Chủ nhật, 25/06/2017
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1044
mod_vvisit_counterHôm trước1350
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
E-mail
03/06/2007
Một trường học yêu nước đầu tiên ở Hà Nội
 

Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục
Ảnh: Linh Tâm

Từ giữa năm 1906 dân phố Hàng Đào thấy các nhà nho có tên tuổi như phó bảng Hoàng Tăng Bí, cử nhân Dương Bá Trạc, tú tài Lê Đại, huấn đạo Nguyễn Quyền... thường xuyên lui tới nhà cụ cử Lương Văn Can ở số nhà 4. Lại có cả các vị thanh niên Tây học danh tiếng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Bùi Đình Tá... cũng có mặt. Chẳng biết họ bàn việc gì song ai nấy đều đoán là liên quan đến "quốc sự" rồi.

 

Và rồi tới tháng 3 năm 1907, cách nay đúng 100 năm, nhà số 10 Hàng Đào treo biển dọc, theo cách hồi ấy Đông Kinh nghĩa thục (ĐKNT) và bắt đầu chiêu sinh. Đông Kinh là tên kinh thành Thăng Long thời Lê sơ, sau đổi ra cả vùng đàng ngoài, nghĩa thục là trường dạy việc nghĩa. Học sinh tới tấp ghi tên nhập học, đủ lứa tuổi, tầng lớp: các ông nhà nho tới học chữ Pháp, quốc ngữ, các  cậu thanh  niên học chữ Pháp và cả chữ  Hán,  có  riêng  một lớp cho nữ.  Ban  đầu  chỉ  có ba lớp khoảng 100 trò, đến tháng 5/1907 khi có giấy phép chính thức (do Nguyễn Văn Vĩnh đứng ra làm đơn xin mở trường) thì học sinh đã lên tới vài trăm, phải mở 8 lớp. Nhà số 10 không đủ chỗ, phải san sang bên nhà cụ cử Can số 4 và thuê thêm căn nhà bên số lẻ gần ngõ Gia Ngư của cụ Cống Sùng giàu vào hạng nhất Hà Nội bấy giờ, người Du Lâm, Đông Anh. Bài Vè Đông Kinh có câu:

 

Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ

Khắp ba mươi sáu phố Hà thành

Gái trai nô nức học hành

Giáo sư tám lớp học sinh non ngàn

 

Có thể nói ĐKNT là nhà trường kiểu mẫu cho tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử lúc đó. Do Lương Văn Can làm thục trưởng và Nguyễn Quyền làm giám học, trường có 4 ban: Giáo dục, Tài chính, Tu thư và Cổ động.

 

Ban Giáo dục gồm ba tổ Việt văn, Hán văn và Pháp văn. Các cụ Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc... dạy Hán. Các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Bùi Đình Tá... dạy Việt và Pháp văn. Có hai nữ giáo viên dạy chữ Pháp và quốc ngữ cho học trò nữ.

 

 

Nhà số 10 phố Hàng Đào ngày nay. Ảnh: LT

Ban Tài chính xây dựng quỹ cho nhà trường, lúc đầu rất khó. Nhưng được sự ủng hộ nhiệt tình của dân Hà Nội, quỹ  mỗi ngày một dồi dào, nguồn cung cấp chính là thường trợ - người có con em theo học, mỗi tháng mỗi người giúp 5 đồng. Ngoài ra còn loại lạc trợ, là người hảo tâm giúp. Những ai ủng hộ nhà trường đều được ghi tên treo ngay ngoài cửa trường, chẳng mấy lúc ghi dày đặc một bảng lớn.

 

Giáo viên chỉ lĩnh hàng tháng một số cấp phí 4 đồng một người. Số tiền còn lại dùng vào việc mua giấy bút, cấp học bổng cho học trò và chi tiêu công việc nhà trường.

 

Ban Cổ động có việc truyền bá những tư tưởng mới dưới hai hình thức diễn thuyết và bình văn. Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lương Trúc Đàm... là những người diễn thuyết có tiếng bấy giờ. Phan Chu Trinh những ngày ở Hà Nội cũng đến trường diễn thuyết. Hai hình thức này thu hút đông đảo thính giả Hà Nội, nên có thơ để lại:

 

Buổi diễn thuyết người đông như hội

Kỳ bình văn khách tới như mưa

 

Ban Tu thư có nhiệm vụ biên tập các loại tài liệu khác nhau cho học sinh học, vừa để cổ động cho ĐKNT, vừa để hô hào cải cách. Biên tập chính có Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Ngô Đức Kế... Tài liệu giáo khoa phần lớn lấy trong các sách báo mới của Trung Quốc, hoặc trích trong tác phẩm cổ văn thích hợp với mục đích giáo dục của nghĩa thục.

 

Chương trình học tập bao gồm những kiến thức như địa lý, sử kí, cách trí, vệ sinh...,  vẫn phải nương vào chương trình giảng dạy trong trường học của thực dân. Nhưng điểm khác nhau căn bản là ĐKNT chú trọng biên soạn những bài giảng theo quan điểm đào tạo những con người hữu dụng cho đất nước chứ không phải để đào tạo những tay sai như trong trường học của thực dân. Bên cạnh nội dung giáo dục đó là các buổi diễn thuyết ngoại khóa hô hào chống lề thói phong kiến lạc hậu và trọng thực nghiệp, dùng hàng nội hóa...

 

 Một vấn đề đặc biệt tiến bộ mà ĐKNT đã làm là mạnh dạn tuyên truyền những tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ của các nước châu Âu. Để truyền bá những tư tưởng học thuật mới, ĐKNT đặc biệt chú trọng phổ biến chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Nho khó học và dịch các sách ngoại ngữ ra quốc ngữ.

 

Chữ quốc ngữ là hồn trong nước

Phải đem ra tính trước dân ta

Sách các nước, sách Chi-na

Chữ nào chữ nấy dịch ra cho tường

 

ĐKNT nhằm vào một mục tiêu cụ thể là phát triển văn hóa làm lợi khí để đẩy mạnh hoạt động thực nghiệp làm cho nước giàu dân mạnh. Nước có giàu dân có mạnh thì mới mong thoát khỏi ách nô lệ. Đó chính là nội dung và mục đích yêu nước mà ĐKNT đã nói rõ

 

Suốt thân sĩ ba kỳ Nam Bắc

Bỗng giật mình sực tỉnh cơn mê

Học, thương xoay đủ mọi nghề

Cái hồn ái quốc gọi về cũng mau

 

Cái "hồn ái quốc" mà ĐKNT muốn kêu gọi và giáo dục cho mọi người đó không thể là điều gì khác ngoài nền tự do của Tổ quốc. ĐKNT hoạt động hay như vậy nên ảnh hưởng tỏa ra nhiều nơi. Gần trung tâm Hà Nội có Mai Lâm nghĩa thục ở Hoàng Mai, Ngọc Xuyên nghĩa thục ở Tứ Liên. Các nhà nho tiến bộ cũng lấy chương trình Đ KNT về dạy ở quê hương, như cử nhân Nguyễn Châu Đỉnh làng Vẽ, Trần Đỉnh làng Thượng Cát (đều thuộc huyện Từ Liêm). Các địa phương khác có "phong trào" tương tự là Trôi Gối ở Đan Phượng, Nhị Khê ở Thường Tín, đều thuộc Hà Đông, cùng Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên...

 

Thực dân Pháp mới đầu còn tỏ thái độ phỉnh phờ đối với ĐKNT nhưng sau thấy xu hướng chính trị của trường càng bộc lộ rõ, lại có ảnh hưởng lớn, nên vội vã đàn áp. Tháng 12 năm 1907, chúng ra lệnh đóng cửa cơ sở giáo dục này, tìm cách đày ải các thành viên ra Côn Đảo.

 

Nhìn lại, thì ĐKNT là một phong trào yêu nước xuất hiện ở Bắc Kỳ vào đầu thế kỉ XX, lấy trường học hợp pháp ở Hà Nội làm trung tâm để mở rộng phạm vi ra nhiều nơi. Hoạt động của trường mở ra nhiều lĩnh vực nhưng nổi bật nhất là trong văn hóa, giáo dục, xã hội. ĐKNT đã chống lại những cái lạc hậu của xã hội phong kiến đang là trở lực ngăn cản sự tiến bộ của dân tộc. 100 năm đã qua nhưng dấu ấn và đóng góp của ĐKNT vào đời sống tư tưởng của nhân dân Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung là không thể phai nhạt.

 

Nguyễn Vinh Phúc -Báo Hà Nội mới


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn