Thứ sáu, 24/05/2013
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Lời hay ý đẹp
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay770
mod_vvisit_counterHôm trước943
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ TÂY SƠN E-mail
08/02/2012

QUÁ TRÌNH KHAI THÁC VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN   QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA DƯỚI THỜI

CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ TÂY SƠN

 

                                             PGS.TS ĐỖ BANG[1]

 

Quần đảo Hoàng Sa: 黄沙 có nghĩa là "cát vàng"; Bãi Cát Vàng là tên gọi phổ biến của người Việt trước đây khi tiếp cận với vùng đảo này, năm 1838 trong Đại Nam nhất thống toàn đồ mới xuất hiện hai tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa; người Pháp và Anh gọi Paracel[2]; có khoảng 30 đảo cùng nhiều bãi san hô và mỏm đá ngầm, trong đó có 23 đảo được đặt tên. Quần đảo nằm cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km. Từ Hoàng Sa đến đất liền miền Trung Việt Nam chỉ khoảng một phần ba độ dài so với khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines.

Tọa độ địa lý: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông.

Diện tích tổng thể: 15.000 km2.

Đường bờ biển tổng thể khoảng 518 km; điểm cao nhất 14 mét.

Khoảng cách từ đảo Tri Tôn: 15047’ Bắc- 1110 12’ Đông tới Lý Sơn hay Cù lao Ré: 15023’01”Bắc- 1090 09’ Đông chừng 200 km[3]; cách thành phố Đà Nẵng 350 km.

Do nhiều bãi đá ngầm, nhiều hòn đảo, hòn đá, cồn đụn, bãi cạn lớn/ nhỏ, cao/ thấp khác nhau, lúc nổi/ lúc chìm theo với mực nước thủy triều lên/ xuống nên số lượng đảo không thể cho một con số chính xác, khoảng từ 120 đảo đến 130 đảo. Do vậy, quần đảo này cũng là nổi ám ảnh kinh hoàng của giới hàng hải thế giới trong nhiều thế kỷ qua.

Vào cuối thế kỷ XVII, Đỗ Bá Công Đạo quê ở Nghệ An vượt biển vào Đàng Trong vẽ tập bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dâng lên chúa Trịnh, tác giả có lời bình về quần đảo Hoàng Sa đã mô tả và nói lên sự nguy hiểm ở đây: “ Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Vinh, mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; gió đông bắc thì thương thuyền chạy ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói cả. Hàng hoá thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…[4].

     Năm 1701, các giáo sĩ trên tàu L’ Amphitrite sau khi thoát hiểm ở quần đảo Hoàng Sa cũng ghi lại: “Chúng tôi dong buồm đi với gió thuận và chẳng bao lâu đến ngang tầm Hoàng Sa. Hoàng Sa là một quần đảo thuộc vương quốc Đàng Trong. Đó là một khối đá khủng khiếp dài hơn trăm dặm, là nguyên nhân của những vụ đắm tàu từ trước đến nay. Nó trải dài dọc theo bờ biển Nam Kỳ. Tàu L’ Amphitrite trong chuyến đi lần đầu sang nước Trung Hoa tưởng đã mất mạng ở đó[5].

Dưới triều Nguyễn, Lý Văn Phức được triều đình cử đi công cán ở Philippines cũng ghi lại một ấn tượng tương tự trong bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa:

Vạn Lý Trường Sa là một dải cát trắng từ biển nổi lên, phía Tây tiếp dương phận trấn Quảng Nghĩa, phía Nam giáp dương phận đảo Lữ Tống (Lưu Xông-Philippines), phía Bắc giáp dương phận tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Dằng dặc kéo ngang không thể lường đo được. Ấy là chỗ rất nguy hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì bãi cát ra rất xa. Một khi đi lầm (đi đụng phải) thì không thể trở lại. Ngày 14-5 Nhâm Thìn (năm 1832), thuyền Định Tường rời khỏi Quảng Nghĩa, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính không làm thành một đường thẳng vo, lấy hướng Kim Mão (Đông hơi chếch xế Nam) mà tiến. Không dè trái gió, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau ngóng trông thấy nó, sắc cát ờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng tưng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền hỏi đà công (người cầm lái) y là một tay lão luyện Tây dương. Nó nói rằng: Lấy thước đạt thiên (lục phân) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân cát, còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng Kim Dậu (Tây) nhằm Quảng Nghĩa mà lùi, may nhờ phước lớn của triều đình về đến cửa biển Thái Cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không có việc gì”[6].

Quần đảo Trường Sa nằm về phía nam của quần đảo Hoàng Sa; ở vị trí 606 - 120  vĩ độ Bắc và 1110 – 1160 kinh độ Đông, cách Vũng Tàu 340 hải lý và cách Cam Ranh 250 hải lý. Quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 10km2; chiều dài quần đảo khoảng 8000 km, chiều rộng khoảng 600 km, có các đảo chính là Trường Sa, Nam Yết, Sinh Tồn, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Thị Tứ, Ba Bình, Loại Ta…

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữ vị trí chiến lược trọng yếu ở vùng biển Đông, là nơi kiểm soát đường hàng hải quốc tế từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, nơi có thể chi phối an ninh thềm lục địa và đất liền của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia. Đây cũng là nơi trú ẩn cần thiết cho các phương tiện đi biển khi gặp bão.

Thấy được tầm quan trọng về vị trí hàng hải và an ninh của quần đảo Hoàng Sa nên từ thế kỷ XVII - XVIII - XIX, chúa Nguyễn và các triều đại kế tiếp đã lập đội Hoàng Sa và Bắc Hải để khai thác và bảo vệ các hải đảo ở vùng biển Đông nước ta.

Cũng vì thế, vào cuối thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã cho lập dự án trình lên Bộ Thuộc địa Pháp lập trạm Hải Đăng, cho vẽ bản đồ quân sự và địa chất, xây dựng đài khí tượng, thuỷ văn, lập đội biên phòng và trú đóng tại Hoàng Sa.

1. Quá trình khai thác và thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa dưới thời Chúa Nguyễn

Mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã tiếp cận với nhiều cửa biển nên đã hình thành một tư duy chính trị hướng ngoại. Đó là việc các chúa chú trọng khai thác kinh tế biển và mậu dịch đối ngoại trong thời kỳ thương mại quốc tế ra đời và phát triển của thế kỷ XVII - XVIII.

          Trong việc khai thác kinh tế biển, trước hết các chúa Nguyễn đã đẩy mạnh khai thác nguồn lợi yến sào, hải sản ven lục địa và các hải đảo, trong đó có Hoàng Sa, Côn đảo mà Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục đã đặc biệt chú ý: “Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải. Phủ Quy Nhơn thì các cửa biển Tân Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn đều có đảo, nhiều yến sào, lập đội Thanh Châu để lấy. Ngoài biển phủ Bình Thuận thì có núi gọi là Côn Lôn, rộng mấy dặm, cũng có nhiều yến sào. ở ngoài nữa có núi gọi là cù lao Khoai [7], trước có nhiều hải vật và hóa vật của tàu, lập đội Hải Môn để lấy. Cửa biển phủ Gia Định có núi gọi là Côn Lôn. Phía ngoài biển trấn Hà Tiên có núi gọi là Đại Côn Lôn [8], có dân cư”[9] .

 Như vậy, thời chúa Nguyễn đã khai thác Hoàng Sa, Côn Đảo, Phú Quốc; trong đó Phú Quốc đã có dân cư sinh sống muộn nhất là từ thuở Mạc Cửu khai phá, rồi nhập vào đất Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Chu vào đầu thế kỷ XVIII.       

          Nhiệm vụ của đội Hoàng Sa còn kiêm quản thêm cả đội Bắc Hải, đội này được tuyển từ ngư dân vùng biển ở các tỉnh miền Trung được chúa Nguyễn cử đi khai thác các đảo phía Nam.

          Lê Quý Đôn cho biết : “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở xứ Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm; cũng sai đội Hoàng Sa kiêm quản” [10].

Trên cơ sở về những lợi ích của kinh tế biển qua việc khai thác các nguồn lợi của đội Hoàng Sa và Bắc Hải, vào đầu thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho quan quân khảo sát để khai thác đảo Trường Sa, sách Đại Nam thực lục tiền biên có ghi chi tiết này vào mùa hạ, tháng 4 năm Tân Mão (1711) như sau: “Sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn rộng hẹp bao nhiêu”[11] .

          Như vậy, các đảo hiện nay thuộc về lãnh thổ nước ta đã được các chúa Nguyễn, có thể bắt đầu từ thời chúa Nguyễn Hoàng. Vị chúa này được Vũ Thì An và Vũ Thì Trung và con cháu gốc người Chămpa đã giúp ông chiếm lĩnh Hoàng Sa. Sau đó, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), thương gia Nhật Bản Araki Sôtarô lấy công nữ của chúa nên được mang tên Việt là Nguyễn Đại Lương, tự Hiển Hùng và trông coi việc buôn bán với nước ngoài, đã giúp chúa Sãi tổ chức một đội thuyền hàng năm ra Hoàng Sa thu vớt hàng hoá [12].

Nhà Sư người Trung Quốc là Thích Đại Sán (1633-1704) theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu đến Hội An và Phú Xuân (1694), sau khi về nước đã viết sách Hải ngoại kỷ Sự cũng xác nhận rằng: “ Quảng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Thời Quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát lượm vàng bạc, khí cụ của thuyền hư tấp vào[13].

Việc khai chiếm Hoàng Sa từ đó được các chúa Nguyễn cho thực hiện liên tục và đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, với tư cách là một tổ chức của nhà nước, chúa Nguyễn đã có kế hoạch khai thác nguồn tài nguyên phong phú và làm chủ vùng quần đảo này [14].

Về sau, chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa lấy trai tráng ở đảo Lý Sơn (Cù lao Ré) sung vào thành lực lượng bán quân sự có tính chuyên nghiệp, hàng năm 6 tháng ra Hoàng Sa để khai thác sản vật và thu lượm hoá vật của các con tàu đắm, mang về nộp cho phủ chúa tại Phú Xuân được Lê Quý Đôn ghi chép rất cụ thể: “ Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ[15], ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiêng cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vằn rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo[16], đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về” [17].

Lê Quý Đôn đã sưu khảo đựợc cuốn sổ ghi chép của Thuyên Đức Hầu về những sản vật thu được ở Hoàng Sa vào đầu thế kỷ XVIII như sau:

Năm Nhâm Ngọ (có lẻ 1702) lượm được 30 hốt bạc,

Năm Giáp Thân ( có lẻ 1704) được 5.100 cân thiếc,

Năm Ất Dậu (có lẻ 1705) được 126 hốt bạc,

Năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), 5 năm ấy mỗi năm chỉ nhận được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi [18].

Sự chuyên nghiệp hóa trong việc khai thác các nguồn lợi từ biển và các đảo đã mang lại một giá trị đáng kể đối với nền tài chính Đàng Trong và lợi ích cho người trực tiếp khai thác đã nói lên sự đổi thay có tính thực tiễn với nhiều hiệu quả trong tư duy kinh tế của các chúa Nguyễn.

Việc khai thác các đảo và vùng biển tuy phương tiện còn thô sơ, chủ yếu dùng thuyền câu, mành lưới và các phương tiện thủ công để gom nhặt sản phẩm. Thu hoạch xong, thuyền đưa về Phú Xuân nộp vào kho nhà nước. Người khai thác nhận bằng như là chứng thực về công lao, hàng năm nộp thuế bằng sản vật theo lệ định, được hưởng một số ưu đãi về thuế khóa. Dù có nhiều hiểm nguy khi gặp bão tố, cướp biển nhưng họ đã gắn bó với nghề nghiệp lâu đời, gắn kết với chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nên họ yên tâm và xin được phủ chúa cho hành nghề với mong muốn là nghề được lưu truyền lâu dài.

Hoàng Sa từ đó trở thành máu thịt của người dân Đàng Trong, là nổi niềm lo âu, chờ đợi của bao nhiêu người thân ở đất liền được phản ánh trong câu ca:

Chiều chiều ra ngóng biển khơi,

Ngóng ai như ngóng đợi người Hoàng Sa,

Chiều chiều ra ngóng biển xa,

Ngóng ai đi lính Hoàng Sa chưa về .

 

Đi Hoàng Sa là một nghĩa vụ thiêng liêng của trai tráng ở xã An Vĩnh, tự nguyện “ đi lính” cho triều đình, được phiên chế vào đội Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền cho Tổ quốc hơn là một địa chỉ làm ăn đầy mạo hiểm của cư dân trên đảo Lý Sơn.

Những người dân xã An Vĩnh luôn tự hào là đã cống hiến cho đất nước đội Hoàng Sa và xem đó như là quê hương của mình nên chọn 70 trai tráng khoẻ mạnh còn đơn thân thay phiên ra Hoàng Sa để giữ gìn, khai thác. Họ xem mình như người nông dân ra đồng để sản xuất, vào rừng để kiếm củi mà không tính toán hơn thiệt kể cả sinh mạng của mình.

Bởi vậy, một chuyến đi Hoàng Sa dài ngày, ngư dân An Vĩnh của đảo Lý Sơn ngoài chuẩn bị lương thực, nước uống 6 tháng, họ và gia đình còn chuẩn bị hành trang cho một cuộc hành trình về thế giới bên kia mà có thể đến với họ bất cứ lúc nào khi thuyền đã đi ra biển cả bao la. Đó là một đôi chiếu, sợi dây mây, 7 cái đòn tre và chiếc thẻ tre nhỏ ghi tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị để làm vật tin cho đời mỗi khi gặp tai biến.

Thấy được sự hiểm nguy khôn lường của những người con “ đi lính” Hoàng Sa nên hàng năm vào ngày 20 tháng 2 Âm lịch, dân xã An Vĩnh của đảo Lý Sơn làm lễ “ tế sống” vì sợ không còn cơ hội gặp mặt người thân trước khi qua đời được thể hiện một cách bi tráng qua lễ “ Khao thề thế lính Hoàng Sa” với mong muốn những hình nhân thế mạng trên những chiếc thuyền buồm trong câu chuyện cổ tích[19] sẽ chết thay cho con em họ, để những người lính Hoàng Sa có đủ nghị lực vượt qua phong ba bão táp yên bình trở về với gia đình.

Câu chuyện muôn thuở bi ai này cho đến hiện nay vẫn còn lưu truyền trong ngư dân ở vùng biển Quảng Ngãi qua câu ca dao:

Hoàng Sa trời nước mênh mông,

Người đi thì có mà không thấy về,

Hoàng Sa mây nước bốn bề,

Tháng hai khao thề thế lính Hoàng Sa”.

Trong Đơn xin của phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh do tác giả Nguyễn Quang Ngọc sưu tầm ở địa phương đã phản ảnh khá đầy đủ về quá trình khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa của cư dân xã An Vĩnh:

           Ngày 15 tháng Giêng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775), thần là Hà Liễu, Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh về kho nội thuộc Hà Bạc, huyện Bình Sơn, phủ Hòa Nghĩa.

          Mong đội ơn trên: Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có đội Hoàng Sa và Quế hương. Vào năm Tân Mùi (1691) Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn tâu xin, được lập hai đội nữa là Đại mạo hải ba và Quế hương hàm với nhân số là 30 người. Hàng năm thường nộp thuế bằng 10 (thạch) đồi mồi, hải ba, 5 lượng quế hương. Đến năm Quý Mão (1723) vâng lệnh truyền rằng: Dân trong thuộc Hà Bạc ai có bằng son, đơn son thì nộp thuế biệt nạp và mang theo sổ sách. Thế là dân số phải bổ sung thêm dân binh cũng bắt đầu. Đến đó quân nhân xã chúng tôi còn 23 người, phải bổ sung người và phải chi tiền đi đường như trước, nên cai đội mới đốc suất được công việc từ đó đến nay. Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các hạng vật đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp. Xin dốc lòng theo sở nguyện chẳng dám kêu ca. Chúng tôi xin cúi đầu mong ơn.

          Thân (xét) chuẩn cho[20] .

          Song song với khai thác và xác lập chủ quyền, các chúa Nguyễn rất chú trọng bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ tài nguyên và tính mạng của người khai thác biển.

          Các cửa biển và bán đảo gần bờ đều có quân đội trú phòng; còn ở các đảo xa như Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc thì người khai thác biển được quân sự hóa trở thành người lính chiến đấu để bảo vệ đảo, bảo vệ tài nguyên và tính mạng của mình. Điều này đã thể hiện trong tờ đơn trình của Cai hợp Hà Liễu của Cù Lao Ré, xã An Vĩnh gửi cho phủ chúa vào năm 1776: “Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ  xâm phạm”[21].

           Do quá trình khai thác lâu đời nên Hoàng Sa, Trường Sa mặc nhiên trở thành lãnh thổ của đất Đàng Trong được nhà Thanh tôn trọng và được bảo vệ, che chở, cứu hộ những người Việt khai thác ở các đảo này mỗi khi bị lâm nạn trên biển. Lê Quý Đôn đã ghi lại một chi tiết đáng lưu ý:

Hoàng Sa chính gần phủ Liêm châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc quốc hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng: Năm Càn Long thứ 18 (tức năm 1757) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh, đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt giây thuyền, dạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai Cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng Hầu là thư trả lời “ [22].

          Văn bản ngoại giao này đã cung cấp cho chúng ta một minh chứng lịch sử quan trọng là nhà Thanh đã công nhận chủ quyền của vùng đảo Hoàng Sa là thuộc về  chúa Nguyễn. Nhà Thanh chỉ tham gia về những hoạt động nhân đạo cứu hộ, cứu trợ khi thuyền nhân gặp nạn và trao trả lại cho nước chủ quản mà không đòi hỏi một điều kiện nào.

          Để làm chủ vùng biển và tạo thuận lợi cho nhân dân khai thác kinh tế biển, các chúa Nguyễn rất chú trọng việc bảo vệ trị an vùng biển, chống ngoại xâm, tích cực chống cướp biển để bảo vệ tài sản, tính mạng cho nhân dân.

          Cùng với việc mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn còn chú trọng mở rộng tầm kiểm soát và khai thác vùng biển bằng các nguồn lợi kinh tế của biển và hải đảo. Ý thức này không những làm cho Đàng Trong phát triển toàn diện về lãnh thổ, lãnh hải tạo nên một tiềm lực kinh tế và quân sự, một ý thức chủ quyền mạnh mẽ, một di sản quý báu cho muôn đời sau[23].

Chúa Nguyễn, triều đại vua chúa đầu tiên của nước ta có một tư duy nhạy bén, sắc sảo về chủ quyền vùng biển đảo và có nhiều biện pháp tích cực để khai thác, bảo vệ vùng biển đảo Việt Nam.

2. Dưới thời Tây Sơn

          Dưới thời Tây Sơn việc khai thác và thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn được tiến hành thường xuyên như đã được thể hiện trong lá đơn của Cai hợp Hà Liễu của phường Cu Lao Ré, xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Hoà Nghĩa (tên phủ được đổi dưới thời Tây Sơn tức Quảng Ngãi) trình lên chính quyền Tây Sơn vào ngày 15 tháng giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) còn lại tại nhà thờ họ Võ “ Bây giờ (1775), chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu thì dâng sổ cho dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu đem xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền xẩy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm ”.

          Cũng tại nhà thờ họ Võ còn lưu lại bản Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm thứ 9 niên hiệu Thái Đức (1786) của Thái phó Tổng lý Quân binh dân chư vụ Thượng tướng công “ Sai Hội Đức hầu, Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thuỷ quân, cỡi 4 thuyền câu vượt biển thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ Cù Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng, và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, cá quý...đều chở về kinh, tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý, hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều phải trị tội”.

Ngoài ra còn có bản Ngự phê Hoàng đế Tây Sơn cho lời tâu của xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miển sưu dịch đã được Thánh chỉ ban thưởng vàng và Châu phê “ Chuẩn cho[24].

Trong một chuyến du hành đến nước ta vào năm 1792-1793, J. Barrow cũng xác nhận việc khai thác yến sào tại quần đảo Hoàng Sa của chính quyền Tây Sơn:

Những tàu thuyền này được dùng trong công việc buôn bán ở vùng duyên hải và đánh cá. Và những tàu thuyền thu lượm giống Trepan (hải sâm) và những tổ chim yến trong quần đảo có tên gọi là Paracels (Hoàng Sa) thuộc nhiều loại mô tả khác nhau[25].

Hơn các triều đại trước và sau đó, chính quyền Tây Sơn (triều Quang Trung và Cảnh Thịnh) còn sử dụng cả số người gọi là “ Tàu ô”, “ Tề ngôi” được phong là Đông Hải vương với chức Thống binh như Trần Thiên Bảo, Mạc Quan Phù, Lương Văn Canh, Phan Văn Tài cai quản, bảo vệ an ninh vùng biển Đông cho Tây Sơn để theo dõi tình hình nhằm chống lại nhà Thanh, quân của Nguyễn Ánh và hải tặc[26].

 

Mở ra Đàng Trong các chúa Nguyễn đối mặt với đại dương bao la, hiểm nguy, bí ẩn nhưng chứa đựng nhiều tiềm năng và ẩn chứa nhiều tài nguyên vô tận; nếu biết làm chủ biển Đông đất nước sẽ thịnh vượng, là cơ hội để mở rộng giao thương với thế giới mà thuở đó hàng hải là tối ưu của nhân loại.

Vượt ra những hạn chế của một vương quốc “ trọng nông” vốn có thế mạnh canh tác cây lúa nước nội đồng trên các châu thổ do phù sa các con sông tạo nên trong tư duy “hướng nội” để xây dựng đất nước. Chúa Nguyễn nhìn thấy tiềm năng to lớn của biển Đông nên đã thực hiện chính sách mở cửa để đón nhận khách thương nhiều nước đến buôn bán trên các cảng khẩu và lập phố trong các khu đô thị mới: Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn, Đông Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên... Từ đó, ý thức mở rộng lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo để khai thác tài nguyên càng trở nên bức thiết. Các chúa Nguyễn đã khám phá, khai thác và làm chủ Hoàng Sa (Bãi cát vàng) trong nhiều thế kỷ và kiên quyết bảo vệ những thành quả của mình, đã tạo nên các chiến công oanh liệt trong các trận hải chiến với các cường quốc Hà Lan nửa đầu thế kỷ XVII và Anh đầu thế kỷ XVIII.

Kế thừa những thành quả của các chúa Nguyễn, triều đại Tây Sơn tiếp thực thi chủ quyền và khai thác biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa.

Nếu gọi lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII gắn với cuộc Nam tiến được các chúa Nguyễn khởi động mạnh mẽ là đúng nhưng không đầy đủ. Đây còn là thời kỳ Đông tiến mang tính đột phá, đất nước ta từ đó mới có lãnh hải, nhân dân ta dưới thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn từ đó đã vươn ra làm chủ biển đảo, trong đó có Hàng Sa- Trường Sa, một bộ phận thân yêu của Tổ quốc gắn với vận mệnh dân tộc hơn 4 thế kỷ qua.




[1] .PHÓ CHỦ TỊCH HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

[2] .  Có nghĩa là “ đá ngầm, ám tiêu” được người phương Tây chú thích trên các bản hàng hải vào các thế kỷ XVII-XVIII. Đến những năm 40 của thế kỷ XX, người Pháp mới có tên gọi Spratly để chỉ tên gọi Trường Sa, quần đảo nằm về phía nam của Hoàng Sa mà họ vẫn gọi là Paracel.

[3] .Trong bản tuyên bố đường cơ sở nội hải của chính quyền CHXHCN Việt Nam tháng 12 năm 1982.

[4] . Lê Nguyễn Lưu, Chiếc ghe của đội Hoàng Sa, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế,số 4 (75), 2009, tr.88.

[5] .Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa, Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, NXB Tri Thức, 2002, tr. 19.

[6] . Hoàng Xuân Hãn, Quần đảo Hoàng Sa, Tập san Sử địa, số 29, Sài Gòn, 1974, tr.

[7]. Hòn Khoai nay ở ngoài khơi mũi Cà Mau.

[8] .Tức đảo Phú Quốc hiện nay. Đảo có diện tích 565 km2, cách Hà Tiên 45 km.

[9] .Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học, HN, 1964, tr. 119-120.

[10] .Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 124.

[11] .Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, HN, 1962, tr.178.

[12] . Thệ Thuỷ, Quần đảo Hoàng Sa và đội ghe của các chúa Nguyễn, Huế Xưa&Nay, số 29, 1998, tr. 19.

[13] . Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế, 1963, tr. 125.

[14].Theo Nguyễn Nhã, việc thành lập đội Hoàng Sa để khai thác Hoàng Sa và các đảo ở biển Đông phải có trước hoặc trong thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 -1687)[ Nguyễn Nhã, Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ Sử học, trường Đại học KHXH NV Thành phố Hồ Chí Minh, 2003, tr.66 - 67].

[15] . Loại thuyền này do dân chài tự đóng lấy, thuyền có mê (đáy) làm bằng tre đan, trát phân trâu, quét dầu rái để giữ độ bền và không thấm nước; mạn thuyền làm bằng gỗ chò hay gỗ sao, 3 cột buồm bằng gỗ kiền kiền, cánh buồm đan bằng lá hình chiếc rìu. Ưu điểm của loại thuyền này nhẹ, chạy nhanh, an toàn.

[16] .Nay gần Thuận An.

[17] . Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 123.

[18] .Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 124.

[19] .Vật liệu của thuyền “hàng mả” làm bằng thân cây chuối, nan tre và giấy.

[20] . Nguyễn Quang Ngọc, Giá trị của các trang sử liệu viết về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách Phủ biên tạp lục, “Nghiên cứu lịch sử, số 5, 2001, tr. 33-34.

[21] .Nguyễn Quang Ngọc, TLdd, tr. 34.

[22] .Lê Quý Đôn, Sdd, tr. 123-124.

[23] . Đỗ Quỳnh Nga, Công cuộc mở mang lãnh thổ Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, Luận văn Thạc sĩ  Sử học,  Trường Đại học Khoa học Huế, 2007, tr. 94.

[24] .Nguyễn Quang Ngọc, Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của vương triều Tây Sơn, trong sách “ Tây Sơn- Thuận Hoá và anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ- Quang Trung”, Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế-NXB Chính trị Quốc gia, 2009, tr. 271.

[25] . J.Barrow, Một chuyến du hành đến xứ  Nam Hà (1792-1793), Bản dịch Nguyễn Thừa Hỷ, NXB Thế giới, Hà Nội, 2008, tr. 92.

[26] . Nguyễn Quang Ngọc, Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của vương triều Tây Sơn, Sđd, tr. 265-266.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn