Thứ ba, 22/08/2017
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay595
mod_vvisit_counterHôm trước1319
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo) E-mail
13/06/2017

SUY NGHĨ  V NHNG KHONG TRNG  TRONG THI KỲ LCH S NƯỚC TA (Tiếp theo)

Tác giả: PGS Đỗ Tòng

 

 

Tiếp PHẦN I (II & III)

II

mộ và miếu lộ thiên
thờ thần nông chính thất, huý tiên lữ
(Bà Tiên Lữ, vợ cả của vua Thần Nông)

Ngày giỗ 29 tháng Chín âm lịch (tư liệu này hiện tại ở miếu làng Tiên Lữ, hiện nay gọi là Tiên Sơn, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, tục xưa vốn gọi là làng Sở).
Nguyên bản chữ Hán:

Phiên âm:
Tự thiên hữu hạ, Duy nhạc giáng Thần,
Thượng hạ, cảnh tượng trùng tân;
Nhất tuần thiên thu chính khí
Trác giáng tả hữu thiều huân cổ miếu.
Trịch trịch tự điển, phần phần ân triêm.
Tiên lĩnh lạc đồng nhân;
Miếu mạo như cổ,
Thảo mộc giai tân.
Hoàng triều Canh Ngọ tu sức.

Tạm dịch:
Từ Trời khánh chúc,
Núi Nhạc giáng Thần.
Một vùng cảnh tượng lại tươi.
Một tuần chính khí nghìn thu,
Đôi bên công đức vẫn ngời.
Miếu cũ còn ghi điển lễ,
Hương xưa vẫn đượm lòng dân.
Núi Tiên vui cùng người,
Miếu đền vẫn đó,
Hoa thảo xanh tươi.

(Hoàng triều, năm Canh Ngọ tu sức lại)
*
bài vị của miếu

(hiện ở xóm Đồng, thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương,
huyện Chương Mỹ, Hà Tây.)

- Nguyên chữ Hán(tên thần chủ):

- Phiên âm: Bắc phương Trung Vũ Lữ Đại Vương
- Dịch nghĩa: Đức Trung Vũ Lữ Đại Vương trấn giữ phương Bắc.
-Nguyên bản chữ Hán (nội dung):

- Phiên âm:
Đức Bị nghiêm ngưng thùy bắc lý
Danh lưu Dực bảo hiển nam bang
Nghiêm ngưng chính khí lăng cương phụ
Lẫm liệt chân linh quán cổ kim
- Dịch nghĩa:
Đức độ dự sẵn mạch đọng che rủ phương Bắc
Tiếng tăm lưu lại giữ gìn vinh hiển đất Nam
Chính khí mạnh mẽ tích đầy bờ cõi
Chân linh lẫm liệt suốt xưa nay.
*
Câu đối ở Miếu

1/ Hai câu 1:
- Chữ Hán và phiên âm:

Tam quang dương diệu Thiên sinh đức,

Lưỡng đại chung anh Nhạc giáng thần.
- Dịch: Ba nguồn sáng láng Trời sinh đức,
Đôi cõi anh linh Núi giáng thần.
2/ Hai câu 2:
- Chữ Hán và phiên âm :

 

Hồng Lĩnh nguy nga thiên cổ miếu,

 

Hồng Giang hoán diệu nhất phiên thần.

- Dịch: Ngàn Hống nguy nga nghìn năm miếu,
Sóng Hồng biêng biếc một phiên thần.
3/ Hai câu 3:
- Chữ Hán và phiên âm:

Nhất thốc sùng từ thiên nhật nguyệt

Thiên thu quang nhạc địa sơn hà

- Dịch: Một ngôi miếu cổ soi nhật nguyệt,
Muôn thuở núi non giữa sơn hà.

4/ Hai câu 4:
- Chữ Hán và phiên âm:

Kình thiên ngưỡng lập văn minh giới.

Đắc địa cao tiêu vũ miếu gian.

- Dịch: Chọc trời vươn thẳng giữa văn minh,
Xứng đất nêu cao ngôi cổ miếu.

* * *

 

 

III

Trích Bách Việt (1) Tộc phả
(Mật không đưa ra ngoài)

Kính trọng tưởng nhớ tới:
Tiên tổ có công với nước, có đức cứu dân tiếng thơm lưu truyền ghi bia đá cao vời vợi. Nhà Đinh hết đời này sang đời khác, phát tích một vùng nước rộng Hoa Lư, Cẩm Bình, nối liền hai thế đất bằng phẳng rộng rãi trên núi, nguồn nước kéo dài. Từ đó vua ở Hoa Lư, Nghĩa Lĩnh là đất kinh đô.
Đường đi trên núi sáng sủa rõ ràng cách xa rồi vậy. Lịch sử thời đại không quên, nhớ lại điều đã qua của tổ tiên chúng ta. Rượu bày để tế lễ ba tuần, kính thành hai chữ vốn bày lễ vật, soi xét lòng thành, ban cho điều phúc, điều may mắn, khiến cho trong họ hàng hưng vượng, đinh nhiều của lắm, thêm sự giầu sang, thờ cúng một, lòng coi làm trọng vậy. Cho nên 100 chi (nhánh) cao cao tằng tổ khảo, cao cao tằng tổ tỷ, chú bác, anh em, cô dì, chị em các vị có tên.
Kính xin:
Ông tổ đầu tiên: Kinh Dương Vương quốc chủ, tự Phúc Lộc, trời sinh cao quý không lường được.
Thứ hai: Lạc Long Quân quốc chủ, tự Phúc Thọ. Phật sống lâu không lường được.
Thứ ba: 18 Vua Hùng quốc chủ, hiệu 18 Long Thần Già Lam (một ông quản tu đạo thành tiên), 100 bộ Đức Ông đều lấy hiệu Khang Ninh: 50 thần nước, 50 thần núi, tự là 100 thần sông núi.
Thứ tư: Phù Đổng Thiên Vương quốc chủ, tự Thánh ánh Sáng, hiệu Phúc Quang (tên Cương).
Thứ năm: Tản Viên thần núi quốc chủ, tự Phúc Nguyên (Nguồn phúc).
Thứ sáu: Bình Dương quốc chủ, tự Phúc Thịnh.
Thứ bảy: Trưng Nữ Vương quốc chủ, hiệu Diệu Minh, hiệu Từ Thuận.
Trời Nam có 72 đền thờ Đông Trù Tư Mệnh Phủ quân(1) cùng lại phối hưởng (phối hưởng là khi cúng giỗ một vị tổ nào, Mười các vị tổ khác cùng tới dự).
Kính Mười các ngài, các vị vua đời trước: Hoàng hậu, Vương phi, Mỹ nương Công chúa muôn vàn linh thiêng cùng lại phối hưởng.
Xin phép kính trọng:
Tiên tổ Nguyễn Tướng công tên húy là Minh, tự Phúc Đình, hiệu là Khương Thái công(1), sinh ở làng Minh, hoá tại Khương Thượng (Hà Nội). Khương Thượng, Khương Trung, Khương Hạ, Khương Đình, đổi họ là Nguyễn; bà Đỗ Quý Thị tên húy là Sơn Trang, hiệu Diệu Tín, hiệu Phật là Hương Vân Cái Bồ Tát. Bà sinh ra Kinh Dương Vương. Bởi nhân duyên gia đình không hoà thuận. Bà xuất gia đắc đạo ở Tây Vực. Bà sinh ở Nghi Tàm, Ngõ Hồ, sau này là Tây Hồ, Hà Nội; hoá ở Nội Tích, Đại Lôi (bây giờ là Ba La), chùa Đại Bi (thời Pháp tàn phá, thời Duy Tân trùng tu, nay còn ở đấy). Mộ táng trong chùa Bồ Đề tát ma ha tát(2) ở Ba La (bí mật) ngày giỗ 15 tháng Bảy.
Ông tổ đầu tiên là Kinh Dương Vương, tự Phúc Lộc, sinh ở Vân Lôi, Nghĩa Lĩnh, Phong Châu, hoá tại Phong Châu, an táng trong chùa Hương Tích, núi Hoa Cái, làng Vân Lôi, khu Văn Nội, xã Thắng Hiền, phủ Phụng Bà Động Đình tiên nữ, tự Thanh Minh, tên huý là Ngàn, hiệu Từ Phú, an táng ở đất bí mật Xích Hậu, Tiên La (ngày nay là thôn Văn La, sau chùa Ba Vì?). Ngày giỗ mồng 3 tháng Ba.
Chia ngành họ:
Chi 1: Hùng Nghiêm, tự Phúc Nghiêm, hiệu Pháp Phong (an táng tại Hoa Cái Sơn, chỗ cũ cung điện Phong Châu).
Bà: hiệu Diệu Đức, an táng tại thôn Văn La, Tiên La.
Chi 2: Hùng Quyền, tự Phúc Quyền, hiệu Pháp Vũ (an táng tại khu chùa, cánh đồng Thượng Khánh cùng ấp).
Bà: hiệu Từ Nhân, an táng tại cửa nhà thờ Thành Tiên Sơn.
Chi 3: Tự Phúc Lâm, tên húy Thọ, Hùng Hiền hiệu Pháp Lôi, an táng tại ba gò đất trên đồng Bảo Cựu, sau đổi Bảo Hoa.
Bà: hiệu Từ Quý, sử ghi chép Âu Cơ (an táng ở Tiên Lạc, Động Hiền) ngày giỗ mồng 6 tháng Ba.
Chi 4: Hùng Quyên, tự Phúc Quang hiệu Pháp Điện, an táng tại Hy Sơn, giếng Liên Quyết Cường, ấp Thủy Tiên khu Văn Nội.
Bà: hiệu Từ Thọ, an táng tại cửa Sơn Trạch ấp Thủy Tiên.
Chi 3: Thừa kế làm trưởng chi. Từ đây, phân chia 100 chi, là 100 họ, lấy Nguyễn làm trưởng tộc(1).
Cao tổ khảo tên húy Lân tức là Lân Lang Vương (Đ.T) làm thần nước thứ nhất, hiệu Hà Bá, tự Phúc Tâm, giỗ ngày 28 tháng Năm, an táng tại ấp Thủy Tiên, Đào Nguyên, Tiên Sơn.
Tiên tổ 100 chi, hiệu Linh Lang tự Phúc Minh là thần linh hoặc thần nước, thần núi, cúng giỗ ngày 1 đến ngày 4 tháng Tư ở chùa Phúc Thiền, mọi chùa chiền đều tôn là Đức Ông (an táng tại đất bí mật).
*
chùa phúc thiền

Thanh Hoa Hoài Đức sau đổi Thanh Uy, Ưng Hoà, Long Đỗ, Chương Đức, Phúc Thọ, Mỹ Lương, Ba Vì, Thanh Trì, chữ thứ hai(?) theo chữ điển tích: Phúc - Lộc – Thọ, có Mỹ Lang, giếng Mục Lang, xưa hiệu là Ruộng Giếng, hương khói muôn năm 100 thần sông núi, lại có hiệu 100 bộ Đức Ông.
Hiệu chung 18 Long thần Già Lam... an táng nơi đất bí mật.
9 con rồng giành ngọc trai, 2 con rồng chầu trăng, hổ quỳ.
Bà của mọi vị Tổ, bà 18 vua sau đều lấy hiệu Diệu Đức, an táng tại Tiên Sơn.
Ba gò đất tại Thắng Hiền, huyện Thanh Oai, phủ ứng Thiên. Các ngài Lạc hầu, Lạc Tướng ở cây bí mật đất ấy.
Mộ vị tổ sư Bồ đề, Bồ tát, 8 vị Kim Cương (Bát bộ Kim Cương) vùng bí mật đầu sườn núi.
Các ngài tiền tổ: 100 họ có muôn vàn phép tắc ngang nhau an táng tại 9 dòng: - Kim Khê - Cẩm Khê - Thành Giang - Tương Giang - Vọng Khê - Phong Khê - Đào Nguyên - Bạch Hạc Giang - Hát Giang. Cùng hiệu Toàn Đãi. Tới nay đã đổi thay, núi đã lùi vào trong nước, vào trong trí nhớ mà núi không còn, nước cao, hình thể kín đáo, tình cảm rất lạ lùng(1).
*

Một vị công thần (?) Vương
triều Hùng ghi chép vào sổ sách

- Thời nguyên thủy, ông bà đời trước của Khương Thái Công nhiều vợ nên sinh nhiều con trai.
Ông thứ ba được gọi là Long Cảnh tài kiêm văn võ, đức độ hơn người, bấy giờ ở ngoài dãy núi có giặc phương Bắc xâm nhập biên cương, Già Lam(1) cử con trai cả Lộc Tục cùng ba em đem quân diệt ngoại xâm ở Tử Di Sơn, chiến thắng Ma Mạc trở về, được vua cha khen ngợi, phong ấp làm ăn ở Châu Nguyệt(2).
Kinh Dương Vương nối ngôi, Long Cảnh hết sức cứu nước giúp dân, trung thành một mực, đời sau suy tôn nhiều tên oanh liệt: Lý Cảnh - Lý Lang - Ông Ba - Ông Ba Đại vương (mộ tại cửa Nguyệt Đức - Thanh Trì) nhà làng có tên gọi kín đáo là Ba Quý.
Bảo Hoa làm việc cho Lý Mỹ nương ở ngoài chùa, an táng trên cánh đồng thôn Nguyệt.
Các ngài công thần có công với nước triều Vua Hùng: tên chữ là Thanh Duệ; tên chữ Nguyên Đào; tên chữ Thanh Thực; tên chữ Hùng Sâm, là bốn vị Đức Thánh, an táng tại Đông Trù, khu mộ vua... ở Văn Nội.

*

Một vị công thần vương triều Hùng Huy ghi chép bản gốc vào sổ sách

Thời Vua Hùng Huy một phần Võ Ninh có giặc, nhân vì bộ tướng địa phương âm mưu cùng bọn phản loạn nhiều năm không thể dẹp, vua đem tiền của ra nhử mới lui được giặc. Làng Phù Đổng có em bé xin vua 1 con ngựa sắt để dẹp giặc, vua nghe, em bé nhẩy lên ngựa múa kiếm trước quân giặc, dám xông vào dùng lửa để đánh giặc, lửa bốc cháy, những cây ngô đồng và những cây gỗ già thiêu cháy tên tướng giặc (Thạch Ninh), rồi quay về Võ Ninh bộ, Dục Nội. Đánh giặc chiến thắng khải hoàn,từ núi Trúc Linh đến đầu gò Mê Linh mà hoá!(hiện nay mả ở xã Quang Lãm)
Vua cùng thần dân quần chúng bầy tôi rất sợ hãi. Vua chọn đất tốt, an táng lập đền thờ, phong là Phù Đổng Thiên Vương. Người đời sau bàn rằng: Đổng Thiên là một người Việt khác thường không chịu nổi sự tàn bạo của giặc đối với dân ta mà hiển Thánh để dẹp sự bạo tàn, không chịu ơn đền đáp của quốc dân về công lao của mình mà kịp thời hoá thân tránh cõi đời. Nay đền thờ có lời rằng:
Trời xuống Thánh nhân dẹp giặc Bắc
Đất lưu thần tích giữ trời Nam.
Đời sau có thơ rằng:
Thờ thần nhiều giếng ấy Thiên Vương
Gò Sóc Thanh Khê trung đến cùng
áo sắt, núi cao còn hiển tích
Cung Văn Lôi, người giữ quê hương.
*

Một vị anh hùng vương
triều Hùng Huy

Tướng công họ Nguyễn: Bình Dương đại vương, tên huý là Cẩn, tự Phúc Thịnh.Châu Phúc Lộc, tự Thạch Thành, khu Oanh Lũy, (huyện My Linh xưa kia), hiệu Chân Định Thành. Hùng Dực Công, Hùng My Nương là em thứ hai. Ông lấy Trần Thị Quý làm vợ chính, sinh con trai cả tên Triệu, về sau thiên hạ suy tôn Triệu Lam Hùng (Triệu Đà).
* * *

iV

Trích: bách việt tộc phả
(mật không đưa ra ngoài)

Nghĩa Lĩnh như hôm nay tỏ mộ sự truyền lại (một chỗ yên lặng).
Sùng Nghiêm dời chỗ đất tổ đời trước Phượng Hoàng.
Cây cối, chuông nào thấy điện My Linh(1).
Vạn điều phúc yên lặng cùng với nguồn nước hát ca.
Văn Nội trước là Hát Môn, Thạch Thành, lũy đất quanh trại để ngăn giặc, tiếng ầm ầm của xe ngựa từ xưa lại còn cửa nhẹ, cho nên người cùng trong vùng quan cấm trước đình là Hát Môn (?)
Nhà có phả như nước có sử ghi chép rõ ràng tình tiết lịch sử đất nước, ghi chép sự thịnh suy chính trị của thời đại có thể giúp gia đình để tra cứu sự ràng buộc, sự liên quan trước sau, trên thì cao đến nền móng tối cao của Tổ quốc, ông Tổ muôn đời truyền lại như cây có gốc, nước có nguồn. Từ ông Tổ đầu tiên Thái Khương Công Nguyễn Minh Khiết, cuộc sống buổi đầu yên ổn như mùa xuân trước mặt, từ nguồn núi Thánh tổ Hùng Vương, hoàn cảnh được sắp đặt mở mang, thuận lòng người hơn 1.800 năm là thủy tổ vậy.
Kinh Dương Vương dựng nước nghìn dặm núi xanh, sáng lập kinh đô Hùng, nền móng cung điện, nước biếc một vùng, mở đầu con đường của Thánh Đế Minh Vương, lấy của cải giúp người, thống nhất 15 bộ là ông Tổ dựng nên Bách Việt vậy. Đời sau có thơ rằng:
Phiên âm 4 câu chữ Hán:
Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương,
Thống nhất sơn hà thập bát vương,
Dư bách hệ truyền thiên cổ tại,
ức niên hương hoả, ức niên phương.

Tạm dịch: Buổi đầu Nam Việt có Kinh Dương
Thống nhất non sông mười tám vương
Hơn trăm đời truyền từ xưa đó
Vạn năm hương khói, vạn năm thơm
Kế tiếp sau đó, triều gốc Đinh Tiên Hoàng sai Đan Hậu cùng Quốc công Nguyễn Bặc vâng lệnh vua, trùng tu miếu điện ở đất My Linh. Vua (Đinh Tiên Hoàng) thân hành tới làng Vân Lôi tự nói với ta (trưởng tộc) cùng quốc dân thần tử rằng: “Chúng ta đều do tổ tiên sinh ra, không kể nam phụ lão ấu, không kể dân tộc nào, họ nào đều là con Rồng cháu Tiên, phân ra các chi mà thôi.
Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ, nước có nghìn dòng vạn nhánh phải gốc ở nguồn; ở vật còn vậy, huống con người sinh ra kế tục theo sau, tất có người trước dắt dìu lôi kéo vậy.
Ngưỡng mộ và tưởng nhớ đến tổ tiên, lấy sự siêng năng mà bồi đắp cho gốc rễ, lấy sự thiếu hụt đó mà tích đức, tăng thêm lòng thương người, không chê bai, cho nên làm con cháu, thế lực nối tiếp cũng là con cháu, có thể nào không biết suy nghĩ trọn vẹn, đến lẽ phải sâu xa sao.
Như ngày nay, ta nghĩ tới cái đức của Tổ tiên đã trị yên 12 sứ quân, thống nhất non sông dựng nước lấy hiệu là Đại Cồ Việt, nguồn đó là cái đức chính trồng hoa vàng ở núi Hoa Ninh phát tích, nước vàng cuồn cuộn, đẹp đẽ giỏi giang, nguồn dài muôn thuở như ngọn lửa bốc cao. Họ Đinh ta ràng buộc ở cái cột Hoa Lư, non sông đã thống nhất, tổ tiên của nước là trọng đại, nhà thờ hương khói ở Phong Đô, không thể quên vậy. Dân có tổ, tổ phải có miếu, cả nước cùng thờ cúng là cái cốt thứ nhất của trời Nam.
Sự thật, con người vâng theo mệnh trời, Đan Hậu cùng Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc vâng lệnh trên xây dựng nhà tổ ở cố đô My Linh, sát nhập Nam My Linh.
Năm đầu Quang Trung (1789), nhà thờ tổ tiên của Bách Việt lại sao chép một lần nữa tộc phả để nói rõ cho người khác hiểu. Trưởng họ La Sơn Phu Tử, tước Quảng Uy hầu Nguyễn Thiếp vâng lệnh sao chép(1).
Sau khi chiến thắng quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung gặp mặt Ngô Sĩ Liên tức Ngô Thừa Liên, người đại diện cho đất nước biên soạn lịch sử, nội dung sự việc xem thường coi rẻ không có lợi cho đất nước mà có lợi cho nước Trung Hoa. Lại nói: Ngô Thừa Liên là loài giặc chó dê con cháu của Ngô Thừa Ân là người nước ngoài, như vậy ắt có mưu đồ đen tối, lương tâm không trong trắng.Từ thời Lê Thái Tổ chiến thắng quân Minh, nhân dân ta ở Cổ Lôi trục xuất người ngoại bang tại Phong Đô. Trong số dân bị trục xuất có loài giặc chó dê Ngô Thừa Liên, sau thay đổi chỗ ở đến làng Trúc Lý, nghĩ tới hối hận nhục nhã.
Tự mình lựa chọn sử nước không phải như chuyện cũ việc xưa là tìm kiếm mọi quan lại giúp việc tin cậy có lợi cho mình, nói chung là những người vô dụng. Ngô Thừa âm mưu đốt thư tịch ở Văn Miếu, làng Đa Sĩ, làng Cổ Lôi có thể không đầy đủ rõ ràng sự việc phản quốc vậy. Hoàng đế Quang Trung lấy làm hổ thẹn, bèn sai ta một lần nữa chọn người thay mặt cho nước, ta tự ý riêng, tài buổi đầu không như tiên tổ Nguyễn Bặc có tước công cao nhất trong triều Đinh, đức to lớn không thể kịp tiên tổ Nguyễn Ưng, học lực không thể đạt như ông nội Hoàng Tín Hầu (tên chữ Phúc Tín), thám hoa Nguyễn Ban, tôi nghĩ tới cái đức lớn của tiên tổ là trưởng của Bách Việt có sách quý báu được trao phó cho ngàn vạn năm, ắt phải giữ gìn thận trọng sách kín để truyền lâu dài muôn vạn năm về sau. Nhà có phả như nước có sử, trên đời một số người tìm tới gia phả của ta như Văn học dân gian, từ đó tưởng tượng suy nghĩ sự vật mà sáng tác vậy.
Sự thật là gia phả chia làm hai: phả kín nói rõ ràng cho người trong nhà biết, không dùng cho người khác, quyển thứ hai dùng như văn học dân gian để nhớ tới giữ trọn hương thơm kín đáo của nước nhà. Cho nên, tiên tổ ta lấy tên đất, học sáng tác dân gian rộng lớn lâu đời. ấy là không thể thay đổi đất xưa trong lịch sử mà thôi.
Dấu vết cao quý đời xưa để lại như thế không có việc thực ở nội dung, nửa hư nửa thực, hoặc có hoặc không, là trai là gái, là thánh là thần, người xưa phải có ý tăng thêm lòng tôn kính, hiểu rõ để hương khói phụng thờ tiền linh Bách Việt nghìn vạn năm không mất như thế mà thôi.
Ta là người thôn dã, gặp lúc quyền lực mạnh mẽ mà cha con có công giúp nước cứu dân, người xưa có ý giữ gìn cho khỏi mất hương thơm của Tổ tiên, phả kín cho biết Phong Đô lúc trước, cho nên ta mới rõ địa điểm 270 địa danh ấp, làng, xã ở đất của ta.
Cho nên, ta chỉ nói rõ cho người trong phả hiểu, không đem ra dùng cho người khác phả, để truyền được lâu dài đến hậu sinh có cơ sở mà biết.
Phả ghi chép bản chính Họ Nguyễn, dòng Vân, làng Vân Lôi, trang Thắng Hiền, xã Quang Hiền, khu Văn Nội, phủ Hiền, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Nội.
Nghĩa Lĩnh Phong Đô ở trước mắt
Không dùng để truyền cho người khác.
Bốn chữ Hồng, danh quang để nhớ tới.
Sử phải thành thật đến với bầu trời Thái Bình (yên ổn) là đạo Thanh Hoa, bởi vâng theo Thiên Phủ, truyền đến muôn đời, 100 nhánh cùng nghĩ tới gốc làm người. Trưởng tộc Nguyễn Vân phụng thờ hương khói ở nhà Tổ.
- Thái Bình Thiên quốc(1) ngày Lành giữa mùa xuân, năm Tân Mùi (971) Trưởng tộc Nguyễn Vân Đức vâng lệnh tuyển.
-“Quang Trung nguyên niên, (1789) Hương quận công Nguyễn Thiệp vâng lệnh sao chép.
-Duy Tân năm thứ 5 (1911) vâng lệnh sao chép từ bản gốc
*
Văn bia tại xứ, điện miếu tổ,
thôn VÂn Nội.

Dân có tổ miếu của nước thờ ở nhà thờ Lôi Hương để kỷ niệm làng ta thờ ông Tổ đầu tiên của nước: Kinh Dương Vương tự là Phúc Lộc, như vậy là việc thiện, cái nghĩa đáng làm vậy.
Thái Bình Thiên quốc, năm Tân Mùi (971) ngày Lành giữa mùa xuân, những người có tuổi đậu đạt ở làng ta cùng tất cả các gia đình nghiên cứu phương pháp và đồng ý cách làm từ trước là quyên góp tiền bạc, của cải để tu sửa thêm phương đình, lại thêm một tường đất lớn giữ gìn 4 phía lung linh của vẻ đẹp ngày xưa, làm sao để thể hiện ra được ngày nay, để về sau Hồng Hà tăng thêm vẻ đẹp nên thơ, để ông Tổ Khương Minh nhiệt thành của ta càng truyền càng rộng thêm xa, lại càng dắt díu con cháu vậy. ý của quốc dân ta là giống Lạc Long giữ mãi cái lễ nghi của xã tắc, còn mãi mãi ở lòng người, đó chính là khởi đầu sự rộng lớn thay.
Thơ nói rằng: Ăn quả nhớ người trồng cây, uống nước nhớ nguồn: Con cháu đời đời lên đình này như vẫn thấy Người....nghìn năm hoa Hội, nhà kỷ niệm còn ghi. Tưởng nhớ vua Tổ nước đã ban cho con cháu muôn sự phồn vinh. Riêng xã ta, hội mục không quên:
Núi Nùng cây cao bóng cả
Sông Hồng nước chảy dạt dào
Đền thiêng vẫn sừng sững bên tả
Muôn đời hương lễ chưng thường.
- Thái Bình Thiên quốc, năm Tân Mùi(971), trưởng tộc Nguyễn Vân Đức vâng lệnh tuyển.
- Triều vua Khải Định năm thứ 4 (1919) đầu thu, sau ngày 15 tháng Bảy năm Kỷ Mùi, xây dựng lại ở Bảo Hoa.
*
Khải Định năm thứ 9 (1924): họp 100 chi họ thông qua bản sao chép Ngọc phả.

Từ buổi đầu khai thiên lập địa phải có người nối tiếp, bởi vì chưa có văn tự mà ghi chép, ông tổ thúc Nguyễn Phi Hương nói rằng: Xuất xứ của sự thông hiểu, việc thành công là do lao động, lấy cái vui của tự nhiên, cái hư không của bầu trời, đến cái to lớn mà thôi, bốn mùa thành một năm, mà không hiểu rõ ràng việc đời xưa để lại, sự cao thượng không sát thực tế, đến việc to lớn mà không hiểu được công lao vạn vật đội ơn mà lộ dấu vết, như vậy thật rất thanh hư và rất lớn lao thay.
Nhà Làng(1) từ Thiên Hoàng xoay vần đến dẫy núi Ngũ Nhạc chầu vào, không còn nước dâng(2) không còn thâm tiêu. Tiên thời tiếng tăm, rồng thời linh thiêng, ở nhà chật hẹp, ông họ Vân tên gọi Minh Khiết, hiệu là Thái Khương Công đời đời ở Châu Phong (là kinh đô) làm chủ trưởng, hiệu là quan lang, của cải giàu có, sức mạnh có thể đánh chết hổ, bẻ gẫy sừng trâu (bắt hổ, đánh trâu), người em là Nghi Nhân, và em nữa là Long Cảnh cũng có sức mạnh.72 động chủ (chúa động) nghe tiếng đều sợ hãi. Nhân vì loạn quân mũ đỏ Chân Lạp, anh em, hầu hạ phục dịch lẫn nhau, hiệu lệnh ban bố xuống mọi làng xóm, đều không bị tan tác, ba vị tổ thoả lòng sung sướng của mình.72 động chủ đều tôn xưng ba vị là “đế” vui vẻ. 72 động chủ kế tục kết nghĩa anh em lập thành Tổ. Đời sau, suy tôn hiệu là Tam phủ công đồng(?).
Cao cao tổ khảo tên chữ là Thái Khương Công, cũng là Khương Thái Công, giỗ ngày 2 tháng Hai tại Khương Thượng (ngày nay thuộc Hà Nội), mộ ở xã Thắng Hiền, Hương lang.
Cao cao tổ tỷ Đỗ Quý Thị tên gọi là Trang, người Ngõ Hồ, vùng Nghi Tàm, đúng lúc Tổ thúc Nguyễn Nghi Nhân lấy Đỗ Quý Thị làm vợ đồng thời Thái Khương Công cũng yêu làm vợ. Bởi vì hai vị tiên tổ cùng một bọc sinh đôi, diện mạo giống nhau, thường thường không thể phân biệt được ai là anh, ai là em, qua lại với nhau. Điều suy nghĩ của bà chỉ có một Công chúa Đoan Trang họ Đỗ, tên Trang là con gái vua Hải Vương.
Nhân vì Cao Cao Tổ Thái Khương Công đã nghi Công chúa Đoan Trang là một phụ nữ bất chính, có ý tình nghi nên đưa bà từ Chính thất xuống làm thứ phu. Bà oán giận bỏ nhà đi tu, vào động, dùng sự dạy dỗ để cảm hoá người khác.
Bà dạy dỗ và nuôi lớn con trai của động, đời sau được tên tuổi là Tiên Phi Động ở tỉnh Hoà Bình(1). Có 8 người em trai của bà có thứ bậc trên dưới cùng về trông nom giúp đỡ dạy cháu ở Sơn Động. Công việc trọn vẹn hoàn toàn đạt được thành tựu của người tu hành.
Tám vị đều đạt Thần hiệu: “Bát Bộ Kim Cương bồ tát”
1). Đỗ Xương, hiệu Thanh Trừ Tai Kim Cương.
2). Đỗ Tiêu, hiệu Tịch Độc Thần Kim Cương.
3). Đỗ Kỹ, hiệu Hoàng Tùy Cầu Kim Cương.
4). Đỗ Cương, hiệu Bạch Tánh Thủy Kim Cương.
5). Đỗ Chương, hiệu Xích Thanh Hoà Kim Cương.
6). Đỗ Dũng, hiệu Định Trừ Tai Kim Cương.
7). Đỗ Bích, hiệu Từ Hiền Thần Kim Cương.
8). Đỗ Trọng, hiệu Đại Thần Lực Kim Cương.

*
TRIềU VUA BảO ĐạI THứ 5 (1930),
NĂM CANH NGọ NGàY 19 THáNG HAI
Người sao: Nguyễn Vân ý
(trưởng tộc dòng họ Nguyễn Vân)

Sao lục bản chính của Bộ Lễ - Cân Ngũ bộ Trung đẳng triều vua Lê, âm phù một vị Đại Vương.
Nước Việt Nam ta xưa, non sông bắt đầu được chia theo sao Chản, sao Dực, nước Trung Quốc ranh giới hướng sao Đẩu, sao Ngưu. Từ triều Kinh Dương Vương, vâng mệnh của cha làm vua đầu tiên nước ta, xây dựng kinh đô Nghĩa Lĩnh, trùng tu miếu điện, truyền quốc ở đất đẹp châu Hoan.
Đời sau Lạc Long Quân lấy tiên nữ là Âu Cơ, con gái Đế Lai ở trên núi Nghĩa Lĩnh có mây ngũ sắc sáng chói. Nàng Âu Cơ thụ thai sinh ra một bọc có 100 quả trứng nở ra một trăm người con trai, đều là những anh hùng xuất chúng, đức độ hơn người. Đến lúc trưởng thành mới phân chia nước làm 15 bộ (?). Sau đấy Long Quân bảo Âu Cơ rằng: Ta giống Rồng, nàng giống Tiên, tuy âm dương ngũ hành hợp nên có con nhưng giống khác nhau, Thủy hoả chống lại nhau, không thể cùng ở với nhau nên phải từ giã nhau. Do đó mới chia ra năm mươi người con theo bố xuống biển làm thủy thần trông coi các nguồn đầu sông góc biển. Năm mươi người con theo mẹ, lên núi làm thần núi trông coi các gò đống. Hẹn với nhau nếu có việc gì nghe tiếng gọi đến giúp đỡ nhau, không được bỏ nhau. Từ đấy dòng họ Hùng có một trăm thần núi và thần nước thường hay hiện ra biến hoá thần cơ, âm phù giúp nước cứu dân vậy.
Xưa kia thời đại Tây, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tề, Lương, Đường, Tùy, nước ta có 4 họ: Đinh, Lê, Lý, Trần nối tiếp mở mang đất nước, liên tục thời gian dài. Có thơ rằng:
Buổi đầu Nam Việt có Kinh Dương
Thống nhất non sông mười tám vua
Mười tám đời truyền nghìn năm vững(1)
Vạn năm hương hoả vạn năm thơm.
* * *
(1) Câu này nguyên chữ Hán là “Dư bách hệ truyền thiên cổ tại” Nghĩa là: Trên trăm hệ (thế hệ) truyền nối tiếp hàng nghìn năm bền vững. Không phải chỉ có truyền qua 18 đời:Hiện nay vẫn có người hiểu chỉ qua 18 đời thôi. Hiểu như vậy sẽ sai lầm lớn về sự tồn tại của thời Hùng Vương.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn