Thứ sáu, 13/12/2019
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay400
mod_vvisit_counterHôm trước497
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
DÒNG HỌ ĐỖ PHÚC XÃ XUÂN THƯỢNG, XUÂN TRƯỜNG, NAM ĐỊNH E-mail
13/10/2012

GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ  DÒNG HỌ ĐỖ PHÚC

XÃ XUÂN THƯỢNG, XUÂN TRƯỜNG, NAM ĐỊNH

                                                                  Đỗ Quang Tuân

Trong cuốn Họ Đỗ Việt Nam (tập 2) đã có bài giới thiệu về dòng họ Đỗ Phúc tại Xuân Thượng, Xuân Trường, Nam Định và đôi nét về thân thế và sự nghiệp của Đức Thủy Tổ Đỗ Phúc Hưu (tư liệu do cụ Đỗ Phúc Hối cung cấp). Dòng họ Đỗ Phúc tại Xuân Thượng là một dòng họ lớn. Từ đây, một số hậu duệ của Đức Thủy Tổ đã dời quê hương Nam Định để đi đến những miền đất mới xây dựng quê hương thứ hai, thứ ba…nối dài dòng tộc. Năm tháng qua đi, các thế hệ hậu duệ ở nơi “quê hương mới” vẫn một lòng tri ân hướng về nơi “quê Cha, đất Tổ”. Trong số ấy có những người đã tìm được về với cố hương xưa, có những người vẫn còn chìm nổi nơi đất khách, quê người... Tôi là một trong những hậu duệ có may mắn tìm được về chốn quê xưa trong thời gian gần đây. Lần trước, tôi đã có bài viết về chuyến đi này, hôm nay xin được giới thiệu đôi nét về Đức Thủy Tổ của chúng tôi và dòng họ Đỗ Phúc tại Xuân Thượng, Xuân Trường Nam Định qua Website Họ Đỗ Việt Nam.

Bài viết này được tổng hợp từ  02 nguồn tư liệu:

a) Tổng hợp của Tiến sĩ Mai Hồng – cán bộ nghiên cứu Viện Hán Nôm với nhan đề: “Về vị quan Thượng thư Đông các Đại học sĩ Đỗ Phúc Hưu được tôn thờ làm Phúc thần (xã Thượng Miêu, tổng Thủy Nhai, huyện Giao Thủy, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định - nay là xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định)”;

b) Bản dịch của Tiến sĩ Mai Hồng:

- Cuốn Ngọc phả ghi chép về công lao của Đức Thủy Tổ Đỗ Phúc Hưu. Cuốn Ngọc phả này do quan Trấn phủ Thiên Trường Lê Đức Tầm – người kế nhiệm Đỗ Phúc Hưu phụng soạn ngày 6 tháng 2 năm Cảnh Trị thứ 2 (1664) và do viên quan Thư lại triều Nguyễn là Nguyễn Đình Chuẩn vâng lệnh tôn kính sao như bản cũ (của triều Lê) vào ngày 1 tháng 3 năm Thành Thái thứ 2 (1890).

- 10 đạo sắc phong mà các triều đại đế vương trước đây đã phong cho Phúc thần Đỗ Phúc Hưu.

1. Vài nét về thân thế và sự nghiệp của Đức Thủy tổ Đỗ Phúc Hưu

          Đỗ Phúc Hưu, tên lúc còn nhỏ là Bồ Sơn (tương truyền cha mẹ cao tuổi rồi mà vẫn chưa có con trai, ông bà bèn lên miếu thần ở núi Cát Bồ cầu tự, sau sinh ra ông mới đặt tên như thế). Ông sinh ngày 2 tháng 5 năm Giáp Tuất niên hiệu Gia Thái thứ 2 (1574) thời Vua Thế Tông nhà Lê và mất vào ngày 14 tháng 11 năm Nhâm Thìn nhiên hiệu Khánh Đức 4 (1652) thời vua Lê Thần Tông (Duy Kỳ) hưởng thọ 78 tuổi.

          Đỗ Phúc Hưu là một vị Công thần Khai quốc thời Lê Trung Hưng. Tiên tổ ông vốn cổ xưa ở Châu Quỳnh Nhai, phủ Tây An, trấn Hưng Hóa (nay thuộc thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu), sau di cư đến xã Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Đỗ Phúc Hưu xuất thân từ một gia đình nhiều đời làm quan, đời nối đời lấy nghề “canh độc” làm trọng. Tức lấy việc đọc sách thánh hiền và cày ruộng trồng dâu nuôi tằm để làm cơ bản dựng nghiệp nhà. Tiên tổ ông nhiều đời tích thiện tu nhân. Bậc cha ông nhiều người làm quan to nhưng đều là những người lấy chữ thanh liêm làm trọng, coi phú quý như phù vân. Thân phụ của ông tên là Đỗ Công Nhậm nổi tiếng đức nhân, thân mẫu Chu Thị Loan quê ở xã Trúc Sơn, huyện Gia Viễn (Ninh Bình). Vợ chồng Đỗ công ăn ở với nhau tới năm đã ngoài 40 tuổi mà vẫn chưa sinh được con trai để nối dõi tông đường thì sốt ruột và áy náy lắm. Nghe tiếng có miếu thần trên núi Cát Bồ linh thiêng, ông bà bèn sắm lễ tới miếu đó cầu tự. Quả nhiên sau đó đã sinh ra ông, cha mẹ hết đỗi vui mừng, mới mệnh danh cho ông là Bồ Sơn. Cậu bé Bồ Sơn khôi ngô tuấn tú, tới khi khôn lớn cha cho theo học danh sư Lương đại nhân người bản thôn. Chỉ sau 5 năm cậu học trò họ Đỗ đã tỏ rõ bản lĩnh văn tài võ lược, bạn đồng lứa tất đều kính nể, thán phục. Ông thường phát tán tiền tài để chiêu mộ mọi người lo việc quốc gia đại sự.

Ngày 9 tháng Giêng năm Quý Tỵ (1593) quan Tiết chế triều Lê là Trịnh Tùng đem đại quân vượt sông Nhĩ Hà tiến về phía huyện Thanh Lâm (khoảng đất huyện Thanh Hà, Nam Sách thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay). Đến ngày 12 tháng ấy thì Trịnh công cho hạ trại tại Cẩm Giàng để hội quân vượt sông gấp. Trịnh công lệnh cho Vinh quận công Hoàng Đình Ái và Dương quận công Nguyễn Hưu Liêu tiến về phía huyện Thanh Lâm, ở đó có Mạc Kính Chỉ đang trú đồn. Giữa lúc Trịnh Công tiến binh về đó bỗng thấy có một tráng sĩ tướng mạo đường đường cưỡi con ngựa đen cùng mấy trăm sĩ tốt theo sau từ bên đường đi tới xin làm quân tiên phong. Trịnh Công hỏi họ tên người tráng sĩ ấy mới biết đấy là Bồ Sơn công đóng giả dạng thương nhân đã tới đây nhiều tháng rồi. Trịnh Công vui mừng bèn phong cho Bồ Sơn làm Thanh Lâm tướng quân và giao cho ông làm tướng Tiên phong; còn Đình Ái, Hữu Liêu, Trịnh Công giao cho họ phải chế ngự giặc ở tại chỗ. Trận ấy Kính Chỉ đại bại phải tháo chạy vào rừng. Từ đó trở đi trong mọi trận đánh Bồ Sơn luôn luôn giữ chức tướng Tiên phong và trận nào cũng thế, đã đánh là thắng. Quân địch thấy vậy thì hồn xiêu phách lạc, hô nhau rằng có một vị thiên tướng tới. Thế nên, nghe tiếng ông từ xa thì đã phải cao chạy xa bay (sự kiện này có chép trong Quốc sử, Đại Việt thông sử).

Ngày 20 tháng 2 năm Quý Tị (1593), ông một mình một ngựa phi thẳng tới  trại Đại Đồng - đồn doanh của viên thổ quan của nhà Mạc là Vũ Đức Cung.  Đỗ đã lấy điều hơn lẽ thiệt để khuyên giải Cung hãy hướng thiện bó giáo lại hàng quy thuận triều đình thị sẽ được hưởng sự khoan dung của Vua Lê.  Quả nhiên, tới ngày 25 tháng ấy, Đức Cung đem hơn ba ngàn binh mã về kinh đầu hàng nhà Lê. Vua Lê đánh giá rất cao việc làm đó của Bồ Sơn, nhà vua còn ngỏ ý muốn gả công chúa cho. Nhưng Đỗ thoái thác tâu thưa rằng: Đỗ đã có người vợ hiền đang chờ ngóng Đỗ ở quê nhà, nên không dám nhận lời hôn ước với Công Chúa.

          Năm Giáp Ngọ (1594), Mạc Ngọc Liễn đem quân tới đánh chiếm huyện An Bắc, Trịnh Công bèn sai Đình Ái đi đánh dẹp, bấy giờ Bồ Sơn cũng đang giữ chức Tiên phong di đầu. Đang khi ấy, quân giặc Ai Lao vào quấy nhiễu, cướp bóc ở Mai Châu rất tàn khốc khiến cho nhân dân nơi đó rất thống khổ. Trịnh Công bèn triệu ông trở về cho lĩnh hơn một vạn binh mã đi đánh dẹp. Chiến dịch ấy, Bồ Sơn gian nan lắm, quần nhau với giặc suốt trên hai năm ròng mới dẹp yên được chúng. Đánh đuổi được giặc rồi, triều đình lại cử ông xây thành đắp lũy và trấn thủ ở đất này thêm 5 năm nữa. Như vậy, suốt bảy năm liền, Bồ Sơn phải trấn thủ ở mảnh đất Mai Châu đầy xung yếu này, dân chúng được sống yên bình, giặc cướp nghe tiếng ông thì khiếp đảm im hơi, không dám nổi loạn. Vua thương tấm lòng của người tôi trung, ngài gọi về triều phong cho chức Đại tướng quân.

Vài năm sau đó, triều đình lại cử ông đi Kinh lịch tại Phủ Xuân Trường. Khi ấy nhằm ngày 10 tháng giêng năm Hoằng Định thứ 3 (1603). Trong thời gian giữ chức Kinh lịch ở đây, ông thường đi thăm thú dân tình tại các làng xã, các bến bãi ven biển, khuyến khích nhân dân khai khẩn đất hoang để sản xuất nông nghiệp, quai đê ngăn mặn, mở rộng ao hồ thả cá. Một hôm ông đi tới một vùng đất cao thuộc huyện Giao Thủy thì ông dừng chân xem xét thủy thế, thấy phong cảnh hữu tình, đất đai màu mỡ, ông bèn về quê đem 16 người thân quyến và một số người chiêu mộ từ thập phương tới đây. Bồ Sơn chu cấp cho họ tiền bạc, lương thực để họ chuyên việc đắp đê mở đất, sau đấy Bồ Sơn lại chia giao phần đất cho từng người để họ tự trồng cấy, tự đào giếng lấy nước mà dùng “canh điền tạc tỉnh”; tự dựng nhà cửa mà ở, đào ao vượt thổ thả cá, vườn trồng hoa màu cây trái…cuộc sống của mọi người ngày một khấm khá lên. Chưa đầy ba năm sau, người đến hội tụ rất đông, con số lên tới mấy trăm người, số ruộng đất canh tác là hơn nghìn mẫu, hoa màu tươi tốt, ruộng đồng bội thu, khắp chốn âu ca. Bồ Sơn vui sướng bèn mượn tên cố hương ở Tống Sơn để đặt tên cho ấp mới là trang Gia Miêu.

          Đến năm Vĩnh Tộ thứ 5 (1623) ông dâng sớ cáo lão nghỉ hưu, nhưng vua không những không cho còn phong lên chức Gián nghị Đại phu ở đài Ngự sử. Hai năm sau ông lại đang sớ nghỉ hưu, lần này vua đành thuận tình cho ông trí sĩ và phong cho hàm chức Đại học sĩ ở Viện Hàn Lâm, lại ban cho vàng bạc, lụa là rất nhiều để ông quy điền. Bấy giờ  nhằm ngày 10 tháng 10 năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625)

          Bồ Sơn về hưu được vài năm thì số nhân khẩu ở trang ấp tăng lên rất nhanh, số ruộng đất mới khai khẩn thêm rất nhiều, để một trang ấp thì quản lý không xuể, nên ông chia trang Gia Miêu thành hai trang: Gia Miêu Thượng và Gia Miêu Hạ.

Từ ngày Bồ Sơn về trí sĩ, hàng ngày người ta thường thấy ông ra đồng cày cấy cùng với con cháu và bà con trong ấp, đêm lại về quây quần cùng với họ uống trà, hóng gió ngắm trăng, truyện trò vui vẻ thân tình.

Đến ngày 14 tháng 11 năm Nhâm Thìn vào niên hiệu Khánh Đức 4 (1652) thời vua Lê Thần Tông, ông tự nhiên vô bệnh mà qua đời tại nhà riêng, hưởng thọ 78 tuổi để lại sự thương tiếc vô hạn cho con cháu trong nhà và bà con trang ấp. Họ làm lễ an táng ông với nghi lễ rất long trọng như con cháu đối với cha ông và họ làm sớ tâu về triều đình. Nhà vua nghe tin Bồ Sơn qua đời thì xúc động lắm, ngài liền ban cho ông (Ngự tứ) tên thụy là Phúc Hưu và phong cho làm phúc thần của làng cùng thần hiệu: BẢO QUỐC HỘ DÂN, KHAI CƠ KHẨN THỔ NHÂN ĐỨC CHI THẦN.

Tưởng nhớ Bồ Sơn là người có nhiều công lao với nước với dân, vua lệnh cho dân xã Gia Miêu xây đình, con cháu phúc thần – họ Đỗ xây từ đường để phụng thờ. Dân làng và con cháu lấy tên thụy hiệu Phúc Hưu dùng làm tên tự khắc vào bài vị khám thờ ở đình làng và ở trong từ đường họ Đỗ.

2. Nhà thờ Đức Thủy Tổ Đỗ Phúc Hưu

Nhà thờ Đức Thủy Tổ được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 52/2005/QĐ-UB ngày 07 tháng 01 năm 2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định.

Ngày 28 tháng 7 năm 2012, lần đầu tiên chúng tôi được về dâng hương tại nhà thờ Đức Thủy tổ. Khi đó anh em dòng họ Đỗ Phúc đang tiếp tục công việc trùng tu, tôn tạo nhà thờ. Cổng nhà thờ đang được xây mới rất bề thế, khang trang. Vì đây là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh nên Hội đồng gia tộc họ Đỗ Phúc phải xin cấp giấy phép mới được xây dựng cổng nhà thờ có quy mô như hiện nay. Theo lời kể của cụ Đỗ Phúc Hối, nhà thờ được xây dựng trên nền nhà ở của Đức Thủy tổ xưa kia. Ngày trước, đất quanh nhà thờ rất rộng, sau này bị thu hẹp dần lại. Tôi ước tính diện tích khuân viên nhà thờ hiện nay còn khoảng trên 200 m2 (diện tích nhà thờ 100 m2, nhà khách và khuân viên còn lại trên 100 m2).

Vào bên trong, chúng tôi thấy nhà thờ được bài trí giống như một ngôi đền, gồm nhiều ban thờ; các hoành phi, câu đối nói về công lao của Đức Thủy tổ được trang trí rất hài hòa, sinh động tạo nên sự uy linh, tĩnh tại và hết sức tôn nghiêm. Tôi xin được trích ra đây một đoạn bài viết của Tiến sĩ Mai Hồng mô tả về chùa Thiên Linh và nhà thờ Đức Thủy tổ như sau:

“… Về thăm Xuân Thượng chúng tôi được biết ngôi đình làng Gia Miêu ngày xưa hiện nay không còn nữa, tại đó chính quyền và nhân dân địa phương đã cho xây dựng Hội trường Ủy ban nhân dân xã.

Chúng tôi thới thăm ngôi chùa làng cổ kính có tên là chùa Thiên Linh (Thiên Linh tự), bước vào nhà đại bái nhìn về gian phía bên phải chính nơi thờ Đức Thành Hiền thì thấy án thư và cỗ ngai vàng của phúc thần Đỗ Phức Hưu (còn Đức Thánh Hiền được xếp ngự ở bên tòa Cửu Long Tam bảo) với đôi câu đối:

Hoàng thế như Xuân Trường thử địa;

Thần công tại thượng phúc tư dân

Nghĩa là:

Lúc thần tới đất Xuân Trường nọ;

Khi thánh công trùm xuống dân này

Chúng tôi tới thăm Từ đường họ Đỗ - nơi các hậu duệ của Đỗ Phúc Hưu phụng thờ tiên tổ. Khi vừa bước vào cổng chúng tôi được thấy câu đối liền trên cột trụ cổng từ:

Kiến lập hương thôn lưu phả nội;

Đồng dân khai khẩn hữu nhân thanh

Nghĩa là:

Kiến tạo thôn làng lưu phả họ

Cùng dân khai khẩn nức danh thơm

Bước vào sân, ngước lên mái nhà có bức đại tự 5 chữ: Khải xã Thủy tổ từ, nghĩa là Đền thờ Thủy tổ mở xã.

Bước vào trong nhà đọc tiếp câu:

Thượng thư thanh đức truyền gia phả

Khải Định vinh phong hà quốc ân

Nghĩa là:

Thượng thư đức sáng truyền gia phả

Khải Định tuyên dương nặng nước ân.

Một câu đối liền sau đây sẽ thấy rõ sự nghiệp lớn ở cuộc đời Đỗ Phúc Hưu: một là lập công trong chiến trận đánh giặc, hai là chiêu dân lập ấp mở làng:

Chiêu dân khẩn thổ tồn hương ấp;

Thảo tặc anh thanh chấn Bắc Nam.

Nghĩa là:

Chiêu dân mở đất xây làng xã;

Đánh giặc lẫy lừng khắp Bắc Nam.

Bài vị của Đức Thủy tổ trên cỗ khám thờ ở từ đường có ghi như sau:

Thủy tổ Thượng thư, Kinh lịch, Đại học sĩ Đỗ quý công tự Phúc Hưu, tỷ Từ Bà –linh vị.

Nghĩa là

Thủy tổ làm quan Thượng thư, Kinh lịch, Đại học sĩ Đỗ Quý Công tên chữ là Phúc Hưu và cụ bà là Từ Bà – linh vị…”.

3. Cụ Đỗ Phúc Hối – người nối liền huyết mạch dòng tộc

Cụ Đỗ Phúc Hối - hậu duệ đời thứ 16 của Đức Thủy tổ - nguyên trưởng ban liên lạc dòng họ Đỗ Phúc là người có công lao rất lớn trong việc phát huy, bảo tồn di tích lịch sử của dòng họ. Năm 1985, cụ nghỉ hưu và bắt đầu dành toàn bộ thời gian cho việc họ. Nhờ những mối quan hệ khi còn công tác tại Ban tổ chức tỉnh ủy Nam Định, cụ đã liên hệ với Cục lưu trữ quốc gia để có được cuốn Ngọc Phả ghi chép về công lao của Đức Thủy Tổ như hiện nay. Cũng chính cụ là người đã liên hệ với Viện Hán Nôm để nhờ dịch cuốn Ngọc Phả và các đạo sắc phong, từ đó đề nghị các cấp có thẩm quyền công nhận di tích lịch sử - văn hóa đối với Nhà thờ Đức Thủy Tổ.

Ngày 28 tháng 7 năm 2012 chúng tôi tổ chức chuyến đi về thăm Xuân Thượng, Hôm đó, khi về tới đầu làng, chúng tôi hỏi thăm mấy người lớn, họ chỉ lối vào nhà cụ Hối. Đi một đoạn, đang loay hoay chưa rõ lối nào thì nhìn thấy một cháu nhỏ, cháu chỉ ngay: “đường vào nhà cụ Hối đi đằng này”. Tôi nói với mọi người: “mình hỏi thăm từ đứa trẻ con bé tí đến người lớn tuổi ai cũng biết, chứng tỏ cụ Hối phải là một người rất gần gũi và có quan hệ rộng. Nhiều nơi hỏi thăm thế trẻ con làm sao biết được các cụ già”.     

Khi tới nhà, cụ Hối nói ngay: “tôi ra đón các anh từ đầu đường nhưng điện thoại mãi không được”. Lúc đó, tôi đã thấy một số anh em trong họ chờ sẵn để đón tiếp chúng tôi. Mặc dù đây là lần gặp nhau đầu tiên nhưng chúng tôi đều cảm nhận thấy một không khí thật ấm cúng, thân thiện như anh em một nhà.

Hơn một ngày ở Xuân Thượng, thời gian không nhiều nhưng tôi đã cảm nhận được từ cụ Hối và anh em trong gia tộc một tình cảm hết sức chân thành, nồng hậu. Qua câu chuyện kể của cụ Hối, tôi thấy dòng họ mình thật hạnh phúc khi có một người con như cụ. Khi về nghỉ hưu, cụ đã dành toàn bộ thời gian cho việc họ. Lúc đó, bản Phó ý của các chi được ghi bằng chữ Nho (chữ Hán Nôm), cụ đã triệu tập các cụ trong họ lại để dịch ra chữ quốc ngữ như hiện nay. Cụ nói rằng: “mình phải làm ngay việc đó, nếu không khi các cụ mất đi thì con cháu không biết đường nào mà lần nữa”.

Cụ đã tự tay lập sơ đồ (cây phả hệ) từ Đức Thủy tổ đến đời thứ 27 của dòng họ. Sơ đồ gốc được lập đến đời thứ 10, từ đây được phân thành 18 chi. Mỗi chi lại được lập một sơ đồ riêng; những chi phát triển mạnh có nhiều con cháu lại được tách ra làm nhiều cây nhỏ hơn. Để lập được cây phả hệ và điền tên các cháu mới sinh hàng năm vào sơ đồ là một công việc đòi hỏi một sự bền bỉ, nhiệt tâm không phải ai cũng làm được. Chúng tôi nói với nhau: “Nếu không có những người như cụ Hối chỉ đạo việc dịch Phó ý và lập cây phả hệ thì làm sao mà biết nguồn gốc cụ tổ mình ở đâu”.

Khi nhà thờ Đức Thủy tổ được cấp bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh thì cụ cùng cụ bà và các con cháu của cụ là những người tham gia nhiệt tình nhất, đã cùng toàn họ đứng ra lo liệu công việc tế lễ và hậu cần trong ngày đại lễ. Hôm về thăm Xuân Thượng, chúng tôi đã tận mắt thấy cụ bà và các con cháu của cụ đón tiếp chúng tôi với một tình cảm nồng hậu biết nhường nào. Tôi thấy gia đình cụ thật hạnh phúc: “Tứ đại đồng đường”, một nét văn hóa làng quê mà bây giờ không phải gia đình nào cũng có được.

Năm nay đã trên 80 tuổi nhưng cụ có một sức khỏe thật tuyệt vời ít người có thể bì kịp. Ngược lại với mái tóc đã bạc trắng là một thân thể tráng kiện, bước đi còn rất khỏe khoắn, nhanh nhẹn. Giọng nói, tiếng cười của cụ lúc nào cũng trầm ấm, mãn nguyện như chưa hề có biểu hiện của tuổi già. Đặc biệt là đôi mắt sáng, tinh anh, cụ đọc được cả những hàng chữ rất nhỏ mà không cần dùng đến kính. Hằng ngày, cụ vẫn đi xe máy khắp xã để lo cho việc họ và các công việc xã hội khác. Tôi thầm nghĩ có lẽ đó là nguồn ghen của một vị dũng tướng - Đức Thủy tổ đã truyền lại cho cụ để đến hôm nay dòng họ Đỗ Phúc có được những người con thật trung nghĩa vẹn toàn. Cụ đã làm tất cả những gì có thể để tôn vinh công lao Tiên Tổ và chắp nối con cháu xa gần…. Cụ thực sự là cây đại thụ để con cháu noi theo và chính cụ - người đã nối liền huyết mạch dòng tộc để các thế hệ hậu duệ của Đức Thủy tổ mãi mãi trường tồn và phát triển.

                                                             Việt Trì, ngày 27 tháng 9 năm 2012


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn