thích không đưa vào Tộc ước).  

                                               Chương Hai
                        MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
     
Điều 10. Tổ chức Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu toàn quốc:
      Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam do cuộc họp mặt đại biểu toàn quốc đồng thuận tiến cử hoặc do đồng thuận của Hội đồng đề nghị gồm có:
      - Chủ tịch hội đồng dòng họ ( một người )
      - Các Phó chủ tịch ( số lượng tuỳ theo nhu cầu công việc, khu vực và địa phương để sắp xếp bố trí).
      - Các Uỷ viên thành viên ( Tuỳ theo nhu cầu để sắp xếp bố trí hợp lý ).
   
      Cuộc họp mặt họ Đỗ, Đậu toàn quốc ngày 13/3/2011 tại Thanh Lãng, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc đã đồng thuận tiến cử: 43 vị vào Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam
      Chủ tịch Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam: Kỷ sư Đỗ Ngọc Liên
      Các Phó chủ tịch gồm có: 18 người ( có danh sách kèm theo ).
      Ban cố vấn: Gồm 5 vị .     
      Các Uỷ viên hội đồng gồm  có 23 người ( có danh sách kèm theo ).
      Các bộ phận, câu lạc bộ …. trực thuộc Hội đồng sẽ tuỳ theo yêu cầu và điều kiện do Thường trực Hội đồng quyết định.
     ( Chúng tôi xin đề nghị mọi người trong họ đóng góp ý kiến hoặc tiến cử thêm.)

Điều 11. Tổ chức hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu khu vực, địa phương:
      Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu ở khu vực và địa phương do cuộc họp mặt đại biểu khu vực, địa phương đồng thuận tiến cử hoặc đề nghị gồm có:
      - Chủ tịch Hội đồng dòng họ khu vực ( một người ).
      - Các Phó chủ tịch Hội đồng ( số lượng tuỳ nhu cầu bố trí ).
      - Các Uỷ viên Hội đồng ( số lượng tuỳ nhu cầu bố trí ).   

Điều 12. Tổ chức hội đồng chi, tộc họ Đỗ, Đậu:
      Mỗi chi, tộc họ căn cứ theo nhu cầu để tiến cử hoặc do Hội đồng tín nhiệm đề nghị người trong chi, tộc họ có đủ uy tín, tâm đức, điều kiện hoạt động vào Hội đồng chi, tộc nhằm giúp tộc trưởng và chi, tộc trong các việc tổ chức điều hành hoạt động, đảm bảo dân chủ.
     Hội đồng chi, tộc họ gồm:
     -  Chủ tịch Hội đồng chi, tộc họ ( một người ).     
     -  Các Phó Chủ tịch (nếu cần thiết, tuỳ theo nhu cầu );
     -  Các Uỷ viên Hội đồng (số lượng Uỷ viên tuỳ theo yêu cầu của chi, tộc họ.
     Chủ tịch Hội đồng chi, tộc họ là chức danh, không phải là người làm thay vị thế của người Tộc trưởng về thực hiện các chức việc chủ thờ cúng tổ tiên ( trừ trường hợp khi vị Tộc trưởng tuổi còn quá nhỏ….).
     Hội đồng chi, tộc họ có bổn phận đại diện cho tiếng nói chung của chi, tộc họ, là tổ chức thực hiện dân chủ, công khai minh bạch, giám sát mọi hoạt động kể cả việc huy động thu, chi và quản lý nguồn quỹ tài chính. Hội đồng chỉ tuân theo chủ trương đã biểu quyết thống nhất chung của chi, tộc họ.

                                                    Chương Ba
          LỄ NGHI  TẾ LỄ, CÚNG KÍNH, QUẢN LÝ, BẢO VỆ NƠI  THỜ TỰ, MỒ   
 MẢ, LĂNG MIẾU TỔ TIÊN, DI SẢN LỊCH SỬ VĂN HOÁ, DANH LAM THẮNG CẢNH:

Điều 13. Tổ chức nghi lễ tế lễ, cúng kính:
       Mỹ tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những người quá cố của dòng họ có từ ngàn xưa. Việc tế lễ, cúng kính là hoạt động văn hoá tâm linh nhằm mục đích giáo dục đạo đức, sự tôn trọng, lòng biết ơn và răn dạy đức tính thiện căn, sống có hậu cho mai sau.
       Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam khuyến khích nam, nữ bình đẳng về thực hiện bổn phận cúng kính và phụng thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
       Tục lệ xưa quy định bổn phận thờ cúng thuộc người con trai. Thời nay nam nữ bình quyền, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con. Do vậy Tộc ước dòng họ cần thiết phải điều chỉnh theo sự tiến bộ của xã hộ: Tuỳ theo điều kiện chi, tộc họ và gia đình để phân công Nam, Nữ thực hiện bổn phận cúng kính, phụng thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Khi dòng họ và mỗi gia đình tự giác thực hiện nam nữ  bình quyền thì xã hội Nam nữ mới có được bình đẳng!

      ( đưa vào Tộc ước quy định này ( chữ in nghiêng ) là một quy định mới, xin mọi người trong dòng họ cho ý kiến góp ý )

       - Người làm tế lễ, cúng kính là người thành tâm; sửa người, mặt mũi, đầu tóc, chân tay, trang phục tế, cúng gọn gàng sạch sẽ tươm tất để tỏ lòng tôn kính.
       - Người đến tham dự tế lễ, cúng kính có bổn phận giữ khuôn phép, nghiêm túc trật tự.
       - Vật phẩm tế cúng phải sạch sẽ và chưa từng đã dùng tế cúng.
       - Bài văn cúng, người đọc văn, các chấp sự tham gia tế cúng theo nghi thức truyền thống cần được Tộc trưởng, hoặc Chủ tịch hội đồng bố trí chuẩn bị chu đáo từ trước.
       Khi tổ chức đại tế mọi người làm tế lễ mặc Đỗ phục theo quy định.
       Bài Quốc ca, Đỗ ca dòng họ được cất lên trước khi vào tế lễ truyền thống .
       Sau khi tế lễ xong: Chủ tế hoặc ban tổ chức cần có lời mời mọi người tham dự tế lễ có bổn phận lần lượt theo thứ bậc vào bái lễ dâng hương tổ tiên.
       Con cháu dâng hương kính bái tổ tiên nếu có nguyện vọng tâm thành cầu xin tiên tổ phù trì, không cần cầu khấn to tiếng ồn ào mà cốt ở sự thành tâm hướng ước nguyện về tiên tổ.
       
Điều 14. Quản lý nhà thờ, mồ mả, lăng miếu và di sản văn hoá, danh lam thẳng cảnh của dòng họ:
      a. Nhà thờ dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam:
      - Ngôi nhà thờ chung dòng họ Đỗ, Đậu toàn quốc:
      Dòng họ Đỗ, Đậu toàn quốc Việt Nam có tâm nguyện xây dựng một ngôi nhà thờ tại nơi quy tụ linh khí ngàn năm tiên tổ để mọi người con cháu trong dòng họ trong cả nước có điều kiện tri ân tiên tổ và quy tụ họp mặt dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
 ( vấn đề này đã được hội nghị lần thứ 14 tại thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đồng thuận, nay xin ý kiến chung và kêu gọi sự thành tâm góp của, góp công ủng hộ việc xây dựng ngôi nhà thờ chung của mọi người trong dòng họ - những chữ in nghiêng chỉ để giải thích không đưa vào Tộc ước).

      - Nhà thờ các chi, tộc họ Đô, Đậu:
      Các chi, tộc họ từ 4 đời trở lên khuyến khích có thể xây nhà thờ riêng cho chi, tộc họ của mình.
      Nhà thờ dòng họ, chi, tộc họ là tài sản vô giá, là nơi thờ phụng tâm linh, nơi hội tụ giao lưu gặp mặt các thế hệ con cháu của chi, tộc họ. Nhà thờ là nơi thực hành các nghi lễ tâm linh thờ cúng tổ tiên, nơi biểu thị các chuẩn mực cốt cách gia phong, gia giáo của dòng họ; nơi tuân theo nghi thức tôn ty thứ bậc của dòng họ và biểu thị sự tôn trọng tri thức và người cao tuổi; nơi đây không được có lời nói khiếm nhã, cãi cọ, chửi thề hoặc chơi cờ bạc, ăn uống bê tha.
      Nhà thờ chi, tộc họ là nơi thờ cúng tâm linh tôn nghiêm do vậy không cho phép các hoạt động cầu đồng bóng hoặc nơi tuyên truyền mê tín dị đoan.
      Nhà thờ của chi, tộc họ được kiến trúc, xây dựng to, nhỏ tuỳ thuộc điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của mỗi chi, tộc họ và địa phương nhưng đảm bảo ngôi nhà thờ họ có nền nhà cao hơn nền nhà ở của gia đình ( nếu nhà thờ họ và nhà ở cùng chung trong thửa đất ).
      Việc xây dựng, tu bổ, di dời, thay đổi kiến trúc nhà thờ họ cần được mọi người trong dòng họ, chi, tộc họ đồng thuận.

      b. Quản lý, bảo vệ mồ mả tổ tiên:
      Người xưa tâm niệm: “ Sống cái nhà, già cái mồ ”. Mồ mả tổ tiên dòng họ, chi, tộc họ là nơi tôn nghiêm, bất khả xâm phạm; con cháu trong họ, chi tộc họ phải thường xuyên trông nom chăm sóc bảo vệ.
      Việc cất bốc, sửa sang mồ mả trong chi, tộc họ rất hệ trọng. Tuyệt đối không cất bốc, sửa sang mồ mả khi trong chi, tộc họ chưa đoạn hết tang khó. Việt cất bốc, di dời mồ mả của tổ tiên dòng họ cần được mọi người trong chi, tộc họ đồng thuận, không nên mạnh ai nấy làm.
        
      c. Quản lý bảo vệ di sản văn hoá, danh lam thắng cảnh của dòng họ:
      Cùng với nhà thờ, các di sản vật thể, phi vật thể, vật gia bảo, danh lam thắng cảnh của chi, tộc họ và các di sản, cổ vật của chi, tộc họ, các bảo vật gia đình, cá nhân thuộc chi, tộc họ có ý nghĩa Lịch sử, Văn hoá; các danh lam thắng cảnh nổi tiếng của chi, tộc họ là tài sản vô giá. Dòng họ khuyến khích hiến tặng cho dòng họ, chi, tộc họ và cần phải được mọi người trong dòng họ bảo vệ chu đáo theo đúng quy định của Luật Di sản văn hoá.

                                                Chương Bốn
                                        MỐI QUAN HỆ, ỨNG XỬ,
                         HOÀ GIẢI  MÂU THUẪN VÀ ĐẠO HIẾU GIA ĐÌNH:

Điều 15. Mối quan hệ giữa các tổ chức Hội đồng của dòng họ:
      Dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam thành lập với ba mô hình tổ chức:
      - Hội đồng dòng họ toàn quốc ( Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam)
      - Hội đồng khu vực hoặc địa phương…;
      - Hội đồng các chi, tộc họ….
      Ba mô hình tổ chức Hội đồng của dòng họ Đỗ, Đậu đều bình đẳng với nhau, hoạt động tự giác, tự nguyện theo Tôn chỉ mục đích chung không phân biệt cấp trên, cấp dưới, không có mệnh lệnh, chỉ thị áp đặt bắt buộc thực hiện.
      Mối quan hệ giữa Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt nam, Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu khu vực ( hoặc địa phương ), hội đồng chi, tộc họ là mối quan hệ hoàn toàn tự nguyện, tự giác, đồng lòng và đồng thuận.

Điều 16. Mối quan hệ, ứng xử trong dòng họ:
a.    Quan hệ nam, nữ trong dòng họ:
     Tộc ước của dòng họ Đỗ, Đậu xưa truyền để lại : “ Người dòng họ Đỗ, Đậu không phân biệt nguồn gốc xuất thân, tôn giáo, dân tộc, nam hay nữ đã mang tên họ Đỗ, Đậu đều là anh, chị, em cùng dòng họ, chung dòng huyết thống, là người trong một nhà”.
    “ Tộc ước dòng họ khuyên nhắc mọi người nam, nữ thuộc dòng họ Đỗ, Đậu dù xa nhau bao nhiêu đời cũng luôn có bổn phận tâm niệm, ý thức nam, nữ thuộc dòng họ Đỗ, Đậu không lập thành gia thất với nhau ”.
     Tộc ước dòng họ khuyến khích mọi người thuộc dòng họ Đỗ, Đậu có bổn phận thực hiện lời khuyên có tính khoa học của tổ tiên; mọi người nam, nữ dòng họ Đỗ, Đậu tự xác định ý thức và biết giữ tình cảm nam, nữ trong giới hạn là anh chị em cùng một dòng tộc.
     Tộc ước khuyên nhắc các bậc ông bà, cha mẹ cần cẩn trọng trong việc giải quyết tình cảm khi nam, nữ trong dòng họ yêu nhau, không để dẫn đến vi phạm pháp luật hiện hành.
     b. Ứng xử xưng hô với nhau:
     Người dòng họ Đỗ, Đậu gặp nhau khi chưa có điều kiện để phân biệt “chi trên ngành dưới” thì người nhiều tuổi là ông, bà, cô, bác, hoặc là anh chị…; Nếu hai người cùng tuổi gặp nhau thì xưng Tôi với Anh, Tôi với Chị….
     Từ xưa dòng họ rất kiêng kị việc người trong họ khi chưa phân biệt được “chi trên ngành dưới ” mà đã xưng danh tự cho mình là kẻ cả, bề trên và coi việc tự xưng danh cho mình là bề trên dễ gây nên sự bất hoà trong nội bộ dòng họ.
     c. Ứng xử trong điều ăn tiếng nói:    
     Dù trong hoàn cảnh, điều kiện thế nào người họ Đỗ, Đậu vẫn luôn giữ khuôn phép, từ tốn; cởi mở mà đứng đắn đoan trang, vui vẻ, khôi hài mà không sàm sỡ lỗ mãng; thái độ kiên quyết nhưng không tỏ ra bức xúc, gay gắt, khùng nộ.
     Sống có bản lĩnh, tự tin, tự trọng nhưng “biết lấy chữ Nhẫn” làm đầu, tránh đụng độ vô ích. Trong điều ăn tiếng nói cần giữ phép lịch sự và tuân theo ngôi thứ trong chi, tộc họ; kiêng kị việc xưng hô mày, tao chi tớ “cá mè một lứa”.
Điều 17. Hoà giải mâu thuẫn nội bộ dòng họ:
    Mâu thuẩn và đấu tranh là quy luật luôn luôn tồn tại.
    Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam chủ trương khuyến khích, vận động mọi người trong dòng họ nếu gặp khi xẩy ra có bất đồng chính kiến, tranh chấp trong nội bộ anh em, dòng họ thì trước nhất mỗi người biết tự giác kiềm chế, không gây thêm sự bức xúc làm trầm trọng mối bất đồng. Khuyến khích các bên tự kìm chế và nhìn nhận để biết đúng, sai của chính mình. Khuyến khích sự nhường nhịn, giúp đỡ nhau, tôn trọng sự thoả thuận hoà giải có tình, có lý. Nếu hai bên vẫn chưa thống nhất quan điểm thì mời người có tâm đức, uy tín, sáng suốt trong chi, tộc họ hoặc Hội đồng dòng họ làm trọng tài trung gian hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp. Không nên đẩy bất đồng, tranh chấp đến mức khiếu kiện, đề nghị giải quyết tranh chấp nội bộ trong dòng họ bằng biện pháp khởi kiện ra “ công đường ”.
Điều 18: Đạo hiếu gia đình:
      Gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng cơ bản của dòng họ. Gia đình hoà thuận, mọi người tôn trọng và nhường nhịn nhau, chung sức chung lòng đắp xây hạnh phúc tốt đẹp thì dòng họ mới tốt đẹp.
      Con cháu dòng họ có bổn phận luôn giữ đạo hiếu thảo, kính trọng ông bà, cha mẹ, kính trọng người trên; kính trọng người có phẩm hạnh đạo đức và tri thức chân chính.
      Đức hy sinh vì tương lai con cháu là bổn phận cao cả của bậc làm cha mẹ.  
      Nhường nhịn giúp đỡ lẫn nhau, ưu tiên giúp người hoàn cảnh khó khăn hơn là bổn phận cao cả của bậc làm anh, làm chị và làm em.
      Sự quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ là mẫu mực, là tấm gương sáng để giáo dục thế hệ trẻ mai sau.
      Dâu hiền, rể thảo; dâu rể bình đẳng quan tâm chu đáo hai bên nội ngoại là điều kiện chuẩn mực để giữ đoàn kết, hoà thuận trong đại gia đình .   
      Chồng vợ, anh em hoà thuận, sống biết nhường nhịn, bình đẳng và biết chờ đợi giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện tốt các tiêu chí nếp sống gia đình văn hoá.

                                               Chương Năm
                         VIỆC VÀO HỌ, BÁO TUỔI TRƯỞNG THÀNH,
                            HÔN THÚ, MỪNG THỌ, THĂM HỎI, TANG MA:

Điều 19. Việc vào họ, nhập họ:
      Mọi người trong họ dù là trai hay gái, con đẻ hay con nuôi, con trong giá thú hay con ngoài giá thú khi sinh ra có bố, mẹ, hoặc người họ Đỗ, Đậu nhận làm bố mẹ đều có quyền vào họ, nhập họ.
      Thân nhân người mới sinh hoặc người nhận con nuôi có bổn phận đến nhà thờ chi, tộc họ làm lễ cáo trình tổ tiên và ghi tên, ngày tháng năm sinh vào sổ họ và cầu mong tổ tiên chứng giám, phù trì cho con trẻ có sức khoẻ, ngoan, hay ăn chóng lớn, khôn biết trưởng thành.
      Vào họ, nhập họ tại nhà thờ là việc làm có ý nghĩa tâm linh, giáo dục ý thức đạo hiếu nhớ đến tổ tông, ý thức bổn phận sống biết giữ gìn bản thân vì có cha mẹ, tổ tiên dòng họ mới có mình.

Điều 20. Việc báo tuổi trưởng thành:
      Người trong họ đến tuổi trưởng thành ( vào tròn tuổi 18 ) có bổn phận đến nhà thờ chi, tộc họ làm lễ cáo trình tổ tiên việc bản thân đã đến tuổi trưởng thành và cầu mong tổ tiên phù trì cho sức khoẻ, trí tuệ, bản lĩnh nghị lực tự tin, tự thân lập nghiệp, tạo lập cuộc sống, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cháu.
      Báo tuổi trường thành là phong tục truyền thống, có ý nghĩa giáo dục ý thức bổn phận người đến tuổi trưởng thành biết trách nhiệm, nghĩa vụ đối với dòng tộc, đối với gia đình và trách nhiệm làm nghĩa vụ công dân trước pháp luật và xã hội.

Điều 21. Việc hôn thú, việc cưới:
      Mọi người nam, nữ trong dòng họ đủ tuổi lập gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình đều có bổn phận, nghĩa vụ lập gia đình riêng nhằm bảo đảm duy trì, phát triển nòi giống dòng họ và giống nòi của dân tộc Việt Nam.
      Người chuẩn bị lập gia đình riêng có bổn phận đến nhà thờ chi, tộc họ làm lễ cáo trình tổ tiên việc bản thân xin lập gia đình với người mình yêu và bày tỏ lời cầu mong tổ tiên phù trì, chúc phúc cho vợ chồng sức khoẻ, sinh con đẻ cháu, gia đình hoà thuận, đoàn kết, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc.
      Trai, gái dòng họ khi dựng vợ, gả chồng có bổn phận thực hiện việc đăng ký kết hôn và có giấy kết hôn hợp pháp.

      Việc tổ chức cưới cần thật sự có ý nghĩa, trang trọng, vui vẻ, tiết kiệm, phù hợp phong tục và quy định của chính quyền địa phương.
       Các anh chị em con cháu trong chi, tộc họ có bổn phận phân công, phối hợp với đoàn thể ở địa phương, cơ quan, đơn vị để giúp đỡ gia đình “đôi uyên ương” trong việc tổ chức hôn lễ thật sự chu đáo, vui vẻ .

Điều 22. Việc mừng thọ:
      Người xưa dạy “ Ngũ phúc thọ vi tiên ”. Tuổi thọ là phúc đứng đầu trong năm phúc lớn của con người. Từ xưa nay các chi, tộc họ Đỗ, Đậu hàng năm đều tổ chức mừng thọ cho người cao niên. Tuỳ điều kiện của mỗi chi, tộc, gia đình và phong tục tập quán của địa phương mà tổ chức mừng thọ, chúc thọ cho những người cao tuổi từ 60, 70, 80, 90, 95, 100,…thật sự trân trọng, có ý nghĩa giáo dục.
      Hội đồng chi, tộc họ, con cháu trong gia đình có người cao tuổi cần quan tâm tổ chức mừng thọ, chúc thọ cho người cao tuổi thật sự ý nghĩa, tình cảm.
      Mỗi chi, tộc họ có thể lập quỹ mừng thọ, quỹ được huy động đóng góp theo hàng năm.
      Mừng thọ trong dòng họ có ý nghĩa giáo dục ý thức tôn trọng người cao tuổi, giáo dục đạo lý “ ăn quả nhớ người trồng cây”, đồng thời qua việc mừng thọ cũng nhằm xác định bổn phận của người cao tuổi biết sống hoà nhập, vui vẻ, sống có ích, luôn là tấm gương mẫu mực để con cháu noi theo.  

Điều 23. Việc thăm hỏi:
      Thăm hỏi là việc đạo nghĩa, tình nghĩa, là biểu thị tấm lòng chân tình giữa con người sống với nhau trong cộng đồng dòng họ mỗi khi có việc vui, việc buồn, đau ốm, hoặc khi hoạn nạn, khó khăn bất trắc…
      Mỗi chi, tộc họ có thể lập quỹ thăm hỏi, quỹ được đóng góp theo hàng năm. Công khai mức chi phí cho từng việc thăm hỏi nhằm tránh sự suy bì tỵ nạnh gây mất đoàn kết trong họ.
      Thăm hỏi cốt ở lòng thành, tình nghĩa anh em trong dòng tộc, không nhất thiết câu nệ việc thăm hỏi là phải có quà cáp, tiền nong. Người trong dòng họ khi nghe tiếng, biết tin thì kịp thời chạy đến hỏi thăm, gửi lời động viên, thấy việc khẩn nguy thì giúp đỡ, huy động mọi người cứu giúp, giải quyết. Thăm hỏi là nghĩa cử gắn kết tình anh em keo sơn, máu mủ ruột rà trong cộng đồng dòng họ.

Điều 24. Viêc tang ma:
       Người xưa dạy: “ Nghĩa tử là nghĩa tận”. Việc tang ma là việc nghĩa, việc hiếu giúp đỡ sau cùng đối với người mất, là tình cảm tận hiếu với tang chủ.
       Khi trong chi, tộc họ có người qua đời, Hội đồng gia tộc và mọi người trong họ có bổn phận phối hợp với cơ quan, đoàn thể, đơn vị, địa phương và gia đình tang chủ tổ chức phúng viếng, tiến hành tang lễ, an táng người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng thật trang trọng và chu đáo.
       Khuyên nhắc: Người gặp hoàn cảnh bệnh ung thư, mới ốm, mới mổ dậy, chó dại cắn, mang thai, bệnh tim, phong thấp nặng, sức khoẻ yếu được ưu tiên miễn trừ việc tiếp xúc tang ma.
       Tuỳ theo phong tục truyền thống và quy định của địa phương, yêu cầu việc tang ma trong dòng họ cần tuân thủ theo nếp sống văn hoá và đảm bảo hợp vệ sinh. Thực hiện không tổ chức mời người ăn uống linh đình trong các lễ ba ngày, lễ bốn mươi chín ngày, lễ một trăm ngày.        

                                                    Chương Sáu
                 VIỆC GIÁO DỤC CON TRẺ, LẬP BAN, QUỸ KHUYẾN HỌC,
                     QUỸ KHEN THƯỞNG  HỌC, LAO ĐỘNG, CÔNG TÁC GIỎI:

Điều 25. Việc giáo dục con trẻ:
       Thế hệ trẻ nói chung, các con trẻ nói riêng là tương lai của dòng họ, tương lai của đất nước. Việc giáo dục con trẻ là bổn phận, nghĩa vụ là mối quan tâm hàng đầu của mọi người trong gia đình và chi, tộc họ.
      Hội đồng dòng họ sẽ thành lập Câu lạc bộ khoa học, giáo dục để tư vấn cho mọi người trong việc giáo dục con trẻ, chăm lo xây dựng con người của dòng họ.
      Cổ nhân nói : “ Nhân bất học bất tri lý, ấu bất học bất thành nhân, ngọc bất trác bất thành khí ”, nghĩa là người không học thì không có lý trí, trẻ không học thì không nên người, ngọc không mài thì không thành ngọc quý.
      Các Mác người đề ra chủ nghĩa khoa học duy vật biện chứng cho rằng: “ Ngu là ác”, nghĩa là người ngu không biết lẽ phải nhất định sẽ làm điều ác. Từ nhận thức được vấn đề này mỗi người trong dòng họ Đỗ, Đậu đều có bổn phận, nghĩa vụ học tập, rèn luyện và có bổn phận tự giác phấn đấu học tập hết các bậc học phổ thông, để có tri thức cơ bản làm người. Dòng họ luôn khuyến khích động viên mọi người phấn đấu cho sự học và tính sáng tạo trong lao động để mỗi ngày tri thức, nhân cách đạo đức được nâng cao hơn, hoàn thiện tốt hơn.
      Bổn phận cha mẹ là nuôi dạy giáo dục con trẻ về phẩm hạnh đạo đức, lòng nhân nghĩa và tình thương yêu, kết hợp giáo dục về nhận biết, sự phân biệt các thói hư tật xấu để giúp con trẻ có khả năng đề kháng và đấu tranh chống lại thói hư tật xấu.
      Có bổn phận giáo dục con trẻ về ý thức kỷ luật, nếp sống trật tự kỷ cương, kết hợp với giáo dục lòng tự tôn, tính tự tin và sự hồn nhiên mạnh dạn trong cuộc sống.
      Có bổn phận giáo dục con trẻ lòng dũng cảm, sự tự tin, biết lắng nghe, tính quyết đoán, rèn luyện đức tính kiên nhẫn và sự nhẫn nhịn cần thiết.
     Người xưa nói:  “ Việc dạy con trẻ đừng như chờ trăng rằm sẽ tròn ”, ý nói việc dạy trẻ phải từ lúc còn thơ chứ không phải như mặt trăng chờ đến rằm thì nhất định sẽ tròn.
-    Con trẻ từ một đến năm tuổi:
     Cha mẹ cần quan tâm nuôi dạy để hướng “tính bản thiện” cho con trẻ sự phân biệt cơ bản các bộ phận cơ thể trẻ, biết chú ý theo dõi và lắng nghe lời người lớn.
-    Con trẻ từ hơn năm tuổi đến chín tuổi:
     Cha mẹ cần nuôi dạy để giúp con trẻ có tính hồn nhiên, nói lời chuẩn xác, đức thật thà, có tình thương yêu và sự đam mê tìm hiểu quan sát mọi sự vật.
-   Con trẻ từ mười đến mười lăm tuổi:
     Ngoài việc học tập ở trường, cha mẹ cần giáo dục con trẻ tính kỷ luật, sự cần cù siêng năng, biết phân biệt được thói hư tật xấu cần tránh và đức kiên nhẫn, tính khoa học trong nếp sống.
-   Con trẻ từ mười sáu đến mười chín tuổi:
     Ngoài sự quan tâm việc học tập ở trường lớp, cha mẹ cần quan tâm giáo dục lòng tự tôn, tính tự tin, sự quyết đoán nhưng biết lắng nghe và đức nhẫn nhịn cần thiết.
-   Con cái từ tuổi đôi mươi trở lên ( chưa dựng vợ gả chồng ) :
     Cha mẹ vẫn cần để mắt đến tính nết, hành vi, mối quan hệ của con cái và hướng cho con cái tính tự lập, biết tự chủ động công việc, biết tự tạo dựng cuộc sống gia đình riêng, biết giữ đạo lý hạnh phúc gia đình.

Điều 26. Ban khuyến học và lập quỹ khuyến học:

      a.   Ban khuyến học:
      Hội đồng dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam, Hội đồng dòng họ khu vực và địa phương; Mỗi chi, tộc họ cần lập ban khuyến học để kịp thời nắm bắt việc học tập và giúp đỡ động viên các con cháu thi đua học tập tốt.
      Ban khuyến học hàng năm tổng hợp thành tích học tập, rèn luyện của các cháu để kịp thời động viên khen thưởng cho những cháu có thành tích trong học tập. Tuỳ theo điều kiện chi, tộc họ mà có thể khen thưởng từ học sinh tiên tiến, học sinh giỏi, học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc tế, hoặc các cháu học sinh nghèo vượt khó, các cháu có thành tích hoạt động Văn hoá, thể dục, thể thao, nhạc hoạ v.v.v. đoạt các giải huy chương và vào các trường Đại học, tốt nghiệp Đại học, Cao học, Tiến sỹ.
       Cần biết và chủ động tạo phong trào thi đua, ham thích học tập, rèn luyện lao động cho các cháu để xây tính thiện căn làm người.

     b.  Lập quỹ khuyến học:
     Dòng họ và chi, tộc họ cần thiết lập quỹ khuyến học nhằm có nguồn tài chính kịp thời động viên, giúp đỡ, hỗ trợ và xây dựng, duy trì phong trào thi đua học tập tốt của con cháu trong dòng họ.
     Bổn phận mỗi người trong dòng họ cần biết lo và lắng tự giác, tự nguyện đóng góp xây dựng quỹ khuyến học nhằm giúp đỡ tương lai cho con cháu.
     Hàng năm tuỳ theo hoàn cảnh điều kiện của mỗi chi, tộc họ Hội đồng chi, tộc khuyến gọi mọi người đóng góp, ủng hộ quỹ khuyến học.
     Quỹ khuyến học chỉ chi phí đúng mục đích cho công tác khuyến học và phải được công khai trước chi, tộc họ hàng năm.

Điều 27. Quỹ khen thưởng:
      Dòng họ và các chi, tộc họ rất cần thiết việc lập quỹ khen thưởng nhằm có nguồn tài chính kịp thời khen thưởng động viên những người có thành tích xuất sắc, lao động sáng tạo, tự thân vượt khó lập nghiệp, người phấn đấu trong công tác, rèn luyện tốt, người có công lao to lớn đối với dòng họ, và cộng đồng xã hội.
       Khen thưởng thành tích học tập, thành tích lao động, công tác và sự cống hiến cho xã hội là nhằm hướng tới xây dựng con người của dòng họ thật sự tốt và hoàn thiện toàn diện.

                                                  Chương Bảy
                        BỔN PHẬN GIÚP ĐỠ, ĐẠI DIỆN, BẢO VỆ QUYỀN
                 VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CÁC THÀNH VIÊN THUỘC DÒNG HỌ

Điều 28. Bổn phận giúp đỡ:
      Mọi người dòng họ Đỗ, Đậu có bổn phận quan tâm giúp đỡ người trong dòng họ. Giúp đỡ là đạo lý, là nghĩa tình của người trong dòng họ trong cộng đồng dân tộc với nhau.
      Khuyến khích quan tâm giúp đỡ trong dòng họ không đồng nghĩa với cục bộ và không nhằm bảo vệ cái sai, cái xấu trong họ mà còn để chỉ cho nhau biết được việc sai việc xấu, kịp thời động viên, hướng dẫn anh em con cháu quyết tâm khắc phục vượt qua.
       Mọi sự bàng quan vô cảm, thiếu trách nhiệm, bổn phận quan tâm giúp đỡ người trong dòng họ là tự mình xa rời dòng họ, xa rời cộng đồng dân tộc mình đang sống.

Điều 29. Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
      Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thành viên dòng họ là quyền được pháp luật cho phép và tuân theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật hiện hành. Đây là công việc mới của dòng họ.
      Hội đồng dòng họ sẽ thành lập Câu lạc bộ pháp luật của dòng họ để có điều kiện giúp đỡ tư vấn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mọi thành viên dòng họ.
       Hội đồng dòng họ, chi, tộc họ có bổn phận quan tâm giúp đỡ đại diện, bảo vệ các thành viên dòng họ khi quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trực tiếp bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại.
       Người cùng dòng họ tuyệt đối không thể bàng quan, vô cảm, đứng ngoài, bỏ mặc người cùng dòng họ đang trực tiếp bị xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp hoặc có nguy cơ bị xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp.
       Mỗi người trong dòng họ có bổn phận kịp thời thông tin cho Hội đồng dòng họ, chi, tộc họ để chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người trong dòng họ.

                                             Chương Tám
           VIỆC THU, QUẢN LÝ THU, CHI TÀI CHÍNH, GIẢI ĐÁP VƯỚNG MẮC,
            KHEN THƯỞNG, SỬA ĐỔI, BỔ SUNG, HIỆU LỰC THI  HÀNH TỘC ƯỚC.

Điều 30. Nguồn thu tài chính:
      -  Nguồn thu từ đóng góp hàng năm của thành viên các chi, tộc họ; thu từ đóng góp hàng năm của những người trong chi, tộc họ;
      - Nguồn thu từ sự tự nguyện, hảo tâm ủng hộ của mọi người trong dòng họ, chi, tộc họ;
      -  Nguồn thu hợp pháp của những cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài tự nguyện, hảo tâm giúp đỡ hộ trợ;        
      - Các khoản đóng góp tự nguyện của các Doanh nhân thuộc Câu lạc bộ Doanh nhân dòng họ.
      - Các nguồn thu hợp pháp khác phục vụ cho mục đích khen thưởng khuyến học, phấn đấu rèn luyện, lao động công tác xuất sắc, hoạt động văn hoá dòng họ.

Điều 31. Quản lý thu, chi tài chính:
       Mọi việc thu, chi tài chính của dòng họ, chi, tộc họ đều được công khai minh bạch và vào sổ sách theo dõi theo luật kế toán thông kê.
       Tuyệt đối không sử dụng nguồn tài chính, quỹ khen thưởng, khuyến học vào các việc tổ chức ăn uống, chiêu đãi, quà cáp hoặc tiếp khách.   

Điều 32. Giải quyết các vướng mắc:
       Mọi vướng mắc trong quá trình thực hiện tộc ước, việc thu, chi tài chính của dòng họ, của chi, tộc họ đều được kịp thời phản ảnh cho Chủ tịch, hoặc thường trực hội đồng dòng họ, chi, tộc họ nơi có vướng mắc biết để kiểm tra và kịp thời giải quyết các vướng mắc trong nội bộ dòng họ. Tránh tình trạng: “ Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường” gây mất uy tín, gây sự hoài nghi, gây mất đoàn kết nội bộ dòng họ.    

Điều 33. Việc sửa đổi bổ sung tộc ước:
       Việc sửa đổi, bổ sung Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam cần được ít nhất 2/3 thành viên Hội đồng dòng họ dự họp thông qua và nhất trí.
       Việc sửa đổi, bổ sung Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu khu vực, địa phương cần được ít nhất 2/3 thành viên Hội đồng thông qua và nhất trí ( vấn đề này có người đề nghị 2/3 số người dự họp vì cuộc họp hội đồng không thể đủ được – xin ý kiến góp ý ).
       Việc sửa đổi, bổ sung Tộc ước chi, tộc họ cần được ít nhất 2/3 thành viên hội đồng chi, tộc họ dự họp thông qua và nhất trí.   
       Việc sửa đổi, bổ sung các quy định Tộc ước dòng họ không được trái với quy định pháp luật Nhà nước, không trái quy chuẩn đạo đức xã hội, không nhằm gây chia rẽ đoàn kết nội bộ dòng họ và mối đoàn kết rộng rãi trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.     

Điều 34. Áp dụng thực hiện:
      Các dòng họ khu vực, địa phương, các chi, tộc họ căn cứ  vào quy định của Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam để áp dụng sáng tạo vào Tộc ước của dòng họ khu vực, địa phương hoặc của chi, tộc họ mình tạo điều kiện cho mọi người trong dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam cùng nhận biết và thống nhất chung việc thực hiện Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam.
 
Điều 35. Hiệu lực thi hành:
       Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam, Tộc ước dòng họ khu vực và địa phương, Tộc ước của các chi, tộc họ là “ Luật tục của dòng họ, là sản phẩm văn hoá mang tính khoa học và nhân văn của dòng họ”.
       Phát huy, kế thừa truyền thống Tộc ước tổ tiên xưa để lại dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ trương vận động, khuyên nhắc, khuyến dụ mọi người trong dòng họ có bổn phận, nghĩa vụ tự giác, tự nguyện, đồng thuận, đồng lòng phấn đấu thực hiện những ước nguyện hợp tình, hợp lý, hợp đạo đức, khoa học và giàu tính nhân văn của cộng đồng dòng họ.
       Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam là tiếng vọng tự ngàn năm lời khuyên nhắc răn dạy của cha ông, là tiếng đếm nhắc thời gian hiện tại về thực hiện đạo lý làm người. Tộc ước thể hiện sức mạnh nội tâm của cả dòng họ vốn có tính khả thi và hiệu lực từ ngàn xưa. Nay con cháu tiếp tục tự giác thực hiện để dòng họ Đỗ, Đậu mãi mãi trường tồn và phát triển.
       Tộc ước này tổng hợp những lời khuyên nhủ, những ước vọng tâm nguyện chung, đúc rút từ các Tộc ước của các chi, tộc họ và ý tưởng chân chính của mọi thành viên. Việc thực hiện hay chưa thực hiện được các điều quy định trong Tộc ước trước tiên là do tự  bản thân biết, rồi tiếp đến con cháu và linh hồn tổ tiên gia đình người đó biết !. Để thực hiện tốt Tộc ước là do sự tự giác, tự nguyện, đồng lòng, đồng thuận của mỗi người.
        Tộc ước đã được thông qua và được sưả đổi theo sự đóng góp ý kiến của các chi, tộc họ Đỗ, Đậu toàn quốc đồng thuận.
 
        Chúng ta những người con cháu hiếu thảo xin cúi đầu bái vọng tổ tiên dòng họ, cầu mong tổ tiên phù trì thức tỉnh mọi người con cháu luôn phát tâm tự nguyện, tự giác, đồng tâm, đồng thuận thực hành thật tốt Tộc ước dòng họ Đỗ, Đậu Việt Nam!./.  

           TM/ HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ ĐỖ, ĐẬU VIỆT NAM
                                      CHỦ TỊCH


                                    ĐỖ NGỌC LIÊN


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn