Nắm quyền bằng chuyển giao quyền lực
Thục Phán theo sử cũ chép, vốn dòng dõi
Thục Vương, vì đời tiền nhân của Thục Phán cầu hôn con gái Hùng Vương
không được nên sinh cừu hận. Nhân khi Hùng Vương không phòng bị, Thục
Phán cướp nước Văn Lang lập nên nhà nước mới.
Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Hùng
Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo
sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng
chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục Vương”.
 |
| Tranh Minh Họa vua An Dương Vương trước lúc tự tận. |
Đại Việt sử lược (khuyết danh) thì
chép ngắn gọn: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán
đánh đuổi rồi lên thay.” Lên ngôi rồi, An Dương Vương đặt tên nước là Âu
Lạc. Tên gọi này theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép lại
theo Dư địa chí của Cổ Hi Phùng “Giao Chỉ về đời Chu gọi là Lạc Việt, về
đời Tần gọi là Tây Âu”. Như vậy tên Âu Lạc là cách gọi kết hợp về cùng
một địa danh.
Nếu An Dương Vương nắm quyền lực sau khi
truất ngôi Hùng Vương thì Triệu Quang Phục cũng nắm quyền từ một cuộc
chuyển giao quyền lực, nhưng mang tính chất hòa bình.
Sau khi lập nên nước Vạn Xuân năm Giáp Tý
(544), Lý Nam đế - Lý Bí lại phải chống quân Lương do Trần Bá Tiên dẫn
đầu sang xâm lược. Tháng 8 năm Bính Dần (546) bị thua ở hồ Điển Triệt
(huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay), “phải lui giữ ở trong động
Khuất Lão để sửa binh đánh lại, ủy cho đại tướng là Triệu Quang Phục giữ
việc nước” (Đại Việt sử ký toàn thư). Năm 548, Lý Bí bị bệnh chết ở
động Khuất Lão, Triệu Quang Phục lên nắm quyền, tức là Triệu Việt Vương.
Hai vị vua tài
An Dương Vương từng đánh Hùng Vương, rồi
đuổi quân xâm lược Triệu Đà. Nhưng bằng chứng hùng hồn nhất cho tài thao
lược của ông phải kể đến đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc quân sự thời
Âu Lạc, đó là thành Cổ Loa (vì thành có hình xoáy ốc, lại có tên là
Trung Qui thành, thời Đường gọi là Côn Lôn thành, có ý nói là thành rất
cao) với ba vòng thành Nội, thành Trung, thành ngoại, phối kết hợp với
hào lũy từ dòng nước tự nhiên của sông Hoàng làm nên công trình quân sự
kiên cố chống giặc xâm lược.
 |
| Tranh minh họa vua Triệu Quang Phục ở Đàm Dạ Trạch. |
Bên cạnh đó, nhà nước Âu Lạc của An Dương
Vương còn có thứ vũ khí đáng sợ là nỏ liên châu, hay Linh Quang thần
trảo mà dân gian gọi là nỏ thần, một lúc có thể bắn được nhiều mũi tên.
Đối với Triệu Việt Vương, tài năng của
ông thể hiện rõ qua việc được Lý Nam đế Lý Bí tin cẩn giao cho quyền
bính, và hiện thực hóa qua kế đánh “trì cửu” (cầm cự lâu dài) với việc
lấy đầm Dạ Trạch (tức đầm Một Đêm, thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) làm đại
bản doanh chống giặc Lương: “Ngày ngày, quân sĩ thay phiên nhau vừa
luyện tập, vừa phát bờ, cuốc ruộng, trồng lúa, trồng khoai để tự túc
binh lương. Ban ngày tắt hết khói lửa, im hơi lặng tiếng như không có
người, đến đêm nghĩa quân mới kéo thuyền ra đánh úp các trại giặc, cướp
được nhiều lương thực” (Việt sử tiêu án – Ngô Thì Sỹ). Nhờ cách đánh
“trì cữu” đó năm Canh Ngọ (550), Triệu Quang Phục đánh đuổi quân Lương
lấy lại được nước.
Được thần giúp vũ khí
An Dương Vương đắp thành Cổ Loa vừa làm
kinh đô, vừa làm căn cứ chống giặc phương Bắc. Nhưng thành cứ đắp lại
đổ, sau nhờ có thần Kim Quy giúp mới đắp không quá nửa tháng thì xong.
Lại được thần “trút chiếc móng trao cho vua và nói: “Nước nhà yên hay
nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc đến thì
dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn thì không phải lo
gì”.
Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo thần nỏ” (Đại Việt sử ký toàn thư). Nhờ có nỏ thần đó, quân Nam Việt năm lần bảy lượt xâm lược Âu Lạc đều thất bại.
Còn Triệu Việt Vương khi đóng quân ở đầm
Dạ Trạch, cũng là đầm nơi trước kia hai vợ chồng Tiên Dung – Chử Đồng Tử
theo truyền thuyết đã bay lên trời. Quang Phục thấy quân Lương không
rút lui, bèn đốt hương khấn trời thì có điềm tốt là được móng rồng để
đính lên mũ đâu mâu, dùng để uy hiếp quân giặc. Đại Việt sử ký toàn thư
chép lại việc này: “tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử
bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời rơi xuống, rút móng rồng trao cho
vua, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc. Từ đó thanh thế quân đội lừng
lẫy, đánh đâu được đấy”.
Như vậy, An Dương Vương và Triệu Việt
Vương đều được thần giúp. Có một điều rất hay nữa là, vũ khí thần ở đây
đều là của hai con vật thần thoại nằm trong bộ “Tứ linh” (long, lân,
quy, phụng) và đều là chiếc móng. Rùa và rồng là hai con vật gắn liền
với cư dân nông nghiệp lúa nước Việt Nam (rồng được thần thánh hóa từ
hình tượng có thật là con rắn).
Thông gia và kết cục - Hai kịch bản, một nội dung?
An Dương Vương - Triệu Đà - Trọng Thủy -
Mỵ Châu: Không xâm lược được nước Âu Lạc, Nam Việt Vương Triệu Đà giả
thác hòa thân, dùng con bài hôn nhân chính trị để cướp nước. Trọng Thuỷ
con Triệu Đà kết hôn với công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương. An Dương
Vương vì trọng hòa bình, hữu hảo mà tác thành, lại cho Trọng Thuỷ theo
cái tục “Chuế tế” - gửi rể chỉ ở Trung Quốc đời Tần mới có (con trai
không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế tế (ở
gửi rể). Để rồi từ đây, Mỵ Châu với tình yêu dành cho chồng đã tiết lộ
hết bí mật quân sự (móng rùa thần), quốc gia cho Trọng Thuỷ, An Dương
Vương mất nước.
Triệu Việt Vương - Lý Phật Tử - Nhã Lang -
Cảo Nương: Vết xe đổ xảy ra ở thế kỷ 2 TCN của An Dương Vương còn đó,
nhưng Triệu Việt Vương vẫn dẫm vào. Sau khi đánh đuổi quân Lương, Triệu
Việt Vương giao tranh với Lý Phật Tử (vốn là bộ tướng của Lý Thiên Bảo
là anh của Lý Bí) rồi vạch đôi sơn hà cai trị. Lý Phật Tử cũng như Triệu
Đà, cho con trai mình Nhã Lang kết hôn với công chúa Cảo Nương của
Triệu Việt Vương rồi đánh cắp bí mật quân sự (móng rồng) để rồi cướp
nước. Năm Canh Dần, (570), Triệu Việt Vương mất nước về tay Lý Phật Tử.
Dù ở hai thời khác nhau, nhưng An Dương
Vương và Triệu Việt Vương đều bị kẻ thù lừa cùng một kịch bản: Hôn nhân,
gửi rể - vợ tiết lộ bí mật quân sự cho chồng - thông gia cướp nước. Bí
mật quân sự ở được nói tới là móng rùa thần, móng rồng, nhưng thực tế đó
chính là việc Trọng Thuỷ, Nhã Lang phá vỡ sự đoàn kết nhất trí trong
nội bộ triều đình An Dương Vương, Triệu Việt Vương. Mất đi điều đó, dù
có thành cao, hào sâu, vũ khí lợi hại bao nhiêu đi chăng nữa cũng mất
nước.
Mất nước, cả An Dương Vương, Triệu Việt
Vương đều đem theo con gái yêu chạy về nam và cùng tìm đến biển làm nơi
tự tận. An Dương Vương “xuống biển” ở xã Cao Xá ở Diễn Châu, Nghệ An.
Còn Triệu Việt Vương chết ở cửa biển Đại Nha, nay thuộc Nghĩa Hưng, Nam
Định. Cái chết của An Dương Vương cùng việc mất nước Âu Lạc mở đầu cho
thời kỳ hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Còn Triệu Việt Vương mất nước, chỉ thời
gian ngắn sau, với việc Lý Phật Tử hàng Tuỳ, nước ta lại rơi vào thân
phận nô lệ.
Theo BAODATVIET.VN