Chủ nhật, 20/09/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay873
mod_vvisit_counterHôm trước1412
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
CHỮ HIẾU - XƯA và NAY E-mail
13/08/2011

CHỮ HIẾU - XƯA và NAY

 

Chữ hiếu xưa & nay

 “Hiếu tâm tức thị Phật tâm,
Hiếu hạnh vô phi Phật hạnh”

 

Một thông điệp ngắn nhưng hạt giống nhân bản vô cùng lớn, trên hết là tính cách mạng về giáo dục đạo đức của Phật giáo. Bậc Đạo Sư khi dạy điều này Ngài đã đặt mình ở vị trí của một người làm con nói về hạnh hiếu, chứ không phải ở vị trí của bậc đã viễn ly sanh tử. Ngài dạy rằng Thế Tôn cũng là người đại hiếu và tất cả các con cũng phải như vậy: “Khể thủ tam giới chủ, đại hiếu Thích Ca văn” (sớ Vu Lan), tâm hiếu tức tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật. 

 

Hiếu tâm- hiếu hạnh là cội nguồn của đạo làm người trên nghĩa tuyệt đối để thành tựu những con người với nhân cách cao thượng. Đạo hiếu là con đường, là chân lý, là phương thức,là cách sống, là cứu cánh viễn ly điên đảo mộng tưởng, là giềng mối cho sự thịnh trị quốc gia và hạnh phúc xã hội.

 

Gương hiếu xưa

 

Chữ hiếu xưa nay được dạy nhiều trong cả hai nền văn hóa Đông Tây, như trong Phật giáo số lượng các bài kinh hiếu hạnh rất lớn và nằm tản mát trong Tam Tạng,  sự ra đời những bài kinh hiếu hạnh mà Phật dạy luôn có nhân duyên xuất hiện đặc biệt.

 

Câu chuyện tiền thân “Hiếu Tử Sàma”[1]. Có chàng trai thuộc gia đình giàu có ở thành Xá-vệ, vì mộ đạo nên xuất gia. Khi xuất gia một thời gian và làm Tỳ-kheo, gia đình của thầy lâm vào cảnh khốn khó, cha mẹ thầy phải lang thang xin ăn, khi hay tin cha mẹ như vậy, sầu thương nổi lên và thầy buồn khóc thật nhiều, nghĩ rằng mình phải trở về gia đình để lo cho cha mẹ. Nghĩ vậy,trên đường hoàn tục để quay lại quê nhà tại Xá-Vệ, thầy đã đến Kỳ Viên để đảnh lễ Phật lần cuối,  quán thấy những bất an của vị Tỳ-kheo này nên bậc Đạo Sư đã dạy, một người con đi xuất gia vẫn lo được cho cha mẹ mình. Hôm sau trên đường về, thầy đã gặp cha mẹ đang ngồi xin ăn bên vệ đường, thầy không kìm lòng được và đã cúng dường hết cho cha mẹ phần thức ăn mà thầy đã khất thực, hôm sau thầy cũng phụng dưỡng cha mẹ bằng cách đó. 

 

Việc làm này của thầy đã gây ngờ vực cho các thầy khác,  rồi đem chuyện này trình lên đức Phật, Phật cho gọi vị Tỳ-kheo trẻ đến và hỏi: “ Có phải ông đã xuất gia mà còn lấy vật cúng dường của thí chủ đem cho người thế tục không?đó là người thế tục nào?. Thầy đáp: Bạch Thế Tôn, có, đó chính là cha mẹ của con”. Phật tán thán việc làm đó và dạy:  “Lành thay! Ông đang đi con đường ngày xưa Ta đã đi qua, ngày xưa khi đi khất thực Ta cũng phụng dưỡng cha mẹ Ta”.

 

Các vị Tỳ-kheo khi xuất gia tu hành, dù cắt ái từ thân thực hiện nếp sống viễn ly, nhưng trên phương diện đạo đức xã hội, phụ mẫu tình thâm nên vẫn phải làm tròn bổn phận đạo con. Thời Đức Phật còn tại thế, mỗ khi biết vị Tỳ-kheo nào có hiếu với cha mẹ Ngài đều tán thán, vì trải qua vô lượng a tăng kỳ kiếp, tiền thân của Phật cũng là hiện thân của người con đại hiếu, như trong chuyện tiền thân “Cánh đồng lúa”, đức Phật từng hóa thân làm chim Oanh Vũ hàng ngày đi kiếm lúa về nuôi cha mẹ mù.

 

Vào thời đức Phật có Tôn giả Tất- Lăng-Già-Bà-Ta, sau khi xuất gia hành đạo, nhưng còn cha mẹ già yếu, nghèo khổ không ai nuôi dưỡng. Ngài muốn đem y phục và thực phẩm cúng dường cha mẹ, nhưng vì sợ phạm giới luật. Ngài bèn trình bày nỗi băn khoăn của mình lên Thế Tôn. Nhân đó, đức Đạo Sư họp các Tỳ-kheo và truyền dạy: "Nếu có người nào suốt cả trăm năm, vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ, và dù cha mẹ có đại tiểu tiện trên vai mình, cũng chưa thể gọi là làm tròn hiếu đạo. Hoặc đem những thứ y phục và ẩm thực quý nhất trên đời cung phụng cha mẹ cũng chưa đủ báo đền công ơn cha mẹ trong muôn một. Từ nay Ta cho phép các Tỳ-kheo suốt đời hết lòng cúng dường cha mẹ. Nếu ai không cúng dường thì phạm tội nặng” (Luật ngũ phần)[2]. 

 

Viêt Nam ngày trước, đạo hiếu có lúc được quy định rõ trong hiến pháp, sự tiến bộ của hình pháp đã có từ thời Lê Sơ thông qua “Quốc triều hình luật”[3] hay gọi là Bộ luật Hồng Đức, cán cân luật pháp thể hiện tính nghiêm minh thông qua quy phạm của luật hình sự,  các tội nặng nhẹ được phân định rõ ràng, đặc biệt các tội được gọi là "tội ác" gồm có 10 loại: "Thập ác"

 

Điều 7 trong thập ác quy định về tội bất hiếu: “ Bất hiếu là các tội tố cáo hoặc dùng lời lẽ để chửi mắng, bỏ đói, bỏ rét ông bà, cha mẹ, hoặc khi có tang ông bà cha mẹ lại không để tang mà nhởn nhơ vui chơi”. Người phạm tội bị phạt đồ hình, đày đọa làm việc nặng nhọc, bắt làm khao binh vụ cho lính ở chiến trường, và trước khi đưa đi đày, kẻ bất hiếu bị đánh 80 trượng trước xóm làng để răn đe thói hư bất hiếu.

 

Đến triều Nguyễn, tấm gương hiếu hạnh được nhắc nhiều là vua Tự Đức, nói về chữ hiếu mà không nhắc đến vua Tự Đức là một thiếu sót, vua Tự-Đức Là vị vua có Hiếu[4] với mẹ bậc nhất trong 13 vị Hoàng đế Triều Nguyễn.

 

Trải qua 36 năm làm Vua trên ngai vàng, Vua Tự-Đức lúc nào cũng dành ngày chẵn vào cung để vấn an sức khỏe mẹ, đồng thời nghe lời truyền bảo của mẹ, nếu có điều gì quan trọng đáng lưu tâm thì ghi ngay vào quyển sổ tùy thân mà nghiền ngẫm. Đó là, quyển sổ từ huấn lục- quyển sổ chép lời mẹ dạy. Còn ngày lẻ thì lo việc triều đình, chớ không vì làm Vua có vạn năng quyền thế mà lơ là bổn phận làm con. (Tìm Hiểu Các Danh Nhân - Nguyễn Phú Thứ)

 

Có lần, ngày mai là đến kỳ giỗ kỵ tiên đế Thiệu-Trị, thế mà hôm ấy Vua Tự-Đức ham đi săn bắn, gặp nước lụt chảy xiết mạnh bất ngờ, Vua quan chưa dám dùng thuyền hồi cung, phải mắc kẹt chốn ngoại thành thuộc rừng Thuận-Trực. Bà Từ-Dũ sai quan Nguyễn-Tri-Phương đi rước, khi vào cung, vua biết lỗi, dâng roi, nằm xuống chờ quở phạt. Bà Từ-Dũ giận, quay mặt chẳng nói một lời, sau đó mới tha cho hình phạt, chỉ trách dạy bằng lời mà thôi. ( trích nt)

 

Trong Đại Nam Nhất Thống Chí, bộ sách lịch sử địa lý của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, biên soạn thời Tự Đức, có thuật lại tấm gương hiếu của Thiền Sư Nhất Đinh, khi mẹ thầy bị bịnh nặng, Thiền Sư lặn lội lập An Dưỡng Am để cõng mẹ về cùng nương nấu và cũng thuận đường tu tập. 

 

Mẹ Ngài ngày thêm bệnh nặng, được y sư khuyên rằng cần phải bồi bổ cho bệnh nhân bằng thịt hoặc cá mới mong khỏi, hằng ngày Sư chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 cây số để mua cá và buộc vào đầu gậy mang về am thổi cháo hầu mẹ, lần hồi bệnh thuyên giảm...  vì xuống chợ mua cá mà bị đời đàm tiếu vì họ không hiểu. Lâu ngày, chuyện đến tai Vua Tự-Đức, Vua sai người theo dõi, tìm hiểu hư thực.  Vốn cũng là vua hiếu nên khi biết hoàn cảnh của thiền sư, vua rất quý kính, cung cấp lương thực cho Sư nuôi mẹ, và cho tu bổ An Dưỡng Am rồi ban biển ngự đề "Sắc Tứ Từ Hiếu Tự". Kể từ đó, An-Dưỡng-Am trở thành chùa Từ Hiếu lưu danh đến ngày nay.

 

Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, có hai việc làm cho phàm phu được công đức lớn, được quả báo lớn, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, đó là phụng sự cha và phụng sự mẹ. Phụng sự cha mẹ được công đức lớn, được quả báo lớn như cúng dường cho vị Bồ Tát chỉ còn một đời nữa là thành Phật. Vì vậy, các thầy phải luôn luôn ghi nhớ mà hiếu thuận phụng sự cha mẹ”.

 

Chữ hiếu nay, nhìn nhận đôi điều..

 

Khi những cơn nắng dâng oi bức của sa mạc triều khô mùa hè đang dạt về những đợt thịnh nộ yếu ớt cuối cùng để làm nhịp cầu cho những hạt mưa ngâu bắt đầu rơi, là lúc tiết trời đang ở giữa lưng chừng của đại thử và lập thu, cũng là lúc sắp mãn cửu tuần an cư kiết hạ tịnh tu Tam nghiệp thúc liễm thân tâm của hàng Tứ chúng đệ tử Phật, là bắt đầu mùa hiếu hạnh tưởng nhớ những đấng sinh thành “Thương cha xuôi ngược giữa dòng, mẹ yêu tất tảo gánh gồng nuôi con”, cũng là mùa bạt theo độ truyền thống nhân gian:

 

“Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
 Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi,
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan cứu khổ độ về Tây Phương”
. 

 (Văn tế thập loại chúng sanh- Nguyễn Du)

 

Chữ hiếu ở mỗi thời khác nhau, do sự khác biệt ý thức hệ và hành trạng xã hội luôn đặt sự nhận thức khác nhau về bổn phận trách nhiệm của người con phải hành xử như thế nào cho trọn tình hiếu nghĩa với cha mẹ, trong quan hệ với tình anh em, đồng bào,tổ quốc. 

 

Chính vậy, trong buổi giao thời chữ hiếu rất hệ trọng, ngày nay kỹ nghệ thông tin bùng nổ như thác lũ, chúng ta sẽ tiếp nhận rất nhiều nguồn thông tin: internet, truyền hình, báo, di động…trong dòng thác đó, tốt có, xấu có..sự thông tin qua lại trong gia đình từ đó ngày một giảm dần, con cái ít nhận thông tin từ cha mẹ, lơ là hiếu đạo, tình cảm xa cách.

 

Người ta dự báo rằng, hiện tại cũng như tương lai, thân tướng con người sẽ như que diêm, nhưng bộ não sẽ phải phì đại như trái bóng vì nạp lượng thông tin quá lớn, mặt trái của nó, thức ăn là lượng thông tin nhưng đầy dẫy những con virus, kết nối cuộc sống trên cộng đồng mạng và tìm quên trong thế giới ảo, xa rời đời sống thực tại, xa rời cội nguồn văn hóa tâm linh truyền thống, làm trật tự xã hội bị đảo lộn, cha mẹ ít có điều kiện gần gũi, chữ hiếu bị lãng quên.

 

Cuộc sống hối hả, tình người hời hợt, kẻ sống đua đòi, háo danh, lắm lúc quên đi tình cảm thiêng liêng nhất là gia đình, quên rằng mình chỉ có duy nhất một người cha và một người mẹ trên đời, đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, không dễ gì tìm thấy một chúng sanh chưa từng là cha, là mẹ, là anh, là chị, là con trai, là con gái của các Thầy trong bước đường dài của sự tái sanh”. (Tương Ưng Bộ Kinh II). 

 

Gia đình, nơi có cha, có mẹ,có anh, có em.. vốn là nơi kết nối ân tình, là mầm móng yêu thương và phát triển nhân cách, là nơi chốn bình yên mỗi khi ta tìm về thì nay ta đã vô tình quên lối, từ đó mới xảy ra nhiều những sự việc đau lòng cho xã hội. 

 

Chuyện bao đời nước chảy xuôi chứ chẳng bao giờ chảy ngược, cha mẹ khổ nhọc sớm hôm tần tảo nuôi con ăn học thành tài, làm ông này, bà nọ..là chuyện thường, nhưng khi con thành tài chăm lại cha mẹ không phải là nhiều, thậm chí chuyện con làm phật lòng cha mẹ, có kẻ nghịch tử còn đánh cha chửi mẹ, chuyện đó không phải ít trên các báo hằng ngày. 

 

Một người con có hiếu, sẽ biết phải làm gì để cha mẹ vui lòng, ngược lại bổn phận người làm cha mẹ cũng phải biết làm sao để con nên người. Khi con cái không cần biết cha mẹ thích gì, cần gì..vì cái gọi là tổ ấm hạnh phúc riêng tư mà quên bẵng đi cha mẹ mình, tới tháng dấm dúi vào tay cha mẹ vài đồng như một cái máy gọi là xong trách nhiệm,  đợi khi cha mẹ qua đời thì làm tang ma thật lớn, sự hiếu thuận tưởng chừng đã muộn nhưng không là chuyện hiếm thời nay.

 

Nhớ câu chuyện “Đôi mắt người mẹ” đọc được trên mạng:“Có một người lúc nào cũng căm ghét mẹ mình, vì bà nghèo, xấu, lam lũ và chỉ có một con mắt. Người con này học hành chăm chỉ nên được du học, thành đạt và có vợ con, thỉnh thoảng anh ta gởi tiền về và mua căn nhà nhỏ cho bà, rồi tự nhủ đã làm tròn bổn phận, cắt đứt mọi liên lạc với bà.

 

Ngày kia có một bà già lam lũ đến trước cửa nhà anh ta, làm mấy đứa con anh ta hoảng sợ, anh ra quát Hồi nhỏ, đã làm cho con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ còn định phá hỏng cuộc sống của con hay sao? bà nói xin lỗi vì tôi nhầm địa chỉ và lặng lẽ đi.

 

Rồi bà qua đời trong hiu quạnh không ai hay biết, bà để lại một lá thư cho người con trai.

 

"Con yêu quý! Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi và ân hận về việc đã làm cho con xấu hổ và các cháu sợ hãi. Con biết không hồi con còn nhỏ, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ...
Mẹ yêu con lắm
....”

 

Đọc xong câu chuyện lại nhớ hai câu thơ trong bài thơ “Mắt buồn” của Bùi Giáng, “Bây giờ riêng đối diện tôi, còn hai con mắt một con khóc người”, khóc đây xin khóc cho đôi mắt người mẹ với hạnh vô úy thí của vị Bồ-tát, đã cho người con nhìn thấy thế giới bằng đôi mắt của mình, nhưng người con kia lại vô minh như “Gã Cùng Tử” trong kinh Pháp Hoa. “Thủ khoa đỗ đạt trạng nguyên,khôn mình mà vẫn là người Ngu si”.

 

Nhưng cũng không hiếm chuyện những người mẹ trẻ thời nay nhẫn tâm vứt máu mủ ruột rà của mình vào những hầm rác,hố xí,bồn cầu…với những tội ác được biện mình bằng sự lầm lỡ, ích kỷ mà ngay cả những con vật cũng chưa thấy có hành động tương tự. 

 

Điển hình như mới đây, một người mẹ 21 tuổi bỏ đứa con sơ sinh của mình xuống kênh trên báo vnexpress ngày 11/7, rồi tạo hiện trường giả như một vụ bắt cóc con. Theo đó, người phụ nữ đã lẳng lặng đem con trai 11 ngày tuổi bỏ xuống mương nước cách nhà khoảng 100 m. Sau đó, cô ta vào nhà tự lấy vải bịt miệng, trói chân tay của mình lại và la lên cho người nhà biết. Đó là một tội ác, là tội giết người, rất đáng lên án.

 

Thời mà thước đo giá trị bị lệch về phía thực phẩm thay vì nhân phẩm, lương thực thay vì lương tâm, là bởi xã hội không trang bị được cho người dân ý thức trách nhiệm về việc gìn giữ và phát huy đạo đức tâm linh nguồn cội, phạm vi của chữ hiếu thay vì phải được hiểu rộng theo chuẩn mở rộng thì bị thu hẹp lại trong phạm vi gia đình, nên khi sự vẹn toàn của lãnh thổ đang hiểm nguy, đồng bào bị ‘tàu lạ’ tấn công cướp của nhưng ít được ai lưu tâm.

 

Ngưỡng cửa vào đời đã mở nhưng chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại chưa được xây dựng, người thanh niên thiếu một thanh gươm trí tuệ và tình thương yêu đồng loại, sự nhường nhịn đủ lớn, nên khi ra đường một cú va quẹt xe rất nhỏ nhưng lại xảy ra án mạng.

 

Rồi rột người thanh niên chẳng may bị cướp giật rớt túi tiền, người đi đường lương thiện thấy vậy, thay vì giúp đỡ ngươi gặp nạn, nhưng lại chọn cách biến mình thành kẻ cướp mạt hạn, nhảy vào tranh dành những đồng tiền rơi rải vô tội của người bị nan, không thua gì tên đạo tặc. Nhớ trận sóng thần ở Nhật, có tượng Phật bị sóng đánh nằm đìu hiu trong đống đổ nát, một vị sư Nhật khi được hỏi sao thầy không thỉnh Phật về thờ cho trang nghiêm. Sư đáp, cũng xót lắm nhưng đó không phải là của mình, hay như bài học về sự nhường nhịn của cậu bé Ashima 9 tuổi.. bởi vì người dân Nhật hiểu rất rõ về hiếu đạo của mình, hiểu rõ ‘Tứ ân’ trong Phật giáo. 

 

Đạo hiếu của người Việt từ xưa có nét đặc thù riêng được đề cập trong Lục Độ Tập Kinh, hiếu đâu phải chỉ thương cha thương mẹ là đã làm tròn hiếu đạo của một con người, mà còn phải "Giúp nghèo cứu thiếu, thương nuôi quần sinh, là đứng đầu của hạnh ’’[5].(Lục độ tập kinh 2), từ đó hiểu rõ hơn đạo hiếu của Việt Nam: Tôi ở đời lâu năm, tuy thấy Nho sĩ tích đức làm lành, há có ai như đệ tử Phật quên mình cứu người, âm thầm mà không nêu danh (Lục độ tập kinh 5).  

 

Người Việt [6] phải xác định mình có một nền văn hóa, một nền đạo đức cần phải bảo vệ, nếu không nối dõi được thì dân tộc không thể tồn tại với tư cách là một dân tộc được. Xuất phát từ quan điểm nối dõi như thế, người Việt không đi đến một chủ nghĩa nối dõi cực đoan, như sự nối dõi về mặt sinh vật học của chủ nghĩa ưu sinh (eugenics) hiện đại, gây tác hại và tốn bao sinh mạng đối với những dân tộc khác, như hành động xâm lấn đất đai, biển đảo từ xưa cũng như gần đây của Trung Quốc. Bảo vệ nền văn hóa của mình, bảo vệ lối sống (hạnh) của mình, đó chính là đạo hiếu của Việt Nam’’.

 

Cuộc sống bộn bề vốn kèm theo sự xung đột giữa chuẩn mực mới và cũ, ở đó bóng đêm luôn rình rập, trong trạng huống này duy chỉ có ánh sáng là đủ quyền năng, muốn vậy phải có đủ trí tuệ để tìm ra cách hành xử khôn ngoan, để giải thoát ta ra khỏi bóng tôi mê mờ, vừa không bị cuốn theo ma lực hào nhoáng của tiền tài, danh vọng..[ngũ dục], vừa giữ được đạo làm con, vừa giữ được hạnh phúc gia đình và sự thịnh vượng xã hội..ánh sáng đó mà nhà Phật gọi là Trung đạo, hay khái niệm Balance trong kinh tế.

 

Đạo Phật ra đời hơn hai ngàn năm, những gì mà Phật dạy không ngoài mục đích giúp xác lập trật tự bình đẳng và sự bình an cho xã hội loài người trên con đường đoạn tận khổ đau, trong đó đạo hiếu là căn bản. 

 

Ngày nay thế giới loài người phải chăng là một chuỗi suy vong các giá trị, những điều tốt đẹp thuở ban đầu dường như về sau suy yếu dần, nhưng chắc chắn một điều rằng, trong khu rừng rậm rạp u tối kia đâu chỉ có mỗi loài hoa độc, mà ở đó vẫn có những đóa hoa như đẹp lan rừng nên Phật mới dạy chúng ta phương cách để vào đó tìm kiếm. 

Mùa Vu Lan, PL  2555

Huệ Lưu

 

[1]  Tiểu Bộ Kinh, Nikaya-Trần Phương Lan dịch
[2]  Theo gương báo hiếu của người xuất gia- Thích Phước Sơn
[4]  Tìm Hiểu Các Danh Nhân, trang 279 đến trang 281, tác giả Nguyễn Phú Thứ
[5]   Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Quan niệm về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam, Lê Mạnh Thát
[6]   nt
Nguồn Blog Nguyễn Xuân Diện

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn