|
QUÁ TRÌNH KHAI THÁC VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA
VÀ TRƯỜNG SA
DƯỚI THỜI
CÁC
CHÚA NGUYỄN VÀ TÂY SƠN
PGS.TS ĐỖ BANG
Quần đảo Hoàng
Sa: 黄沙 có nghĩa là "cát vàng"; Bãi Cát Vàng là tên gọi phổ biến của người Việt
trước đây khi tiếp cận với vùng đảo này, năm 1838 trong Đại Nam nhất thống toàn đồ mới xuất hiện hai tên gọi là Hoàng Sa và
Vạn Lý Trường Sa; người Pháp và Anh gọi Paracel; có khoảng 30 đảo cùng nhiều bãi san hô và mỏm đá ngầm, trong đó có 23 đảo được
đặt tên. Quần đảo nằm cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn,
tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km. Từ Hoàng
Sa đến đất liền miền Trung Việt Nam chỉ khoảng một phần ba độ dài so với khoảng
cách đến những đảo phía bắc của Philippines.
Tọa
độ địa lý: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông.
Diện
tích tổng thể: 15.000 km2.
Đường
bờ biển tổng thể khoảng 518 km; điểm cao nhất 14 mét.
Khoảng cách từ đảo Tri Tôn:
15047’ Bắc- 1110 12’ Đông tới Lý Sơn hay Cù lao Ré: 15023’01”Bắc-
1090 09’ Đông chừng 200 km; cách thành phố Đà Nẵng
350 km.
Do nhiều bãi đá ngầm, nhiều
hòn đảo, hòn đá, cồn đụn, bãi cạn lớn/ nhỏ, cao/ thấp khác nhau, lúc nổi/ lúc
chìm theo với mực nước thủy triều lên/ xuống nên số lượng đảo không thể cho một
con số chính xác, khoảng từ 120 đảo đến 130 đảo. Do vậy, quần đảo này cũng là
nổi ám ảnh kinh hoàng của giới hàng hải thế giới trong nhiều thế kỷ qua.
Vào cuối thế kỷ XVII, Đỗ Bá Công Đạo quê ở Nghệ An vượt biển
vào Đàng Trong vẽ tập bản đồ Thiên Nam tứ
chí lộ đồ thư dâng lên chúa Trịnh, tác giả có lời bình về quần đảo Hoàng Sa
đã mô tả và nói lên sự nguy hiểm ở đây: “ Giữa
biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng
dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Vinh, mỗi lần có gió tây
nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; gió đông bắc thì
thương thuyền chạy ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói cả. Hàng hoá
thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc
thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”.
Năm 1701, các giáo
sĩ trên tàu L’ Amphitrite sau khi thoát hiểm ở quần đảo Hoàng Sa cũng ghi lại:
“Chúng tôi dong buồm đi với gió thuận và
chẳng bao lâu đến ngang tầm Hoàng Sa. Hoàng Sa là một quần đảo thuộc vương quốc
Đàng Trong. Đó là một khối đá khủng khiếp dài hơn trăm dặm, là nguyên nhân của
những vụ đắm tàu từ trước đến nay. Nó trải dài dọc theo bờ biển Nam
Kỳ. Tàu L’ Amphitrite trong chuyến đi lần đầu sang nước Trung Hoa tưởng đã mất
mạng ở đó ”.
Dưới triều Nguyễn, Lý Văn Phức được triều đình cử đi công cán
ở Philippines cũng ghi lại một ấn tượng tương tự trong bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa:
“ Vạn Lý Trường Sa là
một dải cát trắng từ biển nổi lên, phía Tây tiếp dương phận trấn Quảng Nghĩa,
phía Nam giáp dương phận đảo Lữ Tống (Lưu Xông-Philippines), phía Bắc giáp dương phận tỉnh Quảng Đông và
Phúc Kiến. Dằng dặc kéo ngang không thể lường đo được. Ấy là chỗ rất nguy hiểm
đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó thường kiêng dè sự không
thấy nó. Ấy vì bãi cát ra rất xa. Một khi đi lầm (đi đụng phải) thì không thể
trở lại. Ngày 14-5 Nhâm Thìn (năm 1832),
thuyền Định Tường rời khỏi Quảng Nghĩa, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù
tính không làm thành một đường thẳng vo, lấy hướng Kim Mão (Đông hơi chếch
xế Nam) mà tiến. Không dè trái gió, nước xiết, con
thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau ngóng trông thấy nó, sắc cát ờ mờ,
khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng tưng bừng, nước
mắt rưng rưng. Trên thuyền hỏi đà công (người cầm lái) y là một tay lão luyện Tây dương. Nó
nói rằng: Lấy thước đạt thiên (lục phân) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào
chân cát, còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng Kim Dậu (Tây) nhằm Quảng Nghĩa mà lùi, may nhờ phước lớn
của triều đình về đến cửa biển Thái Cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không có việc gì”.
Quần đảo Trường Sa nằm về phía nam của quần đảo Hoàng Sa; ở
vị trí 606 - 120 vĩ
độ Bắc và 1110 – 1160 kinh độ Đông, cách Vũng Tàu 340 hải
lý và cách Cam Ranh 250 hải lý. Quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 10km2;
chiều dài quần đảo khoảng 8000 km, chiều rộng khoảng 600 km, có các đảo chính
là Trường Sa, Nam Yết, Sinh Tồn, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Thị Tứ, Ba Bình,
Loại Ta…
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữ vị trí chiến lược trọng
yếu ở vùng biển Đông, là nơi kiểm soát đường hàng hải quốc tế từ Thái Bình
Dương qua Ấn Độ Dương, nơi có thể chi phối an ninh thềm lục địa và đất liền của
các nước Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia. Đây cũng là
nơi trú ẩn cần thiết cho các phương tiện đi biển khi gặp bão.
Thấy được tầm quan trọng về vị trí hàng hải và an ninh của
quần đảo Hoàng Sa nên từ thế kỷ XVII - XVIII - XIX, chúa Nguyễn và các triều
đại kế tiếp đã lập đội Hoàng Sa và Bắc Hải để khai thác và bảo vệ các hải đảo ở
vùng biển Đông nước ta.
Cũng vì thế, vào cuối thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương Paul
Doumer đã cho lập dự án trình lên Bộ Thuộc địa Pháp lập trạm Hải Đăng, cho vẽ
bản đồ quân sự và địa chất, xây dựng đài khí tượng, thuỷ văn, lập đội biên
phòng và trú đóng tại Hoàng Sa.
1. Quá trình khai thác và
thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa dưới thời Chúa Nguyễn
Mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã tiếp cận với nhiều cửa
biển nên đã hình thành một tư duy chính trị hướng ngoại. Đó là việc các chúa
chú trọng khai thác kinh tế biển và mậu dịch đối ngoại trong thời kỳ thương mại
quốc tế ra đời và phát triển của thế kỷ XVII - XVIII.
Trong việc khai thác kinh tế biển,
trước hết các chúa Nguyễn đã đẩy mạnh khai thác nguồn lợi yến sào, hải sản ven
lục địa và các hải đảo, trong đó có Hoàng Sa, Côn đảo mà Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục đã đặc biệt chú ý: “Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh,
huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ
Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại
Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng
Sa để lấy, đi 3 ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải. Phủ Quy Nhơn thì các
cửa biển Tân Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn đều có đảo, nhiều yến sào, lập
đội Thanh Châu để lấy. Ngoài biển phủ Bình Thuận thì có núi gọi là Côn Lôn,
rộng mấy dặm, cũng có nhiều yến sào. ở ngoài nữa có núi gọi là cù lao Khoai ,
trước có nhiều hải vật và hóa vật của tàu, lập đội Hải Môn để lấy. Cửa biển phủ
Gia Định có núi gọi là Côn Lôn. Phía ngoài biển trấn Hà Tiên có núi gọi là Đại
Côn Lôn , có
dân cư” .
Như vậy, thời chúa
Nguyễn đã khai thác Hoàng Sa, Côn Đảo, Phú Quốc; trong đó Phú Quốc đã có dân cư
sinh sống muộn nhất là từ thuở Mạc Cửu khai phá, rồi nhập vào đất Đàng Trong
thời chúa Nguyễn Phúc Chu vào đầu thế kỷ XVIII.
Nhiệm vụ của đội Hoàng Sa còn kiêm
quản thêm cả đội Bắc Hải, đội này được tuyển từ ngư dân vùng biển ở các tỉnh
miền Trung được chúa Nguyễn cử đi khai thác các đảo phía Nam.
Lê Quý Đôn cho biết : “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định
bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh
Dương, ai tình nguyện đi thì cấp sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần
đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở xứ Hà
Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm; cũng
sai đội Hoàng Sa kiêm quản” .
Trên cơ sở về những lợi ích của kinh tế biển qua việc khai
thác các nguồn lợi của đội Hoàng Sa và Bắc Hải, vào đầu thế kỷ XVIII, chúa
Nguyễn Phúc Chu đã cho quan quân khảo sát để khai thác đảo Trường Sa, sách Đại Nam thực lục tiền biên có ghi chi
tiết này vào mùa hạ, tháng 4 năm Tân Mão (1711) như sau: “Sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn rộng hẹp bao nhiêu” .
Như vậy, các đảo hiện nay thuộc về
lãnh thổ nước ta đã được các chúa Nguyễn, có thể bắt đầu từ thời chúa Nguyễn
Hoàng. Vị chúa này được Vũ Thì An và Vũ Thì Trung và con cháu gốc người Chămpa
đã giúp ông chiếm lĩnh Hoàng Sa. Sau đó, dưới thời chúa Nguyễn Phúc
Nguyên (1613-1635), thương gia Nhật Bản Araki Sôtarô lấy công nữ của chúa nên
được mang tên Việt là Nguyễn Đại Lương, tự Hiển Hùng và trông coi việc buôn bán
với nước ngoài, đã giúp chúa Sãi tổ chức một đội thuyền hàng năm ra Hoàng Sa
thu vớt hàng hoá .
Nhà Sư người Trung Quốc là Thích Đại Sán
(1633-1704) theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu đến Hội An và Phú Xuân
(1694), sau khi về nước đã viết sách Hải
ngoại kỷ Sự cũng xác nhận rằng: “ Quảng
ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Thời Quốc vương trước, hàng năm
sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát lượm vàng bạc, khí cụ của thuyền hư tấp
vào”.
Việc khai chiếm Hoàng Sa từ đó được các chúa Nguyễn cho thực
hiện liên tục và đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, với tư cách là một tổ chức của
nhà nước, chúa Nguyễn đã có kế hoạch khai thác nguồn tài nguyên phong phú và
làm chủ vùng quần đảo này .
Về sau, chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa lấy trai tráng ở đảo Lý
Sơn (Cù lao Ré) sung vào thành lực lượng bán quân sự có tính chuyên nghiệp,
hàng năm 6 tháng ra Hoàng Sa để khai thác sản vật và thu lượm hoá vật của các
con tàu đắm, mang về nộp cho phủ chúa tại Phú Xuân được Lê Quý Đôn ghi chép rất
cụ thể: “ Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng
Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận
giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra
biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được
hoá vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối
thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiêng cùng là kiếm lượm vỏ
đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vằn rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào
cửa Eo,
đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho bán riêng các thứ ốc
vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về” .
Lê Quý Đôn đã sưu khảo đựợc cuốn sổ ghi chép của Thuyên Đức
Hầu về những sản vật thu được ở Hoàng Sa vào đầu thế kỷ XVIII như sau:
Năm Nhâm Ngọ (có lẻ 1702) lượm được 30 hốt bạc,
Năm Giáp Thân ( có lẻ 1704) được 5.100 cân thiếc,
Năm Ất Dậu (có lẻ 1705) được 126 hốt bạc,
Năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), 5 năm ấy mỗi năm chỉ
nhận được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và hai
khẩu súng đồng mà thôi .
Sự chuyên nghiệp hóa trong việc khai thác các nguồn lợi từ
biển và các đảo đã mang lại một giá trị đáng kể đối với nền tài chính Đàng
Trong và lợi ích cho người trực tiếp khai thác đã nói lên sự đổi thay có tính
thực tiễn với nhiều hiệu quả trong tư duy kinh tế của các chúa Nguyễn.
Việc khai thác các đảo và vùng biển tuy phương tiện còn thô
sơ, chủ yếu dùng thuyền câu, mành lưới và các phương tiện thủ công để gom nhặt
sản phẩm. Thu hoạch xong, thuyền đưa về Phú Xuân nộp vào kho nhà nước. Người
khai thác nhận bằng như là chứng thực về công lao, hàng năm nộp thuế bằng sản
vật theo lệ định, được hưởng một số ưu đãi về thuế khóa. Dù có nhiều hiểm nguy
khi gặp bão tố, cướp biển nhưng họ đã gắn bó với nghề nghiệp lâu đời, gắn kết
với chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nên họ yên tâm và xin được phủ chúa cho
hành nghề với mong muốn là nghề được lưu truyền lâu dài.
Hoàng Sa từ đó trở thành máu thịt của người dân Đàng Trong,
là nổi niềm lo âu, chờ đợi của bao nhiêu người thân ở đất liền được phản ánh
trong câu ca:
Chiều
chiều ra ngóng biển khơi,
Ngóng
ai như ngóng đợi người Hoàng Sa,
Chiều
chiều ra ngóng biển xa,
Ngóng
ai đi lính Hoàng Sa chưa về .
Đi Hoàng Sa là một nghĩa vụ thiêng liêng của trai tráng ở xã
An Vĩnh, tự nguyện “ đi lính” cho triều đình, được phiên chế vào đội Hoàng Sa
để bảo vệ chủ quyền cho Tổ quốc hơn là một địa chỉ làm ăn đầy mạo hiểm của cư
dân trên đảo Lý Sơn.
Những người dân xã An Vĩnh luôn tự hào là đã cống hiến cho
đất nước đội Hoàng Sa và xem đó như là quê hương của mình nên chọn 70 trai
tráng khoẻ mạnh còn đơn thân thay phiên ra Hoàng Sa để giữ gìn, khai thác. Họ
xem mình như người nông dân ra đồng để sản xuất, vào rừng để kiếm củi mà không
tính toán hơn thiệt kể cả sinh mạng của mình.
Bởi vậy, một chuyến đi Hoàng Sa dài ngày, ngư dân An Vĩnh của
đảo Lý Sơn ngoài chuẩn bị lương thực, nước uống 6 tháng, họ và gia đình còn
chuẩn bị hành trang cho một cuộc hành trình về thế giới bên kia mà có thể đến
với họ bất cứ lúc nào khi thuyền đã đi ra biển cả bao la. Đó là một đôi chiếu,
sợi dây mây, 7 cái đòn tre và chiếc thẻ tre nhỏ ghi tên tuổi, quê quán, phiên
hiệu đơn vị để làm vật tin cho đời mỗi khi gặp tai biến.
Thấy được sự hiểm nguy khôn lường của những người con “ đi
lính” Hoàng Sa nên hàng năm vào ngày 20 tháng 2 Âm lịch, dân xã An Vĩnh của đảo
Lý Sơn làm lễ “ tế sống” vì sợ không còn cơ hội gặp mặt người thân trước khi
qua đời được thể hiện một cách bi tráng qua lễ “ Khao thề thế lính Hoàng Sa”
với mong muốn những hình nhân thế mạng trên những chiếc thuyền buồm trong câu
chuyện cổ tích sẽ chết
thay cho con em họ, để những người lính Hoàng Sa có đủ nghị lực vượt qua phong
ba bão táp yên bình trở về với gia đình.
Câu chuyện muôn thuở bi ai này cho đến hiện nay vẫn còn lưu
truyền trong ngư dân ở vùng biển Quảng Ngãi qua câu ca dao:
“ Hoàng
Sa trời nước mênh mông,
Người
đi thì có mà không thấy về,
Hoàng
Sa mây nước bốn bề,
Tháng
hai khao thề thế lính Hoàng Sa”.
Trong Đơn xin của
phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh do tác giả Nguyễn Quang Ngọc sưu tầm ở địa
phương đã phản ảnh khá đầy đủ về quá trình khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng
Sa của cư dân xã An Vĩnh:
“Ngày 15
tháng Giêng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775), thần là Hà Liễu, Cai hợp phường
Cù Lao Ré xã An Vĩnh về kho nội thuộc Hà Bạc, huyện Bình Sơn, phủ Hòa Nghĩa.
Mong đội ơn trên: Nguyên
xã chúng tôi từ xưa đã có đội Hoàng Sa và Quế hương. Vào năm Tân Mùi (1691) Đốc
chiến là Võ Hệ đã đệ đơn tâu xin, được lập hai đội nữa là Đại mạo hải ba và Quế
hương hàm với nhân số là 30 người. Hàng năm thường nộp thuế bằng 10 (thạch) đồi
mồi, hải ba, 5 lượng quế hương. Đến năm Quý Mão (1723) vâng lệnh truyền rằng:
Dân trong thuộc Hà Bạc ai có bằng son, đơn son thì nộp thuế biệt nạp và mang
theo sổ sách. Thế là dân số phải bổ sung thêm dân binh cũng bắt đầu. Đến đó
quân nhân xã chúng tôi còn 23 người, phải bổ sung người và phải chi tiền đi
đường như trước, nên cai đội mới đốc suất được công việc từ đó đến nay. Bây giờ
chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao
nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm
nhặt các hạng vật đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu
như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với
kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế
quan đem phụng nạp. Xin dốc lòng theo sở nguyện chẳng dám kêu ca. Chúng tôi xin
cúi đầu mong ơn.
Thân
(xét) chuẩn cho”
.
Song song với khai thác và xác lập chủ
quyền, các chúa Nguyễn rất chú trọng bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ tài
nguyên và tính mạng của người khai thác biển.
Các
cửa biển và bán đảo gần bờ đều có quân đội trú phòng; còn ở các đảo xa như
Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc thì người khai thác biển được quân sự
hóa trở thành người lính chiến đấu để bảo vệ đảo, bảo vệ tài nguyên và tính
mạng của mình. Điều này đã thể hiện trong tờ đơn trình của Cai hợp Hà Liễu của
Cù Lao Ré, xã An Vĩnh gửi cho phủ chúa vào năm 1776: “Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng
ứng chiến với kẻ xâm phạm”.
Do quá trình khai thác lâu đời nên Hoàng Sa,
Trường Sa mặc nhiên trở thành lãnh thổ của đất Đàng Trong được nhà Thanh tôn
trọng và được bảo vệ, che chở, cứu hộ những người Việt khai thác ở các đảo này
mỗi khi bị lâm nạn trên biển. Lê Quý Đôn đã ghi lại một chi tiết đáng lưu ý:
“Hoàng
Sa chính gần phủ Liêm châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh
cá Bắc quốc hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan
chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng: Năm Càn
Long thứ 18 (tức năm 1757) có 10 tên
quân nhân xã An Vĩnh, đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi nước An
Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm
kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt giây thuyền, dạt vào Thanh Lan cảng,
quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai Cai bạ Thuận
Hóa là Thức Lượng Hầu là thư trả lời “ .
Văn bản
ngoại giao này đã cung cấp cho chúng ta một minh chứng lịch sử quan trọng là
nhà Thanh đã công nhận chủ quyền của vùng đảo Hoàng Sa là thuộc về chúa Nguyễn. Nhà Thanh chỉ tham gia về những
hoạt động nhân đạo cứu hộ, cứu trợ khi thuyền nhân gặp nạn và trao trả lại cho
nước chủ quản mà không đòi hỏi một điều kiện nào.
Để làm chủ vùng biển và tạo thuận lợi cho nhân dân
khai thác kinh tế biển, các chúa Nguyễn rất chú trọng việc bảo vệ trị an vùng
biển, chống ngoại xâm, tích cực chống cướp biển để bảo vệ tài sản, tính mạng
cho nhân dân.
Cùng
với việc mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn còn chú trọng mở rộng tầm kiểm soát
và khai thác vùng biển bằng các nguồn lợi kinh tế của biển và hải đảo. Ý thức
này không những làm cho Đàng Trong phát triển toàn diện về lãnh thổ, lãnh hải
tạo nên một tiềm lực kinh tế và quân sự, một ý thức chủ quyền mạnh mẽ, một di
sản quý báu cho muôn đời sau.
Chúa Nguyễn, triều đại vua chúa đầu
tiên của nước ta có một tư duy nhạy bén, sắc sảo về chủ quyền vùng biển đảo và
có nhiều biện pháp tích cực để khai thác, bảo vệ vùng biển đảo Việt Nam.
2. Dưới thời Tây Sơn
Dưới
thời Tây Sơn việc khai thác và thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa vẫn được tiến hành thường xuyên như đã được thể hiện trong lá đơn của Cai hợp
Hà Liễu của phường Cu Lao Ré, xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Hoà Nghĩa (tên
phủ được đổi dưới thời Tây Sơn tức Quảng Ngãi) trình lên chính quyền Tây Sơn
vào ngày 15 tháng giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) còn lại tại nhà thờ họ Võ “
Bây giờ (1775), chúng tôi lập hai đội
Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu thì dâng sổ cho
dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng,
thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu đem xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền
xẩy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm ”.
Cũng
tại nhà thờ họ Võ còn lưu lại bản Chỉ thị
ngày 14 tháng 2 năm thứ 9 niên hiệu Thái Đức (1786) của Thái phó Tổng lý Quân
binh dân chư vụ Thượng tướng công “ Sai Hội Đức hầu, Cai đội Hoàng Sa luôn xem
xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thuỷ quân, cỡi 4 thuyền câu vượt biển
thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ Cù Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng,
và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, cá quý...đều chở về kinh, tập
trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật
quý, hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều phải trị tội”.
Ngoài ra còn có bản Ngự phê Hoàng đế Tây Sơn cho lời tâu của
xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miển sưu
dịch đã được Thánh chỉ ban thưởng
vàng và Châu phê “ Chuẩn cho ”.
Trong một chuyến du hành đến nước ta
vào năm 1792-1793, J. Barrow cũng xác nhận việc khai thác yến sào tại quần đảo
Hoàng Sa của chính quyền Tây Sơn:
“ Những
tàu thuyền này được dùng trong công việc buôn bán ở vùng duyên hải và đánh cá.
Và những tàu thuyền thu lượm giống Trepan (hải sâm) và những tổ chim yến trong
quần đảo có tên gọi là Paracels (Hoàng Sa) thuộc nhiều loại mô tả khác nhau”.
Hơn các triều đại trước và sau đó,
chính quyền Tây Sơn (triều Quang Trung và Cảnh Thịnh) còn sử dụng cả số người
gọi là “ Tàu ô”, “ Tề ngôi” được phong là Đông Hải vương với chức Thống binh
như Trần Thiên Bảo, Mạc Quan Phù, Lương Văn Canh, Phan Văn Tài cai quản, bảo vệ
an ninh vùng biển Đông cho Tây Sơn để theo dõi tình hình nhằm chống lại nhà
Thanh, quân của Nguyễn Ánh và hải tặc.
Mở ra Đàng Trong các chúa Nguyễn đối
mặt với đại dương bao la, hiểm nguy, bí ẩn nhưng chứa đựng nhiều tiềm năng và ẩn
chứa nhiều tài nguyên vô tận; nếu biết làm chủ biển Đông đất nước sẽ thịnh vượng,
là cơ hội để mở rộng giao thương với thế giới mà thuở đó hàng hải là tối ưu của
nhân loại.
Vượt ra những hạn chế của một vương
quốc “ trọng nông” vốn có thế mạnh canh tác cây lúa nước nội đồng trên các châu
thổ do phù sa các con sông tạo nên trong tư duy “hướng nội” để xây dựng đất nước.
Chúa Nguyễn nhìn thấy tiềm năng to lớn của biển Đông nên đã thực hiện chính
sách mở cửa để đón nhận khách thương nhiều nước đến buôn bán trên các cảng khẩu
và lập phố trong các khu đô thị mới: Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn, Đông Phố, Mỹ
Tho, Hà Tiên... Từ đó, ý thức mở rộng lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo để khai thác
tài nguyên càng trở nên bức thiết. Các chúa Nguyễn đã khám phá, khai thác và
làm chủ Hoàng Sa (Bãi cát vàng) trong nhiều thế kỷ và kiên quyết bảo vệ những
thành quả của mình, đã tạo nên các chiến công oanh liệt trong các trận hải chiến
với các cường quốc Hà Lan nửa đầu thế kỷ XVII và Anh đầu thế kỷ XVIII.
Kế thừa những thành quả của các chúa
Nguyễn, triều đại Tây Sơn tiếp thực thi chủ quyền và khai thác biển Đông trong đó
có quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa.
Nếu gọi lịch sử Việt Nam thế kỷ
XVII-XVIII gắn với cuộc Nam tiến được các chúa Nguyễn khởi động mạnh mẽ là đúng
nhưng không đầy đủ. Đây còn là thời kỳ Đông tiến mang tính đột phá, đất nước ta
từ đó mới có lãnh hải, nhân dân ta dưới thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn từ đó đã
vươn ra làm chủ biển đảo, trong đó có Hàng Sa- Trường Sa, một bộ phận thân yêu
của Tổ quốc gắn với vận mệnh dân tộc hơn 4 thế kỷ qua.
.Trong bản tuyên bố đường cơ sở nội hải của chính quyền CHXHCN Việt Nam tháng 12 năm 1982.
|