Thứ năm, 24/07/2014
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Lời hay ý đẹp
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay46
mod_vvisit_counterHôm trước703
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
TIÊU CHÍ DANH NHÂN VÀ NHẬN DIỆN VỀ DANH NHÂN QUẢNG BÌNH E-mail
15/09/2012

 

TIÊU CHÍ DANH NHÂN VÀ NHẬN DIỆN VỀ

DANH NHÂN QUẢNG BÌNH

 

                                                                                       PGS.TS ĐỖ BANG[1]

 

          1. Cho đến hiện nay đã có nhiều sách viết về chủ đề danh nhân nhưng vẫn chưa có một công trình nào định nghĩa danh nhân và đề xuất các tiêu chí về danh nhân. Thậm chí có tác giả không phân biệt được giữa nhân vật, nhân vật lịch sử danh nhân. Do vậy, tại hội thảo về danh nhân Quảng Bình cần thiết phải bàn về vấn đề này như là một phương pháp luận chuyên đề trước khi tiếp cận với các nội dung khác của hội thảo.

          Trước đây, Phan Huy Chú trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí[2], nội dung này được gọi là Nhân vật chí, Quốc sử quán triều Nguyễn có bộ sử viết về các nhân vật của bản triều gọi là Liệt truyện[3]; gần đây nhiều tác giả gọi là Nhân vật lịch sử, Danh nhân, Danh tướng, Những vì sao đất nước, Các ngôi sao Tây Sơn, Việt Nam anh Kiệt[4].

          Nhân vật chí, Liệt truyệnNhân vật lịch sử viết về các nhân vật có vai trò trong lịch sử, tiêu biểu cho mỗi thời kỳ ở các lãnh vực khác nhau. Dù rằng, các nhân vật này từng chống lại chế độ đương thời (sử cũ gọi là nghịch thần), như Liệt truyện quyển 30 viết về các lãnh tụ Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ…).

          Danh nhân, theo Đào Duy Anh người có tiếng được nhiều người biết (homme célèbre)[5]. Tiếng ở đây là tiếng tốt, tiếng thơm, tài giỏi; cũng như danh tướng là tướng giỏi[6], danh gia là gia đình có tiếng tốt [7]. Như vậy, danh nhân là nhân vật lịch sử nhưng là nhân vật tích cực, có đóng góp trong tiến trình lịch sử và ảnh hưởng lâu dài.

          Thông thường viết về nhân vật lịch sử hoặc danh nhân là viết về một nhân vật đã qua đời và để lại di sản cho hậu thế.

          2. Với cách hiểu trên, khi viết về danh nhân Quảng Bình là chỉ đề cập đến các nhân vật có tiếng tăm (tiếng tốt, theo cách nhìn nhận hiện nay), có vai trò tích cực trong lịch sử trên nhiều phương diện đối với đất nước cũng như đối với tỉnh nhà. Như vậy, Quảng Bình cũng có các nhân vật nổi tiếng, có vai trò trong lịch sử nhưng không thể gọi là danh nhân như Ngô Đình Diệm, Đỗ Thọ…

          Với cách hiểu danh nhân là một nhân vật lịch sử đã qua đời nhưng sẽ là ngoại lệ nếu như nhân vật đó đang sống nhưng đã ngoài một trăm tuổi. Đó là trường hợp Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911-  ).

Danh nhân Quảng Bình với tiêu chí có tầm vóc, vai trò trong lịch sử phải đặt ngang tầm của tỉnh. Do vậy, những nhân vật không xứng tầm, không nổi tiếng đối với tỉnh Quảng Bình thì không nên xếp vào danh nhân của tỉnh. Tiêu chí này đặt ra, nhưng ngoại lệ cũng cần xem xét về những nhân vật có công khai phá, mở đất Quảng Bình trong buổi đầu tạo lập hoặc các nhân vật có công với nước, với dân nhưng nay mới được nghiên cứu và làm sáng tỏ công lao, sự nghiệp như Hồ Cưỡng, Phan Phúc Duyện,  Trần Bang Cẩn, Nguyễn Hữu Cảnh và một số nhân vật thời Cần Vương…

Về quê quán: Danh nhân Quảng Bình là người sinh ra tại Quảng Bình có cống hiến cho quê hương, đất nước, dân tộc, nhân loại; là những người sinh ra tại các địa phương khác nhưng sự nghiệp nổi bật gắn với đất Quảng Bình hoặc những người sinh ra tại Quảng Bình có công lao với đất nước và các địa phương khác được sử sách ghi nhận. Như vậy, Quảng Bình có danh nhân cấp tỉnh nhưng cũng có danh nhân quốc gia, thế giới.

3. Quá trình nghiên cứu

Dương Văn An viết sách Ô châu cận lục vào năm 1555 có mục Nhân vật (thuộc quyển 6), tỉnh Quảng Bình có 39 người sống vào thời Lê- Mạc được ghi vào sách [8].

Thổ hào có Phan Mãnh, Nguyễn Khả Hoan, Thanh Quận Công, Thượng tướng họ Phạm, Nguyễn Danh Cả.

Rể vua có  Phò mã Trần Xá.

Quan văn có Tri phủ họ Trần, Phạm Văn Các, Nguyễn Đình Bửu, Thái Nhân Nghĩa, Tri phủ họ Phạm, Phạm Tri Chỉ, Phạm Lại, ông họ Hồ, Tri châu họ Phan, Trần Đình Hy, Trần Vỹ, Tri phủ họ Nguyễn, Hoàng Công Đán, Phạm Cư, Nguyễn Đỉnh, Nguyễn Hùng, Phan Cơ, Phạm Tứ Linh, Dương Triệt, Phạm Khắc Khoan, Đổng Hiền.

Tiết phụ có Bà làng Thị Lễ, Trần Thị Hồng, bà Họ Phạm.

Văn nhân có ông Thượng xá họ Hoàng, Vũ Trí Giám, Phạm Phi Diệu, Nguyễn Túc.

  Võ sĩ có Nguyễn Bá Tể, Dương Liễn, Hoàng Công Châu, Võ Nậu, Hoàng Công Sùng.

Sách Đại Nam nhất thống chí tỉnh Quảng Bình được biên soạn vào thời Tự Đức (giữa thế kỷ XIX) có giới thiệu 41 nhân vật thời chúa Nguyễn và vua Nguyễn phần lớn là quan chức, gồm có:

 Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Kính (Cảnh), Nguyễn Cửu Kiều, Nguyễn Cửu Dật, Trương Phúc Phấn, Vũ Định Phương, Lê Xuân Chính, Đặng Đại Lược, Bạch Doãn Triều, Lê Đa Uẩn, Vũ Danh Sở, Lê Chính Kỷ, Trần Đại Luật, Nguyễn Kỳ Kế, Trần Ngọc Quán, Lê Đại Nghĩa, Nguyễn Thọ Tuấn, Nguyễn Đăng Tuân, Hoàng Kim Xán, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn Văn Mẫn, Nguyễn Thành Chẩn, Nguyễn Văn Tuyển, Nguyễn Văn Nhị, Ngô Đình Giới, Nguyễn Nhân Lý, Lê Huệ, Nguyễn Quốc Hoan, Lê Văn Hi, Nguyễn Đăng Giai, Lê Đán, Nguyễn Đăng Hành, Phạm Xuân Quế, Bùi Nhật Tiến.

Hiếu tử có Hoàng Nhật Tế

Liệt nữ có Nguyễn Thị Cửu, Trần Thị Bàn, Đoàn Thị Triện, Trần Thị Công, Phạm Thị…, Đoàn Thị Chuỳ [9].

Như vậy, căn cứ theo danh sách được Dương Văn An và Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết thì ở Quảng Bình có khoảng 80 nhân vật từ thời Lê đến thời Nguyễn được các tác giả đương thời kê cứu. Chủ đề này, về sau được nhiều người quan tâm và đã đạt được những kết quả nhất định. Với một cộng đồng tác giả có trách nhiệm với quê hương, năm 1994, xuất bản Danh nhân Quảng Bình tập 1 (NXB Thuận Hoá), năm 1997, xuất bản Danh nhân Quảng Bình tập 2 (NXB Văn hoá Thông tin) là một đóng góp quan trọng. Thành tựu tiêu biểu nhất về chủ đề này là công trình Quảng Bình nhân vật chí của tác giả Nguyễn Tú, do Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình xuất bản năm 2002.

Tác giả Nguyễn Tú là nhà Quảng Bình học hàng đầu của thế kỷ XX[10]. Với sức viết tuổi dồi dào vào tuổi ngoài bảy mươi cùng với đầu tư tư liệu công phu và biên soạn nghiêm túc, tác giả đã khảo cứu 82 nhân vật tiêu biểu của Quảng Bình từ thời Lê- Mạc đến thời hiện đại.

Trong danh sách 82 nhân vật của tác giả Nguyễn Tú, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được ghi tên đầu tiên, tiếp đó sắp xếp theo vần A,B, C…theo tên của các nhân vật, chủ yếu là các nhân vật có quê quán tại Quảng Bình. Còn các nhân vật có công lao lớn với đất nước gắn với vùng đất Quảng Bình như Lý Thường Kiệt, Đào Duy Từ… tác giả xếp vào Phụ lục. Đây cũng là quan điểm và phương pháp biên soạn của tác giả Nguyễn Tú sẽ không dễ dàng đạt được sự đồng thuận của số đông mà hội thảo chúng ta cũng cần bàn đến.

Trong số 39 nhân vật được Dương Văn An kê cứu trong Ô châu cận lục, tác giả Nguyễn Tú chọn được 8 nhân vật để đưa vào sách là: Nguyễn Khả Hoan, Nguyễn Danh Cả, Trần Đình Hy, Phạm Cư, Phạm Khắc Khoan, Đổng Hiền, Phạm Phi Diệu[11], Võ Nậu. 31 trường hợp còn lại, có lẽ vì đã lâu đời nên tác giả không khảo cứu được.

Trong số 41 nhân vật Quảng Bình được ghi trong sách Đại Nam nhất thống chí, tác giả Nguyễn Tú chọn được 18 người là:  Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Kính (Cảnh), Trương Phúc Phấn, Lê Xuân Chính, Bạch Doãn Triều, Lê Đa Uẩn, Trần Ngọc Quán, Nguyễn Đăng Tuân, Hoàng Kim Xán, Vũ Xuân Cẩn,  Nguyễn Văn Nhị, Ngô Đình Giới, Lê Huệ, Nguyễn Quốc Hoan, Lê Văn Hi, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Đăng Hành, Bùi Nhật Tiến. 23 trường hợp còn lại có thể do không phù hợp với quan điểm mới như việc sử triều Nguyễn tôn vinh 6 liệt nữ, 1 hiếu tử hoặc do tầm vóc chưa thoả đáng hay do tư liệu chưa tiếp cận được nên tác giả không đưa vào tập sách Quảng Bình Nhân vật chí.

Như vậy, với 82 nhân vật đưa vào sách, tác giả Nguyễn Tú kế thừa được 26 nhân vật từ sách Ô châu cận lục Đại Nam nhất thống chí, còn 56 nhân vật mới của tập sách, phần lớn là nhân vật thời cận hiện đại và một số nhân vật mới được tác giả nghiên cứu, bổ sung.

Điều đáng chú ý là 82 nhân vật của sách Quảng Bình nhân vật chí, tác giả Nguyễn Tú đã chọn những nhân vật tiêu biểu của vùng đất, mang tính tích cực trong tiến trình lịch sử nên gần với tiêu chí danh nhân như chúng tôi đã đề xuất.

4. Để phân loại danh nhân Quảng Bình, thông qua tìm hiểu các danh nhân tỉnh nhà và tham khảo các địa phương khác, theo tôi nên phân loại theo các lãnh vực, cấp độ danh nhân đối với tỉnh Quảng Bình và xếp theo thời gian.

          Danh nhân chính trị quân sự:

          Lý Thường Kiệt (1019-1105) quê ở Thăng Long (Hà Nội) là danh tướng chống quân Tống và người có công khai lập đất Quảng Bình vào năm 1075 như vẽ bản đồ, đổi tên châu Địa Lý thành Lâm Bình và đưa dân đễn ở.

           Đào Duy Từ (1572-1634) quê ở Thanh Hoá là danh thần thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên có công lớn trong việc xây dựng và bảo vệ đất Đàng Trong, nay còn để lại nhiều di tích thành luỹ mang tên ông ở trên đất Quảng Bình.

           Nguyễn Hữu Dật (1603-1681) quê ở Thanh Hoá là danh tướng của chúa Nguyễn trong cuộc chiến tranh chống quân Trịnh.

          Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) sử triều Nguyễn ghi là Nguyễn Hữu Kính quê ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh là nhà quân sự, chính trị tài năng của chúa Nguyễn. Ông có công mở đất Bình Thuận, trấn nhậm miền Đông Nam Bộ trong buổi đầu khi chúa Nguyễn Phúc Chu mới thành lập dinh Trấn Biên và Phiên Trấn năm 1698, khai phá đất An Giang mở đầu cho người Việt di dân vào miền Tây Nam Bộ.

           Vũ Xuân Cẩn (1778-1852) người làng Hoà Luật, huyện Lệ Thuỷ, đại thần triều Nguyễn phục vụ cho 4 triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức với các chức Tổng đốc Bình Phú, Thượng thư Bộ Hình, Hàn lâm viện, Đông Các Đại học sĩ, Tổng tài Quốc sử quán kiêm lãnh Quốc tử giám…

          Võ Trọng Bình (1808-1899) người làng Mỹ Lộc, huyện Lệ Thuỷ là đại thần nổi tiếng thanh liêm của triều Nguyễn. Dưới triều Tự Đức ông làm Thượng thư Bộ Hộ kiêm Bộ Công, Tổng đốc Ninh- Thái. Sau vụ khởi nghĩa Đoàn Hữu Trưng năm 1866, Võ Trọng Bình được bổ làm Thượng thư Bộ Lại kiêm quản Quốc tử giám, sung Cơ mật đại thần. Năm 1868, vua Tự Đức giao ông trần nhậm Bắc Kỳ, chuẩn làm Hiệp biện, lĩnh Tổng đốc Hà Ninh, sung Khâm sai đại thần.

          Hoàng Kế Viêm (1820-1909) quê làng Văn La nay thuộc xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, Phò mã của vua Minh Mạng, là trọng thần triều Tự Đức làm Tổng đốc An Tĩnh, Thống đốc quân vụ 4 tỉnh Lạng- Bình-Ninh- Thái, thăng Đại học sĩ, Tiết chế quân vụ Bắc Kỳ. Ông có công đánh Pháp và dẹp dư đảng giặc Tàu ở các tỉnh phía Bắc.

          Nguyễn Phạm Tuân (1842-1887) người làng Kiên Bính nay thuộc khu phố Hải Đình, thành phố Đồng Hới là tướng lĩnh xuất sắc phò vua Hàm Nghi, chỉ huy đánh Pháp sau khi Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc (1886)…

          Võ nguyên Giáp (1911-   ) quê làng An Xá, Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tham gia các phong trào yêu nước từ năm 14 tuổi lúc học tại trường Quốc học Huế, thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944), Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng xuất sắc nhất của Việt Nam và thế giới trong cuộc chiến chống chế độ thực dân vào thế kỷ XX…

          Danh nhân văn hoá, khoa học:

          Dương Văn An (có ý kiến cho năm sinh và năm mất là 1514- 1591)[12], quê làng Tuy Lộc, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, năm 1547 đỗ Tiến sĩ, Thượng thư của nhà Mạc, đóng góp quan trọng của Dương Văn An là biên soạn sách Ô châu cận lục; một công trình địa chí lịch sử đầu tiên có giá trị đặc trưng về vùng đất Thuận Hoá trong thế kỷ XVI.

           Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867) người huyện Quảng Trạch, năm 1831 đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan. Ông và Cao Bá Quát là hai thi nhân được Tùng Thiện Vương quý mến. Ông để lại các tác phẩm:

          Tỉnh Trai thi tập, Dược sự ngẫu đề, Phan thúc ước…

          Hàn Mặc Tử- Nguyễn Trọng Trí (1912-1940), sinh tại làng Lệ Mỹ, nay thuộc thành phố Đồng Hới, nhà thơ tài hoa của đất nước…

         

          5. Vùng đất, con người, thời đại và sự kiện có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quảng Bình trong lịch sử có một vị thế khá đặc trưng của đất nước; là vùng đất khai mở để cho các vương triều Đại Việt thực hiện cuộc hành trình Nam tiến trong nhiều thế kỷ. Vào thế kỷ XVII, là chiến trường quyết liệt trong cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn nên đã xuất hiện nhiều nhân vật tiêu biểu của xứ Đàng Trong như Đào Duy Từ, Nguyễn Cửu Kiều, Nguyễn Cửu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh, Trương Phúc Phấn, Trương Phúc Hùng, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Hào…; là vùng đất có nhiều nhà khoa bảng và đại thần tài ba, nổi tiếng thanh liêm dưới triều Nguyễn như Vũ Xuân Cẩn, Võ Trọng Bình, Nguyễn Đăng Tuân, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Đăng Hành, Võ Văn Tuấn …Đặc biệt sau khi giặc Pháp xâm lược, Quảng Bình là chiến trường đọ sức không cân với giặc từ khi Cần vương dấy nghĩa đến kết thúc cuộc chiến tranh, nên ở đây đã xuất hiện nhiều vị tướng lĩnh tài ba, dũng cảm, mưu trí như Hoàng Kế Viêm, Lê Sỹ, Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân, Đoàn Chí Tuân (Bạch Xĩ), Đề Chít, Đề Én, Hoàng Phúc, Lê Mậu Thưởng…và sau này có Võ Nguyên Giáp…

          Quảng Bình cũng là nơi sản sinh cho đất nước nhiều nhà văn hoá và nhà khoa học nổi tiếng mà thời nào cũng có.

          Tuy nhiên, có một vấn đề cần bàn đến là sự xuất hiện gương mặt phụ nữ hiếm hoi thời thực dân- phong kiến của đất nước trong đó có vùng đất Quảng Bình thì việc tôn vinh Mẹ Suốt trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cũng là điều rất đáng được khích lệ.

          Lịch sử là dòng chảy thời gian có tính quy luật kết nối các sự kiện trong quá khứ do con người tạo ra. Trên dòng chảy đó xuất hiện nhiều nhân vật mà tiêu biểu là các danh nhân. Danh nhân Quảng Bình không những mang tính đại diện cho vùng đất mà còn có ý nghĩa đối với sử Việt trong tiến trình của lịch sử dân tộc. Nghiên cứu và tôn vinh danh nhân là đạo lý và trách nhiệm của hậu thế, hội thảo hôm nay là sự kiện có ý nghĩa không những đối với Quảng Bình mà với đất nước, sẽ là kinh nghiệm quý cho các địa phương khác học tập, phát huy.

         

 

         



[1] PHÓ CHỦ TỊCH HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

[2] Sách được biên soạn từ năm 1809-1819 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Bản dịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1992, Phần tiểu sử.

[3]  Sách được biên soạn từ năm 1841 đến năm 1852, có 87 cuốn, 2000 trang bản thảo chữ Hán (Đại Nam liệt truyện tập 1, bản dịch, NXB Thuận Hoá, 1993, tr. 7,9,10).

[4] Riêng tác giả: Hồ Sĩ Vịnh (Chủ biên), dùng cụm từ Người Quảng Trị (Nhân vật chí), NXB Chính trị quốc gia, 2006; lại viết cả những người đang sống và các nhà khoa bảng. Có lẽ từ Người này được hiểu rộng hơn chăng?

[5]  Đào Duy Anh, Hán Việt tự điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn, 1963, tr. 196.

[6]  Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 82.

[7]  Bùi Minh Đức, Từ điển tiếng Huế, NXB Văn học, 2005, tr. 264.

[8]  Sách ghi tên 104 người của vùng đất Ô châu, nay thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Ô châu cận lục, Văn Thanh, Phan Đăng dịch và chú giải, NXB Chính trị quốc gia, 2009, tr. 106-141.

[9]  Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Bản dịch, NXB Thuận Hoá, Tập 2, 1994, tr.69-80.

[10] Tác giả có 15 sách biên soạn về Quảng Bình được xuất bản từ năm 1986 đến trước khi qua đời và 3 công trình biên khảo về Quảng Bình được giải thưởng.

[11]  Tác giả Nguyễn Tú ghi là Nguyễn Phi Diệu, có lẽ bị nhầm, Sđd, tr.174.

[12] Nguyễn Q.Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, in lần thứ 5, NXB Văn hoá, 1999, tr.109.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn