Thứ hai, 06/07/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Thông báo
Góp ý
Hỏi và Đáp
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay879
mod_vvisit_counterHôm trước1278
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Góp ý dự thảo Tộc ước họ Đỗ của ông Đỗ Quang Tuân E-mail
17/04/2012

Kính gửi:    - Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam;

- Bác Đỗ Ngọc Liên - Chủ tịch HĐHĐ(Đ) Việt Nam;

- Bác Đậu Công Tuệ - Luật sư - Người được giao nhiệm vụ chính về việc soạn thảo Tộc ước họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

          Tôi rất vui mừng vì sau nhiều năm, với sự lao động miệt mài, sáng tạo của Ban soạn thảo cùng với sự đóng góp đầy tâm huyết của nhiều anh em trong cộng đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, tới nay Tộc ước họ Đỗ (Đậu) Việt Nam đã chính thức ra đời.

 

          Qua thư ngỏ của bác Đậu Công Tuệ và toàn văn bản Tộc ước được đăng trên Website Họ Đỗ Việt Nam, tôi xin có thêm một số ý kiến đóng góp (chủ yếu là về thể thức văn bản) để góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện (về mặt kỹ thuật) Tộc ước họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

 

Vấn đề thứ nhất: Tôi hoàn toàn nhất trí với nội dung của Tộc ước, chỉ đề nghị các bác xem xét tiếp để có thể thay đổi một số từ (hoặc cụm từ) nhằm làm cho cho câu văn thêm chặt chẽ, lô gic, tránh sự trùng lặp, làm người đọc dễ hiểu.

 

Vấn đề thứ 2: Về thể thức văn bản, chúng ta cần tuân thủ theo Thông tư số 01/2001/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính. Vì vậy khi sửa các lỗi về văn bản trong Tộc ước này, tôi đã vận dụng theo hướng dẫn trong Thông tư 01/2001/TT-BNV.

 

Vấn đề thứ 3: Các lỗi chính tả, lỗi đánh máy (thừa dấu cách), lỗi chấm câu, lỗi thừa từ... tôi đã sửa và đánh dấu (màu đỏ) trong văn bản.

 

Vấn đề thứ tư: Có một số vấn đề cần luận bàn thêm, tôi xin được giải thích ở các phần ghi chú trong văn bản.

Tôi không phải là người chuyên về soạn thảo văn bản, chỉ với ít vốn hiểu biết nhất định của mình, xin có một số ý kiến trao đổi cùng các bác để Tộc ước họ Đỗ (Đậu) Việt Nam sớm được ban hành chính thức và đến tay bà con họ Đỗ (Đậu) Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

 

Kính chúc các bác sức khoẻ, hạnh phúc, an lạc.

 Kính thư ! Địa chỉ thư điện tử này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó

                                                              

      Phú Thọ, ngày 13 tháng 4 năm 2012

               Đỗ Quang Tuân

CTHĐGT họ Đỗ Động Lâm - Hạ Hoà – Phú Thọ                                                                   

         Điện thoại: 0913.018.962

 

HỘI ĐỒNG

HỌ ĐỖ (ĐẬU) VIỆT NAM

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỘC ƯỚC

HỌ ĐỖ (ĐẬU) VIỆT NAM

      
                                                LỜI NÓI ĐẦU

 

"Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn". Người Việt Nam  khi sinh ra xưa nay đều mang tên họ nguồn gốc của họ cha hay họ mẹ. Tổ tông dòng họ, ông bà, cha mẹ là cội nguồn của mỗi con người. Tổ tiên dòng họ Đỗ (Đậu) ta xưa lấy hai chữ Nho: Thổ (      ) Mộc (      ) ghép lại thành tên họ Đỗ (        ). Người mang tên họ Đậu ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình các tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Nam... trong gia phả, bài văn cúng viết bằng chữ Nho xưa thấy chữ là họ Đỗ (          ) nhưng khi phát âm lại là họ Đậu. Nguyên nhân tên chữ họ Đỗ mà phát âm họ Đậu hiện nay chưa được biết. Các  anh em con cháu họ Đậu các tỉnh Thanh - Nghệ -Tĩnh - Bình… trong nhận thức đều xác định dòng họ mình là họ Đỗ theo như  chữ Nho tộc phả, gia phả tổ tiên xưa để lại.

 

Ban biên soạn Tộc ước nhận thấy các dòng họ như: Họ Hoàng (        ) thì miền Bắc gọi là Hoàng, miền Nam gọi là Huỳnh (       ); họ Võ (     ) có vùng gọi là Võ (        ), có vùng gọi là Vũ (        ). Tôn trọng tính lịch sử để lại, Ban liên lạc lạc họ Hoàng vẫn để tên chữ quốc ngữ là Hoàng (Huỳnh) hoặc Huỳnh           (Hoàng); họ Vũ vẫn để là Vũ (Võ) hoặc là Võ (Vũ). Dòng họ ta vẫn để tên họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

 

        Dòng họ Đỗ (Đậu) là dòng họ xuất hiện sớm và có tên trong sử sách Việt Nam gần năm ngàn năm lịch sử. Theo Ngọc phả, Thần phả xưa ghi lại: Thời chế độ mẫu hệ có cụ Đỗ Thị Đoan Trang (Đỗ Quý Thị) là vợ vua Đế Minh (Nguyễn Minh Khiết), người sinh ra Lộc Tục (Kinh Dương Vương). Khi nước Xích Quỷ do Kinh Dương Vương trị vì thái bình thịnh trị thì cụ Đỗ Quý Thị và tám người anh em trai gồm: Đỗ Xương, Đỗ Tiêu, Đỗ Kỷ, Đỗ Cương, Đỗ Chương, Đỗ Dũng, Đỗ Bích, Đỗ Trọng xuất gia tu hành theo đạo Sa Bà và thành chính quả. Cụ Đỗ Quý Thị được tôn vinh Phật hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát, tám anh em trai của cụ được tôn vinh Phật hiệu Bát Bộ Kim Cương.

 

Dòng họ Đỗ (Đậu) ta từ xa xưa đã có Tộc ước để nhắc nhở, giáo huấn nền nếp kỷ cương con cháu. Hội đồng dòng họ Đỗ (Đậu) kế thừa truyền thống biên soạn, bổ sung Tộc ước mới nhằm tiếp tục gìn giữ  thuần phong mĩ tục Văn hoá dòng họ. Tộc ước này có 03 chương với 32 điều.

Ghi chú:  Cụm từ “Tộc ước lần này” nên bỏ bớt từ “lần”. Lí do: Tộc ước họ Đỗ (Đậu) từ xa xưa vẫn chỉ là tộc ước riêng của các dòng họ, chưa có sự thống nhất trong toàn quốc; đây là lần đầu tiên họ Đỗ (Đậu) soạn thảo và ban hành Tộc ước họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, vì vậy có thể bỏ đi từ “lần”.

CHƯƠNG MỘT:  PHẦN CHUNG

 

Điều 1. Đối tượng điều chỉnh của Tộc ước        (bỏ dấu hai chấm)

 

Mọi người nam, nữ ở trong nước Việt Nam hay ở nước ngoài có tên họ Đỗ (Đậu); những người là con dâu, con rể, con nuôi của người họ Đỗ (Đậu) đều có nghĩa vụ tự nguyện, tự giác, đồng thuận, đồng lòng thực hiện Tộc ước này.

 

Điều 2. Thành viên dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam

 

Mọi người nam, nữ Việt Nam mang tên họ Đỗ (Đậu) dù ở trong nước hay ở nước ngoài không phân biệt thành phần xuất thân, chính kiến, dân tộc, tôn giáo đều là thành viên dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

         Những người thuộc các đối tượng sau đều là thành viên dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam:

Người chuyển đổi tên từ dòng họ khác sang họ Đỗ (Đậu) đã sống ổn định, được Pháp luật công nhận;

Người gốc tên họ Đỗ (Đậu) nhưng chuyển sang dòng họ khác nay có nguyện vọng nhận về gốc tổ họ Đỗ (Đậu);

Người là con dâu, con rể, con nuôi, anh em kết nghĩa của người họ Đỗ (Đậu).

 

Người thuộc dòng họ khác nhưng có tâm cống hiến cho sự phát triển Văn hoá dòng họ Đỗ (Đậu) đều có thể được tôn vinh là thành viên danh dự của dòng họ.

 

Ghi chú: Xin sắp xếp lại câu chữ tại Điều 2 như trên để tránh trùng lặp nhiều lần cụm từ đều là thành viên dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam”

 

Điều 3. Tôn chỉ mục đích hoạt động Văn hoá dòng họ

Xây dựng mối liên hệ tốt đẹp giữa các chi, tộc họ Đỗ (Đậu); cùng nhau khai thác và phát huy truyền thống nhân văn tốt đẹp của dòng họ và của các dòng họ khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Giúp nhau tìm về cội nguồn, biên soạn gia phả, lập phả hệ, bảo tồn di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh thuộc dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

 

Trao đổi, cung cấp thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử có liên quan đến các chi, tộc thuộc dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

 

        Hướng hoạt động Văn hoá dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam vào sự nghiệp giáo dục con người; sống có tri thức văn hoá, đạo đức hiếu nghĩa, lòng tự tôn, tính tự lập, giàu tình thương yêu đoàn kết; biết tôn trọng và chấp hành pháp luật. Góp phần cùng các dòng họ trong cộng đồng dân tộc, quyết tâm xây dựng nước Việt Nam thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ, công bằng, văn minh, giàu mạnh.

 

Điều 4. Các tổ chức hoạt động dòng họ

 

1. Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam và các Ban của Hội đồng (chức năng phụ trách hoạt động toàn quốc)

 

2. Hội đồng họ Đỗ (Đậu) khu vực hoặc tỉnh, thành phố và các Ban của Hội đồng (chức năng phụ trách hoạt động khu vực).

 

3. Hội đồng họ Đỗ (Đậu) huyện, quận, thị (chức năng phụ trách hoạt động huyện, thị).

        4. Hội đồng gia tộc họ Đỗ (Đậu)… thôn, … xã …(chức năng phụ trách hoạt động ở chi, tộc ...).

 

Các vị Tộc trưởng của chi, tộc họ Đỗ (Đậu) là người chủ việc thờ cúng đương nhiên tham gia vào Hội đồng gia tộc và có thể được cử làm Chủ tịch Hội đồng gia tộc.

 

        Hội đồng dòng họ (gọi chung cả bốn tổ chức nêu trên) là tổ chức tự nguyện do dòng họ tiến cử, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, đảm bảo dân chủ, công bằng, giữ gìn đoàn kết nội bộ dòng họ, xây dựng mối đoàn kết với các họ bạn và chính quyền đoàn thể địa phương.

Điều 5. Chức năng, nhiệm vụ chung của Hội đồng dòng họ

 

Hội đồng dòng họ là trung tâm đoàn kết, đại diện cho nguyện vọng và tiếng nói chung của cộng đồng người họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, của khu vực, địa phương hoặc các chi, tộc họ trong lĩnh vực hoạt động Văn hoá dòng họ; nắm bắt, tập hợp, cung cấp các thông tin về sáng kiến kinh nghiệm hoạt động việc họ; Phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn, vận động các thành viên dòng họ thực hiện Tôn chỉ mục đích, Tộc ước dòng họ và các nghị quyết mà Hội đồng dòng họ đề ra; đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các thành viên theo quy định của pháp luật (khi có yêu cầu); hướng dẫn sưu tầm, viết, bổ sung tộc phả, bài cúng, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh của dòng họ; xây dựng, duy trì tổ chức hoạt động của Hội đồng dòng họ; giữ gìn truyền thống nhân văn, đức hiếu thảo với ông bà tổ tiên, tình thương yêu cha mẹ, anh em con cháu trong tộc họ và phấn đấu hoàn thành tốt nghĩa vụ người công dân của đất nước Việt Nam.

 

Ghi chú: - Nên ghi đầy đủ là Hội đồng dòng họ (vì nó là tên chung của các hội đồng tại Điều 4; nếu chỉ  ghi là Hội đồng thì người đọc có thể hiểu sai.

- Cần thay các dấu chấm (.) bằng dấu chấm phảy (;) vì chủ ngữ là “Hội đồng dòng họ”. Nếu đặt dấu chấm (.) thì nhiều câu không có chủ ngữ.

 

Điều 6. Biểu trưng, huy hiệu của dòng họ, con dấu của Hội đồng dòng họ

 

Họ Đỗ (Đậu) Việt Nam có Biểu trưngHuy hiệu chung cho cả dòng họ.

 

Các Hội đồng dòng họ có thể có con dấu để tiện việc giao dịch đối nội,đối ngoại. Con dấu khắc nội dung tên của hội đồng (lưu ý: tổ chức Hội đồng dòng họ hiện nay về hành lang pháp lý chưa có quy định, do vậy chưa được khắc con dấu hình tròn).

 

Ghi chú: Thể thức văn bản chỉ quy định các chữ ở tiêu đề chính thì mới viết in hoa; không quy định điều kiện ưu tiên viết in hoa cho một số từ hoặc cụm từ. Vì vậy ta không nên viết “BIỂU TRƯNG và HUY HIỆU” mà chỉ nên viết “Biểu trưng và Huy hiệu” là được.

Điều 7. Văn hoá nghi lễ, trang phục của dòng họ

Họ Đỗ (Đậu) Việt Nam có bài ca, bài văn tế và bài hát tôn vinh niềm tự hào dòng họ.

 

Trang phục mặc khi tế lễ, cúng kính, ngày lễ hội truyền thống của dòng họ sử dụng theo mẫu quần áo dài truyền thống của dân tộc Việt Nam với hai kiểu (thụng ống tay áo và hẹp ống tay áo), màu sắc: Đỏ Tía, Đỏ, Vàng, Xanh, Tím, và Đen. Bộ Đỗ (Đậu) phục trước ngực áo được in hình biểu trưng lô gô của dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

 

Điều 8. Ngày truyền thống họ Đỗ (Đậu) Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam lần thứ 10 năm 1997 họp tại Hà Nội đã thống nhất lấy ngày 15/2 hàng năm làm ngày họ Đỗ (Đậu) Việt Nam.

Nghị quyết Hội nghị dòng họ lần thứ 15 ngày 19/02/2012 tại thành phố Đà Nẵng thống nhất lấy ngày họp mặt dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam là Ngày họp mặt truyền thống của dòng họ.

 

CHƯƠNG HAI: CÁC QUY ĐỊNH CỤ THỂ

 

Điều 9. Mô hình tổ chức Hội đồng dòng họ

 

Hội đồng dòng họ gồm có: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các uỷ viên; số lượng Phó Chủ tịch và uỷ viên cơ cấu theo nhu cầu (cả bốn tổ chức).

         Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam và các Hội đồng khu vực, địa phương có thể lập các Ban giúp việc của Hội đồng.

         Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các uỷ viên và thành viên Hội đồng hoạt động do sự tự giác, tự nguyện và được tiến cử; khi tự thấy mình không đủ điều kiện đảm trách công việc được giao thì tự nguyện xin nghỉ. Hội đồng họp Quyết định và có trách nhiệm thông báo để mọi người trong họ được biết.     

         Điều 10. Mối quan hệ giữa các tổ chức Hội đồng dòng họ

 

         Dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam có bốn mô hình tổ chức Hội đồng iều 4).

 

         Các Hội đồng đều bình đẳng trong hoạt động Văn hoá dòng họ; hoạt động theo cơ chế tự nguyện, tự giác, đồng thuận, đồng lòng vì tình thương yêu đoàn kết và sự phát triển dòng họ. Các hội đồng có nhiệm vụ định kỳ thông tin cho nhau về những kết quả hoạt động, những phát hiện mới về lịch sử văn hoá của dòng họ và những sáng kiến kinh nghiệm tổ chức hoạt động Văn hoá dòng họ.

 

Điều 11. Đối tượng thực hiện thờ phụng, cúng kính

 

Việc tổ chức tế lễ, cúng kính phụng thờ tiên tổ, ông bà, cha mẹ là hoạt động văn hoá mang tính tín ngưỡng tâm linh nhằm giáo dục đạo đức, tính thiện căn làm người, sự tôn trọng, lòng biết ơn các bậc sinh thành. Mỗi người con, cháu trong họ, trong gia đình không phân biệt nam, nữ đều có bổn phận trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ và người đã khuất. 

Dòng họ Đỗ (Đậu) khuyến khích nam, nữ bình đẳng về bổn phận thực hiện nghi lễ, việc cúng kính phụng thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Những gia đình sinh con một bề gái nên chọn người thành tâm tự nguyện gánh thừa tự, thực hiện việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ và người đã khuất.       

 

Điều 12. Nghi thức, bày biện đồ lễ cúng kính

 

Người chủ tế lễ, người phụ tế việc cúng kính phải thành tâm, dọn mình, mặc trang phục nghiêm túc, sạch sẽ. Tuỳ theo yêu cầu cuộc tế lễ mà sử dụng trang phục phù hợp, tôn nghiêm.

         Tế phẩm sửa soạn dâng cúng tế phải sạch sẽ, chưa bị phàm tục, chưa từng đã dùng cúng nơi khác.

          Bài văn tế cúng, người đọc chúc văn được chuẩn bị chu đáo. Trong khi hành lễ mọi người dự lễ để tâm, im lặng hướng về bàn thờ bày tỏ lòng cung kính. Sau khi lễ tất, người xướng lễ hoặc chủ tế mời mọi người dự lễ tế lần lượt thứ bậc thắp hương kính bái.

         Điều 13. Nhà thờ và di sản lịch sử văn hoá của dòng họ

         Các chi, tộc họ đều có quyền lập nhà thờ riêng; theo tầng thứ tiên tổ thờ phụng tại nhà thờ để phân biệt là nhà thờ đại tôn, nhà thờ trung tôn, nhà thờ chi tộc họ, nhà thờ tiểu chi, phân chi…

 

         Nhà thờ họ là nơi thờ cúng, tri ân tiên tổ, sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tâm linh trang nghiêm, không được phép hoạt động tuyên truyền mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục và vi phạm quy định luật pháp hiện hành.

 

         Nhà thờ họ nếu toạ lạc trong cùng thửa đất với nhà ở, thì nền nhà thờ phải cao hơn nền nhà ở của gia đình.

         Nhà thờ, tộc phả, bài văn cúng, di vật cổ, các đồ tế khí thờ phụng, đồ gia bảo là di sản lịch sử văn hoá của dòng họ cần phải được bảo vệ giữ gìn. Việc tu bổ, thay đổi kiến trúc, di dời nhà thờ phải được mọi người trong họ đồng thuận.

         Điều 14. Mồ mả tổ tiên và mộ người đã khuất

         "Người sống có nhà, người chết có mồ" là quan niệm truyền thống của tổ tiên ta xưa nay. Mồ mả tổ tiên, mộ người đã khuất là nơi tôn nghiêm được pháp luật bảo vệ bất khả xâm phạm.

 

         Việc chôn cất người chết (hung táng), cất bốc hài cốt (cát, cải táng) phải tuân thủ quy định truyền thống và đảm bảo hợp vệ sinh chung. Việc dời chuyển nghĩa trang dòng họ phải được mọi người trong họ đồng thuận.

 

          Điều 15. Quan hệ, ứng xử trong dòng họ

          Người mang tên họ Đỗ (Đậu) là người trong một dòng họ, là con cháu trong một nhà. Tộc ước truyền thống của tổ tiên xưa khuyên nhắc người nam, nữ cùng tên họ Đỗ (Đậu) không được lập thành gia thất với nhau. Ngày nay Tộc ước không quy định bắt buộc mà chỉ khuyên nhắc con cháu thực hiện. 

 

         Khi chưa có điều kiện phân biệt ngôi thứ chi trên nhành dưới thì người cùng họ cần biết ứng xử lịch sự, xưng hô tôn trọng nhau, tránh việc ứng xử, xưng hô có ý tranh ngôi thứ gây bất hoà tình anh em.

 

        Dù trong hoàn cảnh nào, người họ Đỗ (Đậu) trong giao thiệp luôn phải giữ khuôn phép lịch sự, tôn trọng thứ bậc, tôn trọng người nhiều tuổi, thái độ từ tốn, cởi mở, tự tin và đức biết nhẫn nhịn cần thiết.

        Điều 16. Hoà giải mâu thuẫn trong nội bộ dòng họ

        Dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam khuyến khích, vận động mọi người nếu xẩy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất hoà nội bộ dòng họ, gia đình thì trước nhất mỗi bên tự giác kiểm điểm lại mình; lấy đức nhường nhịn làm đầu; tự biết kiềm chế bản thân; không đẩy mối bất hoà dẫn tới nóng giận, bức xúc làm trầm trọng thêm mâu thuẫn.  

        Khi không tự kiềm chế, nhận thức được sai đúng thì cần tranh thủ sự giúp đỡ của Hội đồng gia tộc họ làm trung gian hoà giải; phân tích khách quan nhằm xây dựng mối đoàn kết, tình thương yêu trong dòng tộc.

 

Khuyến khích không đưa khiếu kiện tranh chấp trong nội bộ dòng họ ra công đường.

 

          Điều 17. Đạo hiếu gia đình

 

        Gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng của dòng họ. Gia đình hoà thuận, biết tôn trọng, giúp đỡ, nhường nhịn nhau, sống vui vẻ, đoàn kết, hạnh phúc góp phần làm rạng danh dòng họ. Con cháu dòng họ Đỗ (Đậu) có bổn phận giữ đạo hiếu thảo, kính trọng ông bà, cha mẹ, người trên, biết nhường nhịn người dưới, quý trọng tri thức và người có đạo đức phẩm hạnh.

 

        Bậc làm cha mẹ có bổn phận chăm lo cho tương lai con cháu. Anh chị em, con cháu có bổn phận nhường nhịn, giúp đỡ lẫn nhau; ưu tiên giúp đỡ người gặp khó khăn, hoạn nạn. Dâu hiền, rể thảo, vợ chồng hoà thuận, sống bình đẳng chan hoà; biết chờ đợi, lắng nghe và giúp nhau cùng tiến bộ; thực hiện tốt các tiêu chí nếp sống gia đình Văn hoá mới .

 

          Ghi chú: Nên thay cụm từ “có bổn phận biết vì tương lai con cháu” bằng cụm từ “ có bổn phận chăm lo cho tương lai con cháu” thì người đọc sẽ dễ hiểu và nghe thuận hơn.

         Điều 18. Con dâu của dòng họ

 

" Đức hiền tại mẫu", "giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ" là quan niệm nhận thức trách nhiệm, tôn vinh người mẹ, người con dâu. Người làm dâu dòng họ Đỗ (Đậu) giữ trách nhiệm quan trọng trong gia đình; có bổn phận nuôi con khoẻ, dạy con khôn ngoan làm rạng danh gia đình, dòng họ.

 

         Hội đồng dòng họ hằng năm tổ chức "Ngày hội ghi ơn bậc sinh thành" hoặc "vinh danh người con dâu dòng họ" để động viên, tôn vinh khen thưởng, giúp đỡ người con dâu, những bà mẹ có công vượt khó chăm nuôi con, cháu thành đạt, ngoan hiền, hiếu thảo; xây dựng, giữ gìn cuộc sống gia đình đầm ấm, đoàn kết, vui vẻ, hạnh phúc. 

Ghi chú: Điều 18 nên đặt tên là “Con dâu của dòng họ” mà không nên để tên là “Trách nhiệm đối với người con dâu”, lí do:

Nội hàm của Điều 18 gồm: Trách nhiệm, bổn phận của người con dâu đối với dòng họ và trách nhiệm ngược lại của Hội đồng dòng họ đối với các nàng dâu. Nếu để tên Điều 18 là “Trách nhiệm đối với người con dâu” thì không bao hết nội hàm của nó. Vì vậy, nếu chúng ta chỉ cần để tên là “Con dâu của dòng họ” thì sẽ bao hết nội hàm của Điều 18 và làm cho người đọc không bị hiểu sai.

 

         Điều 19. Việc vào họ, báo tuổi trưởng thành

 

Con trai, con gái dù là con đẻ hay con nuôi, con trong giá thú hay ngoài giá thú là con cháu dòng họ Đỗ (Đậu) đều được bình đẳng làm thủ tục nhập vào họ.

 

Con trai, con gái là con cháu người dòng họ Đỗ (Đậu) khi vào tuổi trưởng thành (18 tuổi) có bổn phận trình báo tổ tiên, gia tiên việc bản thân đến tuổi trưởng thành.

 

         Điều 20. Việc kết hôn, tổ chức cưới (việc hỷ sự)

 

         Nam, nữ đến tuổi trưởng thành có bổn phận lập gia đình riêng, đảm bảo phát triển, duy trì nòi giống của dòng họ và nòi giống dân tộc Việt Nam.

         Người chuẩn bị thành lập gia đình riêng có bổn phận trình báo tổ tiên, gia tiên việc bản thân sẽ kết hôn với người mình yêu và phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn hợp pháp.

         Gia đình, dòng họ có bổn phận, trách nhiệm giúp đỡ việc tổ chức thành hôn cho con cháu theo khả năng, phong tục tập quán và quy định của chính quyền địa phương.

          Điều 21. Việc mừng thọ

         " Ngũ phúc thọ vi tiên" là quan niệm của đời người, xem tuổi thọ là phúc đứng đầu trong năm phúc lớn của con người. Hội đồng dòng họ theo định kỳ có bổn phận tổ chức mừng thọ chu đáo cho người cao tuổi từ 70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi trở lên để tôn vinh, động viên người cao tuổi sống vui, sống khoẻ; nêu tấm gương sáng sống mẫu mực để con cháu noi theo làm rạng danh gia đình, dòng họ.

 

          Ghi chú: - Nên thay cụm từ “Dòng họ Đỗ (Đậu) theo định kỳ” bằng cụm từ “Hội đồng dòng họ theo định kỳ” thì sẽ cụ thể hơn.

 

- Cụm từ “sống vui, sống khoẻ, sống có ích” là cụm từ khá phổ thông trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay. Nhưng theo tôi không nên để cụm từ “sống có ích” ở đây với một số lí do sau:

          + Người cao tuổi từ 70 trở lên, họ có “tư cách” của người cao tuổi; họ luôn hướng thiện, chăm lo cho tương lai con cháu. Số người “ngoài luồng này” rất hiếm. Vì vậy, họ chỉ cần sống vui, sống khoẻ  đã là rất hữu ích cho con, cho cháu rồi;

          + Nếu chúng ta đến chúc thọ một cụ mà nói rằng: “Năm mới chúng con chúc cụ tiếp tục sống vui, sống khoẻ, sống có ích” thì liệu có “phạm thượng” không?

Tôi cứ băn khoăn mãi cụm từ “sống có ích” dùng để động viên hay chúc mừng người cao tuổi liệu có hợp không? Kính mong các bác cùng xem xét, luận bàn.

Điều 22. Việc thăm hỏi

 

          Khi người trong dòng họ có việc vui, việc buồn hoặc gặp hoạn nạn bất trắc, mọi người trong họ có bổn phận đến thăm hỏi. Thăm hỏi là việc làm đạo nghĩa giữa con người sống với nhau trong cộng đồng dòng họ.

 

          Thăm hỏi cốt ở lòng thành tình nghĩa không câu nệ phải có quà cáp. Người trong dòng họ khi nghe tiếng, biết tin vui, buồn thì kịp thời chạy đến thăm hỏi động viên, giúp đỡ nhau.

 

          Điều 23. Việc tang ma (việc hiếu)

 

           " Nghĩa tử là nghĩa tận", việc tang ma là việc nghĩa giúp đỡ sau cùng, tình cảm tận hiếu, tận trung với người đã khuất.

          Khi trong họ có người qua đời, mọi người trong họ có bổn phận phối hợp với gia đình, đoàn thể, địa phương tổ chức tang sự, phúng viếng, an táng chu đáo; thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang ma; không tổ chức đông người ăn uống linh đình trong lễ ba ngày, lễ bốn mươi chín ngày, lễ một trăm ngày.

 

          Điều 24. Việc giáo dục con trẻ

 

Thế hệ trẻ là tương lai của dòng họ, tương lai của đất nước Việt Nam. Mỗi người trong họ có bổn phận, ưu tiên tạo mọi điều kiện cho con cháu phấn đấu học tập, lao động, rèn luyện tri thức, nhân cách đạo đức làm người, sống có lao động; giáo dục tình yêu thương, lòng dũng cảm, sự tự tin, tính quyết đoán, đức kiên nhẫn và biết lắng nghe, biết ứng xử nhẫn nhịn cần thiết.

 

Ghi chú: Cụm từ “giáo dục tình yêu....” ở đoạn sau không có chủ ngữ nên đưa lên cùng một đoạn, ngăn cách với đoạn trên bằng dấu chấm phảy (;)

 

Điều 25. Ban khuyến học và quỹ khuyến học

 

          Mỗi chi tộc họ Đỗ (Đậu) cần thiết lập Ban khuyến học và quỹ khuyến học, khuyến tài để kịp thời giúp đỡ, khen ngợi động viên con cháu phấn đấu học tập, lao động, công tác tốt, góp phần làm rạng danh gia đình, dòng họ.

 

          Mỗi người, mỗi gia đình trong dòng họ có bổn phận đóng góp tài chính cho quỹ khuyến học, khuyến tài. Mức đóng góp tuỳ theo khả năng chung để đảm bảo mọi người, mọi gia đình đều thực hiện được nghĩa vụ của mình.

Ghi chú: Nên viết hoa Ban khuyến học

 

 

Điều 26 .Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

 

         Người dòng họ Đỗ (Đậu) có bổn phận sống có chính kiến, thương yêu, bảo vệ, giúp đỡ người trong họ khi họ không may gặp phải khó khăn, bất trắc, oan trái. Những người có hành vi bàng quan, vô cảm, trốn tránh trách nhiệm bảo vệ lẽ phải cần được phê phán và chê trách.

Hội đồng dòng họ có bổn phận cử người thực hiện việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giúp đỡ thành viên dòng họ khi họ gặp khó khăn, bất trắc, oan trái. Việc đại diện bảo vệ phải tuân theo theo quy định của pháp luật.

Ghi chú: Nên bỏ bới chữ tình cho gọn câu; đặt dấu phảy (,) sau chữ yêu; thêm cụm từ “những người có hành vi....” thì có lẽ hay hơn!

 

         Điều 27. Việc thành lập các tổ chức, lập quỹ của dòng họ

 

Dòng họ có thể thành lập các tổ chức trực thuộc Hội đồng để giúp Hội đồng tổ chức thực hiện các hoạt động Văn hoá dòng họ. Các tổ chức như: Câu lạc bộ Doanh nhân, Câu lạc bộ tuổi trẻ, Câu lạc bộ khoa học - giáo dục, Câu lạc bộ trợ giúp pháp luật v.v.v…Các câu lạc bộ hoạt động phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, chịu sự quản lý giám sát của tổ chức và Hội đồng nhằm đảm bảo uy tín, danh dự dòng họ.

Dòng họ có thể lập các quỹ phụng thờ, xây dựng, tu bổ nhà thờ, quỹ thi đua khen thưởng, quỹ thăm hỏi…  nhằm phục vụ lợi ích sinh hoạt của cộng đồng dòng họ. Việc huy động đóng góp gây quỹ, lập quỹ phải hoàn toàn do sự tự nguyện của người đóng góp. Mức đóng góp tuỳ theo khả năng chung nhưng phải đảm bảo để được mọi người, mọi gia đình đều có thể tham gia đóng góp thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

 

Ghi chú: Đề nghị sửa lại câu: “Việc huy động........... nghĩa vụ của mình”.

 

Điều 28. Nguồn thu tài chính

 

Tài chính của Hội đồng dòng họ có thể thu từ các nguồn sau:

 

- Từ sự tự nguyện đóng phí sinh hoạt Văn hoá dòng họ của các thành viên;

-  Từ sự tự nguyện đóng góp các quỹ theo thoả thuận của các thành viên;

-  Từ hoạt động hiệu quả của các Câu lạc bộ;

- Từ sự tự nguyện, hảo tâm của các cá nhân, tổ chức ủng hộ;

- Từ các nguồn thu hợp pháp khác.

Ghi chú:  Nên sửa lại cấu trúc câu của Điều 28 như trên có lẽ sẽ hợp logic hơn;

 

         Điều 29. Nguyên tắc thu, chi tài chính

         Việc thu, chi phải được thực hiện theo quy định tại Điều 27, Điều 28 của Tộc ước này.

         Mọi hoạt động thu, chi đều phải ghi chép vào sổ sách, công khai minh bạch. Những nguồn thu, chi lớn phải thực hiện theo quy định của Luật kế toán- Luật thống kê.

         Không sử dụng quỹ các nguồn thu của dòng họ vào việc tổ chức ăn uống của Hội đồng. Việc tổ chức ăn uống phải đóng góp riêng và không được lập quỹ

 

Ghi chú:  - Đề nghị sửa lại cấu trúc câu của Điều 29  như trên;

- Đề nghị các bác xem lại giúp: Có Luật kế toán Thống kê không? hay là Luật kế toán - Luật thống kê?

CHƯƠNG BA:

SỬA ĐỔI BỔ SUNG TỘC ƯỚC VÀ  ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 30. Bổ sung, sửa đổi Tộc ước

Tộc ước dòng họ Đỗ (Đậu) được thông qua trong kỳ họp lần thứ 15, ngày 19/02/2012 tại thành phố Đà Nẵng. Việc sửa đổi, bổ sung Tộc ước không được làm trái truyền thống đạo đức, văn hoá của dòng họ; không gây chia rẽ đoàn kết nội bộ dòng họ và mối đoàn kết của cộng đồng dân tộc Việt Nam; không trái quy định của pháp luật Nhà nước.

 

         Việc sửa đổi bổ sung phải thông qua hội nghị dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam và phải được sự đồng thuận của ít nhất 2/3 số người dự cuộc họp biểu quyết tán thành.

 

         Điều 31. Áp dụng thực hiện  

         Mỗi người trong dòng họ, các chi tộc họ thực hiện Tộc ước này và thực hiện Tộc ước của chi tộc họ mình như quy định tại Điều 1.     

 

Tộc ước được kế thừa "Luật tục", bản sắc Văn hoá và tính nhân văn của dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam. Việc thực hiện Tộc ước này cần được thông qua tuyên truyền vận động, khuyên nhắc, thuyết phục, cảm hoá sự tự tâm, tự nguyện, tự giác của mỗi người, mỗi gia đình, chi tộc họ, nhằm hướng dòng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam phát triển, mãi mãi trường tồn. 

 

Ghi chú: Đề nghị các bác xem lại 2 câu dưới, chọn câu hợp lí hơn

1.Việc thực hiện Tộc ước đảm bảo thông qua tuyên truyền vận động, khuyên nhắc...

2. Việc thực hiện Tộc ước này cần được thông qua tuyên truyền vận động, khuyên nhắc

         Điều 32. Hiệu lực thi hành

         Toàn thể Hội nghị dòng họ Đỗ (Đậu) lần thứ 15 tổ chức tại thành phố Đà Nẵng  nhất tâm cúi đầu bái thỉnh các Liệt vị Tiên tổ, cầu mong phù trì, ban ân, đạt ngộ cho mọi người con cháu phát tâm tự nguyện, tự giác, đồng lòng, đồng thuận thực hiện tốt Tộc ước họ Đỗ (Đậu) Việt Nam kể từ ngày được thông qua chính thức hôm nay 19/ 02/2012 nhằm ngày 29/01/ năm Nhâm Thìn .

Cẩn cáo! ./.


         TM. HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ ĐỖ, ĐẬU VIỆT NAM
                                    CHỦ TỊCH





                             Kỹ sư  Đỗ Ngọc Liên

 

 


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn