Thứ năm, 19/10/2017
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay464
mod_vvisit_counterHôm trước972
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (iếp theo) E-mail
28/04/2017

SUY NGHĨ

VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG

TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA

Tác giả: PGS Đỗ Tòng

-----------------

Kính dâng
TỔ TIÊN ĐẤT VIỆT VÀ LIỆT VỊ TIÊN TỔ HỌ ĐỖ VIỆT NAM
Lời mở đầu
Theo các nguồn sử liệu đang lưu hành ở nước ta, thì Việt Nam là một trong các nôi của loài người. Khảo cổ học đã chứng minh các giai đoạn người nguyên thủy sinh sống trên đất Việt cách đây hàng chục vạn năm. Tiếp đến là các hình thái tổ chức thị tộc, bộ lạc phát triển với những truyền thống kỹ thuật, văn hoá từ thời đồ đá cũ cách đây khoảng vạn năm (Văn hoá Sơn Vi) đến thời kỳ đồ đá giữa và đồ đá mới cách đây khoảng 7.000-10.000 năm (văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn,...). Dấu vết con người thời kỳ này được tìm thấy ở nhiều nơi, từ vùng núi đến vùng châu thổ đồng bằng, hải đảo; trên khắp đất nước đã nở rộ nền văn hoá nguyên thủy đặc sắc.
Cách đây 5.000-6.000 năm, cộng đồng các cư dân Việt cổ đã sinh tụ và phát triển trên một lãnh thổ rộng lớn. Sử sách nước ta và nước ngoài từ xưa và hiện nay đều xác định rõ niên đại của triều đại Hồng Bàng, với Quốc hiệu Văn Lang là từ năm 2.879 đến 258 trước Công nguyên, cũng được gọi là Kỷ Hồng Bàng, thời đại các Vua Hùng.
Thời kỳ này, nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, lúa nước đã khá phát triển với kỹ thuật đồ đồng, những trống đồng nổi tiếng mà hơn trăm năm qua đã tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước ta hiện nay và lãnh thổ nước Văn Lang xa xưa.[1]
Thành tựu khảo cổ học, chủng tộc học, v.v…về cư dân Việt cổ và vùng Đông Nam á, tuy đến nay vẫn còn là bước đầu, mới mẻ nhưng cũng đã chứng minh được phần nào những điều trên. Đặc biệt vui mừng là trong vài thập niên gần đây, nhiều chuyên gia trên thế giới và trong nước, đã có những thành tựu quan trọng chứng minh và khẳng định nền văn hoá tiền sử của cư dân Việt, văn hoá Văn Lang, tồn tại nhiều năm trước công nguyên.
Mặc dù vậy, song hầu như các sử liệu cho đến nay vẫn dựa chủ yếu vào các di tích văn hoá vật thể còn nghèo nàn, đơn sơ làm minh chứng. Các tài liệu thành văn, các di tích văn hoá phi vật thể (sử phả để lại dưới các hình thức ngôn ngữ) lại quá ít. Phần lớn các sách sử ở nước ta viết cách đây khoảng ngàn năm đều phản ánh lại, viết lại theo các truyền thuyết (đương nhiên truyền thuyết có giá trị nhất định của nó trong sử học) và tôi xin mạn phép nói là vẫn nặng về suy đoán chung (mặc dù có suy đoán khoa học, không phải đều sai cả). Còn chứng tích tư liệu thành văn về con người, xã hội ở thời kỳ này thì quá hiếm hoi.
Gần nghìn năm qua, khi nền giáo dục nước ta phát triển, nhất là khi triều đình phong kiến tổ chức bộ phận, cơ quan chăm lo viết sử nước, lập ra Quốc sử quán, các nhà trí thức, các nhà sử học bắt đầu quan tâm về tiền sử dân tộc mình, nhưng vẫn bị nhiều hạn chế về chủ quan và khách quan của thời đại họ và của lịch sử để lại. Có thể nói, hầu hết các tác phẩm văn học sử nước ta, nhất là dưới các triều đại phong kiến đều chịu ảnh hưởng nhiều của văn học sử Trung Quốc, vay mượn đề tài, cốt truyện, mô-típ(1) của Trung Quốc (thậm chí biến của Việt Nam thành của Trung Quốc và ngược lại. Hai tác phẩm “Việt Điện U Linh”(1) và “Lĩnh Nam Chích quái”([2]) được coi là hai tác phẩm văn học xa xưa nhất làm cơ sở viết về lịch sử thời Hồng Bàng nước ta, đều dẫn khá nhiều sách của Trung Quốc. Khi viết về thời kỳ này, sách sử nước ta cũng thường dẫn hai truyền thuyết là Phù Đổng Thiên Vương và Sơn Tinh, Thủy Tinh, được coi là những tư liệu, đầy tính thần thoại, cơ sở minh chứng về sự tồn tại của thời lịch sử xa xăm này.
Không phải chỉ có mong muốn của nhân dân ta mà nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu có tên tuổi ở nước ta từ xưa đến nay đều có tâm huyết muốn tìm hiểu ngược dòng lịch sử trở về thời tiền sử tổ tiên mình và đều biểu lộ rõ “lực bất tòng tâm”.
Phan Huy Chú, tác giả một bộ sử lớn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” ở nước ta đã phải viết: “Người xưa vẫn phàn nàn và cho rằng việc trước thuật là khó. Huống chi ngày nay, sách vở đã tản mát, muốn hiểu biết được cổ kim, phân biệt được việc hay việc dở, góp nhặt chữ nghĩa của thiên cổ để làm thành sách thông dụng cho đời thì đến bậc học rộng tài cao còn lấy làm ngại, nói chi người sức học tầm thường như ta” (lời tựa cho bộ sách trên).
Trần Trọng Kim, tác giả sách “Việt Nam sử lược” xuất bản tháng 10 năm 1919 (tái bản năm 1943, NXB Tân Việt) đã viết trong lời tựa: “Sử là sách không những là cái để ghi chép những công việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người ta đã làm, để hiểu cho rõ những vận hội, trị loạn của một nước, những trình độ tiến hoá của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của người trước đã phải lao tâm lao lực như thế nào, mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mát trời này.
Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước mình thì mới có lòng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái nền xã hội làm cho một nước độc lập, thì cũng có sử cả. Nước Nam ta khởi đầu có sử từ đời nhà Trần, vào quãng thế kỷ thứ 13. Từ đó trở đi nhà nào lên làm vua cũng trọng sự làm sử. Nhưng cái lối làm sử của ta theo lối biên niên của Tàu, nghĩa là năm nào tháng nào có chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào sách. Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy mà thôi, chứ không giải thích các gốc ngọn và sự liên can việc ấy với việc khác là thế nào.
Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử, cho nên dẫu thế nào sự chép sử cũng không được tự-do, thường có ý thiên vị về nhà vua, thành ra trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà vua, hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hoá của nhân dân trong nước. Vả lại, xưa nay ta vẫn chịu quyền chuyên chế, vẫn cho việc nhà vua là việc nước. Cả nước chỉ cốt ở một họ làm vua, cho nên sử đời nào cũng chỉ nói chuyện những vua đời ấy mà thôi. Bởi vậy xem sử ta thật là tẻ, mà thường không có ích lợi cho sự học vấn là mấy(1).
Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không mấy thạo sử. Là vì cái cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử nước mình. Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học sử Trung Hoa, chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn chương gì cũng lấy điển tích ở sử Trung Hoa, chứ chuyện nước mình là nhất thiết không nói đến. Người mình có lý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết để làm gì. ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người mà học, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hoá, chứ tự mình là không có cái gì là cái đặc sắc thành ra thật rõ như câu phương ngôn: “Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!”
Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?
Nhưng dẫu thế nào mặc lòng, nước ta đã có sử thì ta cũng có thể bởi từ đó mà biết được những sự đã qua ở nước ta. Và có thể bởi đó mà khảo cứu được nhiều việc quan hệ đến vận mệnh nước mình từ xưa đến nay xoay vần ra làm sao. Hiềm vì sử nước ta thì làm bằng chữ nho cả, mà chữ nho thì từ rày trở đi chắc là rồi mỗi ngày một kém đi. Hiện nay số người đọc được chữ nho còn nhiều, mà trong nước còn không có mấy người biết chuyện nước nhà, huống chi mai sau này chữ nho bỏ không học nữa, thì sự khảo cứu về những việc quan hệ đến lịch sử nước mình sẽ khó biết bao nhiêu!”
Cụ ứng Hoè Nguyễn Văn Tố, nhà nho học uyên thâm đã giữ chức Giám đốc Học viện Viễn Đông Bác Cổ, cũng đã viết: “ở nước ta, tài liệu để làm sử rất là ít ỏi: Thư tịch, cổ tích không còn mấy.... Phần nhiều chỉ chép các triều vua mà đến triều vua chép cũng không được minh bạch, khúc triết...”
“...chẳng qua chỉ dựa vào những quyển trước, quyển nọ chép theo quyển kia; từ cái niên biểu (chronologic) cho đến những việc lớn trong lịch sử, không thấy căn cứ vào đâu cả...”
“... Đã bàn đến triều vua thì vì lẽ gì lại bỏ việc dân? Dân mới là cái nguồn gốc của văn hoá, lực lượng của đất nước, phẩm giá của thời đại. Muốn biết cái phẩm giá ấy, cần phải biết lịch sử tiến hoá của dân...” (Trích tạp chí Tao Đàn số 1/3/1939 với đầu đề bài “Đã đến ngày viết lại quyển Nam sử chưa? Tác giả ứng Hoè Nguyễn Văn Tố [Tao Đàn 1939, tập I, Nxb Văn học, HN 1998, tr. 37].
Cuốn “Lịch sử Việt Nam” tập I do Giáo sư Viện sỹ Nguyễn Khánh Toàn nguyên Chủ nhiệm ủy ban khoa học xã hội đầu tiên của nước ta chủ biên và NXB Khoa học Xã hội in năm 1971 tại Hà Nội, trang 62, cũng vẫn còn tỏ ra phân vân về “con số 18 đời Vua Hùng Vương chưa hẳn là chính xác” và “việc nghiên cứu thời đại các Vua Hùng đã thu được một số kết quả, nhưng chỉ là bước đầu. Nhiều câu hỏi đặt ra vẫn chưa trả lời được dứt khoát”.
Hầu như cho đến nay tất cả sách viết về thời tiền sử (thời thượng cổ) nước ta, kể cả sách sử giáo khoa, nói chung vẫn như hàng trăm năm về trước.
Người viết bài này rất tâm đắc với suy nghĩ của các bậc tiền bối. Ngay từ hồi còn nhỏ tuổi, được học lịch sử nước nhà, cho đến cuối đời vẫn chưa khỏi băn khoăn về các truyền thuyết thời tiền sử, cảm thấy có nhiều điều thực thực, hư hư, vừa thực vừa hư, vừa hư vừa thực, muốn tìm hiểu để tự giải đáp nhưng cho tới gần đây vẫn không vượt qua được nhận thức cơ bản được học ở nhà trường, đọc trên các sử sách lâu nay về tiền sử đất nước.
Gần chục năm qua, cũng như nhiều hậu duệ của Tổ tiên các dòng họ, họ Đỗ - Việt Nam tôi đã dành thời gian, công sức tìm hiểu cội nguồn. Từ đó đặt ra vấn đề là phải lục tìm trong các nguồn tư liệu lịch sử Việt Nam, đồng thời bỏ ra không ít thời gian đi khảo sát thực tế, tìm hiểu gia phả các dòng họ, các tư liệu thư tịch cổ (ngọc phả, thần phả, sắc phong,...) ở các nhà thờ, đình, chùa, miếu mạo. Điều đầu tiên chúng tôi thấy nuối tiếc, xót xa vì rất nhiều tư liệu, di tích cũ trong dân gian đã bị bọn xâm lược thống trị cướp đi, hoặc bị mai một theo thời gian (bị giặc đốt cháy mất qua các cuộc chiến tranh, bị hư hỏng do khí hậu nhiệt đới ẩm) và do cả một thời gian dài đặc biệt từ thời kỳ Pháp thuộc, Nho học không phát triển, không ít nơi con cháu do thiếu nhận thức về giá trị của nó đã biến các sách chữ Hán Nôm thành vật liệu xây dựng hoặc dùng vào những việc rẻ rúng khác. Mặt khác, có lẽ là mặt chủ yếu và điều thật đáng tự hào là còn khá nhiều gia đình dòng họ, làng xã vẫn cất giữ chu đáo, trân trọng các thư tịch cổ với ý thức rất sâu sắc, đó là di vật của Thánh hiền, của Tổ tiên. Vì thế nhất thiết phải tuân theo những thủ tục bắt buộc: không được phép tùy tiện bất cứ lúc nào, nếu không phải là ngày lễ trọng; chỉ có những người có vị trí quan trọng, có uy tín trong dòng họ, trong làng xã, trước đó phải tắm rửa sạch sẽ (có khi còn phải qua xin âm dương các vị Tổ tiên, Thánh thần) mới được phép mở từ trong các hòm cất giữ, hoặc được giao phó đọc trước cộng đồng.
Nhờ chính sách đổi mới của đất nước, ước lệ giữ kín, bảo quản ngặt nghèo các thư tịch cổ trong làng xã, các dòng họ hiện nay đã có sự thay đổi. Đặc biệt là từ khi có phong trào “Hướng về cội nguồn”, viết phả, tìm hiểu các thế hệ ông cha về trước, nên việc nghiên cứu các tư liệu đó được rộng rãi hơn. Chúng tôi có dịp tiếp xúc với các gia phả, ngọc phả, thần tích còn lưu giữ trong các gia đình, tộc họ, làng xã ở nhiều nơi. Hoặc may mắn hơn còn có thể được mượn để sao chụp, dịch ra Việt ngữ và nghiên cứu thuận lợi, điều mà cách đây vài chục năm về trước không không thể có điều đó được.
Có thể nghĩ rằng, kho báu thư tịch cổ về tổ tiên xa xưa còn không ít trong các gia đình, các đền thờ, đình chùa, miếu mạo, nhất là ở những vùng phát tích, sinh tụ của người Việt cổ trên đất nước ta. Do bị hạn chế bởi các điều kiện chủ quan và khách quan, chúng tôi mới chỉ có trong tay một số tư liệu, thư tịch thành văn mà các gia đình, các làng xã còn giữ được,(giới thiệu cụ thể ở phần sau và có mục lục tóm tắt ở phần cuối sách này).
Khi trực tiếp đọc, tìm hiểu nghiên cứu các tài liệu quý này, chúng tôi thấy rằng đây là những văn bản Hán-Nôm, văn chương không cầu kỳ, nội dung tả chân thực, ít thần thoại. Hầu hết các tài liệu đó đã không chỉ ở mức tam sao thất bản mà đã nhiều lần có sự sao chép lại về sau, khó tránh khỏi có chỗ sai lệch về nội dung sao chép, hoặc sai, sót khi dịch thuật; cũng có thể còn do ý chủ quan ghi thêm vào về địa danh, niên đại thời của người sao chép, hoặc dịch từ ngữ Hán, nhất là chữ Nôm sang ngữ Việt có nhiều chỗ khó dịch hoặc dịch chưa chính xác so với tư liệu gốc, với thực tiễn đương thời được mô tả trong văn bản. Tuy vậy, chúng tôi vẫn tin đây không thể là những tài liệu ngụy tạo hoặc đó là tiểu thuyết hư cấu (mặc dù có những đoạn, những người sợ phạm huý, viết tránh né, hoặc có sự truyền thuyết hoá, thần thoại hoá). Bởi lẽ khó có thể có người nào, về sau lại có thể tự mình suy diễn phản ánh lịch sử xa xưa khá rõ ràng (xét trên bình diện như là vẽ một bức tranh tổng quát thời tiền sử) trong cả một thời gian lịch sử dài mấy nghìn năm, với không gian tồn tại và hoạt động của những con người lịch sử trong cả một lĩnh vực đất đai cổ xưa rộng lớn hơn địa giới Việt Nam ngày nay. Cụ thể hơn là, hầu hết tên đất, tên người (tên hiệu...), ngày mất (ngày kỵ), mồ mả, nơi thờ tự... ghi chép trong các tư liệu đó được hiện ra như là những con người bằng xương bằng thịt, con người thật và không ít chứng tích, đền miếu, mồ mả vẫn còn tới hiện nay. Chính từ cơ sở đó đã chỉ dẫn giúp chúng tôi tới thăm tại chỗ và ghi được một số hình ảnh chứng tích. Một số bản đồ xa xưa còn lại trong Thư viện quốc gia ở Hà Nội làm rõ thêm những tư liệu đó. Nhiều tư liệu còn ghi tên tuổi người sao chép, thời đại sao chép.
Một điều thú vị là ngôn ngữ thể hiện trong các tư liệu đó là ngôn ngữ Việt cổ. Chẳng hạn các chức danh như: chủ trưởng, vua cả, nhà làng, quan lang, động chủ, chúa động, sơn quân, vua núi, đế, v.v...khác với ngôn ngữ về chức danh thường thấy trong các sử sách Trung Quốc thời xa xưa như: thủ lĩnh, hoàng đế, chư hầu...Cũng có chỗ trong các tư liệu đó sử dụng các từ: Vua chúa, hoàng đế...thì có thể là do người về sau đưa vào theo cách dùng tên gọi tương tự của Trung Quốc.Đặc biệt là sử sách Trung Quốc đến nay vẫn xếp các vị Phục Hy, Thần Nông vào thời Cổ thần thoại, chứ không phải là con người thật (có tên, tên hiệu, chức danh, công trạng, mồ mả, ngày kỵ; vợ của các vị đó cũng vậy) như trong các tư liệu ở ta mới tìm thấy gần đây.
Qua sự trình bày trên đây, chúng tôi thấy có thể bước đầu giải đáp được phần nào hợp lý nhiều câu hỏi về các khoảng trống trong thời tiền sử nước ta nhất là từ thời nhà nước Âu Lạc trở về trước tức là Kỷ Hồng Bàng, các Vua Hùng. Có thể nêu lên những khoảng trống đó là:
- Phục Hy, Thần Nông có thật hay là thần thoại ? ở vùng đất nào ? Kinh dịch Phục Hy có phải là sáng tạo của người Việt cổ và có trước Chu dịch ?
- Thời kỳ trước khi nhà nước mang Quốc hiệu Văn Lang là gì? Tại sao ta lấy mốc nước ta bắt đầu từ Văn Lang do Lạc Long Quân và Âu Cơ lấy nhau, sinh ra một bọc 100 trứng? Nước Xích Quỷ trước đó là thế nào?
- Thời Hùng Vương tồn tại 2.622 năm với 18 đời vua như ta biết hiện nay thì giải thích thế nào? Khi nào có tên gọi là Hùng Vương ?
- Kinh đô thời Hồng Bàng đầu tiên ở đâu ?
- Các mộ Vua Hùng ở đâu ? Nơi có đền, lăng Vua Hùng ở Phú Thọ thuộc giai đoạn nào ?
- Bản đồ cũ nước Văn Lang trong “Truyện về họ Hồng Bàng” có địa vực khá rộng, vì sao các sách sử của ta thường chỉ nói có 15 bộ trong địa giới từ Quảng Đông – Quảng Tây đến miền Bắc hiện nay?
- Các nhân vật lịch sử từ trước và trong thời Hùng Vương, truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh, Thủy Tinh... có phải là con người thực hay chỉ là thần thoại ?
- Có hay không chữ viết của người Việt cổ ?
- V.v...và v.v…
Vốn không phải là người chuyên sâu về sử học và cũng không có tham vọng nghiên cứu sâu hơn những điều đặt ra trên đây. Hơn nữa thực tế tài liệu, tư liệu về thời kỳ tiền sử nước ta rất nghèo nàn hiếm hoi; sự hiểu biết về thời kỳ này trong giới sử học và nhân dân ta cũng rất hạn chế, mới chỉ là sơ lược bước đầu. Cho nên, với một số tài liệu sẽ giới thiệu ở phần sau cũng không thể giải đáp được mọi vấn đề mà đòi hỏi sự nghiên cứu công phu, nhiều thời gian, nhiều thế hệ hiện nay và mai sau của nhiều ngành khoa học như sử học, xã hội học, khảo cổ học, chủng tộc học, v.v...mới hy vọng làm rõ vấn đề một cách khách quan khoa học, bổ sung vào lịch sử nước nhà.
Giới thiệu những tư liệu trên coi như là đặt ra một giả thuyết mới, để tiếp tục nghiên cứu về thời kỳ tiền sử nước ta.
Xin mượn lời người xưa thay cho nỗi lòng mình, khi cho ra mắt bạn đọc cuốn sách này, mong được bạn đọc chia sẻ sự cảm thông. Trong tác phẩm “Kiến Văn Lục Tự 4”, Nguyễn Tử Kính đã viết: “Tâm ta suy nghĩ thì vô cùng, mà phạm vi nghe nhìn của tai mắt thì hữu hạn. Bên trong nhiều lớp rèm thì Ly Lâu không thi thố được độ sáng của đôi mắt. Xa ngoài trăm bước thì Sư Khang không sử dụng được đôi tai thính của mình. Huống hồ trời đất rộng lớn, cổ kim xa cách, mà ta đem cái bản thân nhỏ nhoi để tiếp xúc thì được là mấy. Nghe những điều nghe được mà không nghe những điều nghe được, thấy những điều thấy được mà không thấy những điều thấy được. Buồn thay! (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán-Việt Nam, tập 1, trang 12).
* * *
[1] Theo Khảo cổ học thì ở Việt Nam lúa nước đã có từ 10.000 năm về trước và đồ đồng đã phát triển khoảng cách đây 5.000 năm.

(1) Mô-típ nghĩa là mẫu hình.

(1) “Việt Điện U Linh” do Lý Tế Xuyên (xem Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam - tập 1, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nhà XB Thế giới, Hà Nội 1997, trang 53-91). Tập này, ông soạn từ sách sử Trung Quốc, và chính ông viết bài Tựa năm 1329, đời Trần Hiến Tông, Khai Hựu năm thứ nhất. Ông làm tới chức Thư hoả Chánh chưởng, sau đổi tên là Nội mật viện. “Việt Điện U Linh tập” là một tập các truyện u linh của đất Việt; “U linh” đây không chỉ có linh hồn những anh hùng đã khuất mà còn cả các thần linh được người Việt tôn thờ vì những thần linh này rất tài ba, chính trực, luôn phù trợ dân Việt, đó là chỗ dựa quan trọng về mặt tinh thần, nhất là trong những thử thách gay go của lịch sử.

([2]): “Lĩnh Nam chích quái liệt truyện” (“Lĩnh Nam” là miền đất ở phía nam núi Ngũ Lĩnh, đó là địa vực rộng lớn, là nơi phát tích và sinh tụ của Người Việt) - (xem bản đồ Văn Lang ở phần phụ lục). Tập này bao gồm những chuyện dã sử, có tính chất dân gian, được sưu tầm trên đất nước Việt cổ xưa, do Vũ Quỳnh tập hợp, hiệu đính, chỉnh lý và viết lời tựa, năm Hồng Đức 23 (1492) đời Lê Thánh Tông. (Vũ Quỳnh 1453-1516, hiệu Đốc Trai và Trạch ổ, người làng Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương, đỗ Hoàng giáp năm 1478, làm Quốc Tử Giám tư nghiệp, Sử quán tổng tài).
Trong tập này có “Hồng Bàng thị truyện”(tức là Truyện về họ Hồng Bàng) nói đến các nhân vật từ Đế Minh đến Lạc Long Quân và Âu Cơ, có nêu rõ địa vực nước Văn Lang, biên giới và nước tiếp giáp, (xem Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán VN, tập I, trang 145-184).

(1) Những chữ đậm nét là do người sưu tập sách này.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn