Thứ năm, 19/10/2017
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay464
mod_vvisit_counterHôm trước972
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA E-mail
09/05/2017

SUY NGHĨ  V NHNG KHONG TRNG  TRONG THI KỲ LCH S NƯỚC TA (Tiếp theo)

Tác giả: PGS Đỗ Tòng


 

 Phần  một


Một số tài liệu, thư tịch về thời kỳ tiền sử Việt Nam

Để rộng đường dư luận và nghiên cứu, nhất là để bạn đọc có thể tiếp cận tài liệu một cách khách quan như vốn có, chúng tôi  giới thiệu trung thực nội dung của các tài liệu, kể cả có chỗ trùng lặp, vì để bạn đọc thấy có những tài liệu khác nhau ở các nơi khác nhau cùng viết về một vấn đề; nhiều chỗ sao chép lại gần như nguyên văn (bản đã dịch); về ngôn ngữ, thuật ngữ có chỗ khó hiểu, thậm chí còn nghi ngờ, v.v…Chúng tôi không có ý hệ thống lại hoặc trình bày, bố cục nội dung vấn đề theo cách hiểu của mình. Cũng chính vì muốn để bạn đọc qua hết phần này, tự mình tìm hiểu, suy nghĩ và tự hệ thống về thời kỳ tiền sử đất nước? Nếu có ý chủ quan  của người giới thiệu thì chỉ là: chú giải những chỗ thấy cần thiết; xếp thứ tự trước sau trong phần này, nhưng cố gắng không để lẫn lộn với nội dung vốn có của tài liệu và có ghi rõ đó là phần của tác giả. ý định của việc giới thiệu chưa phải là việc bình phán đi vào chi tiết những chỗ sai về thuật ngữ, về địa danh...mà chủ yếu để bạn đọc nhìn tổng quan về thời kỳ lịch sử  xa xưa của đất nước từ những tài liệu dưới đây.
Tài liệu thư tịch cũ nêu ở Phần Một trong sách này tìm được ở một số nơi lưu giữ, trong đó nhiều bản (nhất là ở gia đình ông Nguyễn Vân Tằng hiện ở thôn Vân Nội, xã Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây). Đó là những tư liệu thành văn về thời tiền sử, thời các vua Hùng, do các thế hệ trước để lại.
Từ thời xa xưa, dòng họ Nguyễn Vân này cha truyền con nối kế tiếp nhau làm trưởng tộc Bách Việt. Hiện nay ông Nguyễn Vân Tằng vẫn quản lý nhà thờ Thiệu Tổ Bách Việt lo phụng tự, lễ giỗ các vị tổ tiên Bách Việt. Qua các triều đại mấy nghìn năm qua, các trưởng tộc này đều được phong tước như:
Thời Bắc thuộc: Giao Chỉ Quận vương.
Thời Đinh: Quốc Công.
Thời Lý: Quốc Công.
Thời Trần: Quốc Phụ.
Thời Lê và thời Nguyễn: Hương Quận Công.
Chức tước của các vị này chủ yếu làm nhiệm vụ: hằng ngày chuyên về quản lý các nơi thờ tự, các sư sãi, lo cúng giỗ, lễ tết ở Nam Thiên thất thập nhị từ (72 đền thờ), là nơi tập trung thờ Tổ tiên Bách Việt, chăm lo tu sửa vùng đất tổ trở thành “Thiên đường của trời Nam”. Đến thời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về sau này là nơi quản lý Bách thần. Chức tước này không được tham dự triều chính. Nhưng các triều đại xưa, mọi luật lệ mới ban hành đều được trưởng tộc (con trưởng) Bách Việt phê duyệt. Lệ là vậy, nếu vua nào không làm như thế sẽ bị trăm họ ghét bỏ. Càng về sau, khoảng vài trăm năm lại đây và nhất là từ khi Pháp xâm lược và thống trị nước ta, lệ này và vai trò của trưởng tộc Bách Việt càng giảm và bị lu mờ dần. Thực tế, đến thời kỳ sau cách mạng tháng Tám (1945) vị trí vai trò của các vị trưởng tộc chỉ còn là trưởng tộc phụng sự nhà thờ họ Nguyễn, mặc dù tên từ đường ở đây vẫn là nơi thờ tiên tổ Bách Việt và thường lệ giữ lễ cúng tổ tiên Bách Việt đều đặn theo truyền lại từ các thế hệ trước.

* * *






I
Cổ Lôi((1) Cổ Lôi theo tiếng Việt cổ là Kẻ Lói, tên chữ là Cổ Lôi. Đây là vùng đất trải dài từ núi Ba Vì, núi Vua Bà (Viên Nam) tới tận hữu ngạn sông Tích (gồm cả phần Hòa Bình , Hà Tây....ngày nay).Nhiều làng ở vùng này vẫn mang tên Lôi như : Hạ Lôi, Vân Lôi, Phấn Lôi, Trạch Lôi,v.v...
1) Ngọc Phả Truyền Thư

Về vị:  Hư không Giáo chủ Đế Thiên (tức Phục Hy)
Từ Tây vực giáng trần, đạo làm thuốc còn lờ mờ, đến Nam Châu (nước ta) làm rõ giáo hoá để dân bớt chìm trong bến mê.
Từ núi Trầm được khai thông đến núi Tiên Lữ
Nhờ ruộng tốt, đất mầu mới giữ được dân lành.
Chúa núi trăm bộ cùng góp sức
Năm phương xin yết kiến vua: giúp dân
Lẫm liệt nghìn thu nên chính khí.
Lâu bền đọng lại công lao của Vua.
Đức độ nghiêm chỉnh đọng ở cuối phương Bắc
Tiếng thơm truyền lâu được giữ gìn, kính cẩn nổi bật ở nước Nam
Chính khí thụ lại trang nghiêm từng trải nơi gò núi
Lẫm liệt thật thiêng liêng xuyên suốt thời gian.
Thủa khai thiên lập địa, tổ tiên ta sinh cơ lập nghiệp ở miền Tây (Tây vực). Thủy chung đã 7 nghìn năm rồi. Núi có “nhà hang đá” (thạch thất). Rừng có vô vàn cây cối phồn tạp, đủ hoa thơm cỏ lạ tốt tươi, đẹp đẽ. Đất rộng bao la. Nhà cửa thôn xá đâu đấy. Ruộng đất mỡ mầu, lắm dâu biếc tre xanh. Dân cư sum họp, thịnh vượng. Nhân vật luôn luôn không thiếu. Muôn đời tôn xưng người đứng đầu (chủ trưởng) là “Phục Hy Vua Cả”. Tên nước là “Cực Lạc”. Đóng đô ở đó. Từ đấy về sau, cày cấy (lấy gạo), đào giếng (lấy nước) nên gọi là Họ PHụC HY (Phục Hy thị).
Ngày giỗ tại miếu Hy Sơn là mùng 1 tháng Tư (âm lịch). Vua đứng đầu tôn là Hư Không Giáo chủ đại từ đại bi.
Cuối đời Phục Hy, nước dâng mênh mông, thành nạn đại hồng thủy((1) Theo khảo cổ học, cách đây khoảng 5000 năm biển tiến, nước dâng cao 4 mét so với ngày nay.1). Người quản nô trẻ tên là Hiên Viên dấy binh làm phản. Con trai là Viêm Đế phải lánh nạn ở bộ Vũ Linh thị Thổ Long (chợ Rồng đất), huyện Chương Mỹ. Đến khi khôn lớn, Viêm Đế mời hội đồng trăm bộ Vua Núi (Sơn quân) đem quân đuổi gian nô Hiên Viên ra khỏi bờ cõi. Sau đó, Ông thừa kế sự nghiệp của tổ tiên, lên ngôi Vua sáng, thi hành chính nhân, dân chúng một mực kính yêu.
Từ miền Tây Phương trở xuống, lấy ngọn Phương Lĩnh trầm đỉnh làm chính, sau đến núi Đỉnh Linh Sơn, Tiên Lữ cùng dãy với ngọn Phong Châu làm thành một giải. Viêm Đế đem đất đai chia cho dân nghèo. Cả thảy gồm 70 dặm, thuộc 65 ấp. Lại nói Viêm Đế thường dùng cây lá thảo dược để chữa bệnh cứu dân. Do vậy suốt 400 năm đều tôn gọi Ông là Vua Thần Nông.
Mộ Ông táng ở phía Tây Phương - Đình Sở Khê - Tiên Lữ - Phượng Châu. Giỗ Ông vào ngày mùng 1 tháng  Sáu. Về sau con cháu từ ngôi Đế Quý Công, Sở Minh Công đến ngôi tiên đế, Đế Tiết Vương đều để lại Phong Châu. Rồi sau này mới đổi ra Quang Lãm, Châu (châu nghĩa là đất bãi) Thanh Trì.  Sau nữa mới nhập vào Thanh Oai.
Tới Sở Minh Công kế nghiệp sinh 4 trai((1) Các tài liệu đều nói Sở Minh Công sinh ba con trai; còn một vị gọi là  Đệ tam thúc phụ Nguyễn Nỏ, Thái sư, có được nói đến sơ qua ở một vài chỗ. Ông này chính là Long Cảnh con thứ ba của Minh Công.1) Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân, Nguyễn Long Cảnh (Lý Cảnh), đệ tam thúc phụ Nguyễn Nỏ, quan Thái sư, chia đất nước thành 3 vùng đất có 3 chủ hiệu chung là Xích Quỷ((2) Theo chữ Hán, chữ Quỷ là do 3 chữ Vương ghép lại mà thành.2), kinh đô là Phong Châu, người đứng đầu: Kinh Dương Vương làm chủ, là thần của 3 nước.
Buổi đầu Nam Việt có Kinh Dương
Thống nhất sơn hà mười tám vua
Hơn trăm hệ truyền từ xưa đó
Muôn năm hương hoả, muôn năm (còn tiếng) thơm.

Tự Đức, nguyên niên (1848), ngày 15 tháng Giêng, người đứng đầu Bách Việt: Thái Bảo Hương quận công Nguyễn Vân Chí phụng sao.

* * *




II

mộ  và miếu lộ thiên
thờ thần nông chính thất, huý tiên lữ
(Bà Tiên Lữ, vợ cả của vua Thần Nông)

Ngày giỗ 29 tháng Chín âm lịch (tư liệu này hiện tại ở miếu làng Tiên Lữ, hiện nay gọi là Tiên Sơn, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, tục xưa vốn gọi là làng Sở).
Nguyên bản chữ Hán:




Phiên âm:
Tự thiên hữu hạ, Duy nhạc giáng Thần,
Thượng hạ, cảnh tượng trùng tân;
Nhất tuần thiên thu chính khí
Trác giáng tả hữu thiều huân cổ miếu.
Trịch trịch tự điển, phần phần ân triêm.
Tiên lĩnh lạc đồng nhân;
Miếu mạo như cổ,
Thảo mộc giai tân.
        Hoàng triều Canh Ngọ tu sức.

Tạm dịch:
Từ Trời khánh chúc,
Núi Nhạc giáng Thần.
Một vùng cảnh tượng lại tươi.
Một tuần chính khí nghìn thu,
Đôi bên công đức vẫn ngời.
Miếu cũ còn ghi điển lễ,
Hương xưa vẫn đượm lòng dân.
Núi Tiên vui cùng người,
Miếu đền vẫn đó,
Hoa thảo xanh tươi.

(Hoàng triều,  năm Canh Ngọ  tu sức lại)
*
bài vị của miếu

 (hiện ở xóm Đồng, thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương,
huyện Chương Mỹ, Hà Tây.)

- Nguyên chữ Hán(tên thần chủ):


- Phiên âm:  Bắc phương Trung Vũ Lữ Đại Vương
- Dịch nghĩa: Đức Trung Vũ Lữ Đại Vương trấn giữ phương Bắc.
-Nguyên bản chữ Hán (nội dung):





- Phiên âm: 
Đức Bị nghiêm ngưng thùy bắc lý
Danh lưu Dực bảo hiển nam bang
Nghiêm ngưng chính khí lăng cương phụ
Lẫm liệt chân linh quán cổ kim
- Dịch nghĩa:            
Đức độ dự sẵn mạch đọng che rủ phương Bắc
Tiếng tăm lưu lại giữ gìn vinh hiển đất Nam
Chính khí mạnh mẽ tích đầy bờ cõi
Chân linh lẫm liệt suốt xưa nay.
*
Câu đối ở Miếu

1/ Hai câu 1:               
- Chữ Hán và phiên âm:   
     
Tam quang dương diệu Thiên sinh đức,



Lưỡng đại chung anh Nhạc giáng thần.
- Dịch:        Ba nguồn sáng láng Trời sinh đức,
            Đôi cõi anh linh Núi giáng thần.
2/ Hai câu 2:
- Chữ Hán và phiên âm :

         

Hồng Lĩnh nguy nga thiên cổ miếu,

 

Hồng Giang hoán diệu nhất phiên thần.

- Dịch:     Ngàn Hống nguy nga nghìn năm miếu,
        Sóng Hồng biêng biếc một phiên thần.
3/ Hai câu 3:
- Chữ Hán và phiên âm: 



Nhất thốc sùng từ thiên nhật nguyệt



Thiên thu quang nhạc địa sơn hà

- Dịch:    Một ngôi miếu cổ soi nhật nguyệt,
        Muôn thuở núi non giữa sơn hà.

4/ Hai câu 4:    
- Chữ Hán và phiên âm:


Kình thiên ngưỡng lập văn minh giới.



Đắc địa cao tiêu vũ miếu gian.

- Dịch:         Chọc trời vươn thẳng giữa văn minh,
            Xứng đất nêu cao ngôi cổ miếu.

* * *





 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn