Thứ hai, 20/11/2017
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay844
mod_vvisit_counterHôm trước898
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo) E-mail
14/07/2017

SUY NGHĨ  V NHNG KHONG TRNG  TRONG THI KỲ LCH S NƯỚC TA (Tiếp theo)

Tác giả: PGS Đỗ Tòng

(Tiếp PHẦN I)


VI


LIỆT VỊ ĐẠI VƯƠNG SỰ TÍCH NGỌC PHẢ THỰC LỤC
(Bản ghi chép xác thực ngọc phả về các vị đại vương)
(Bản sao còn ở hai xã La Nội, ỷ La)

Vốn trước kia kinh qua biến loạn, các nghi thức tế tự thất lạc, sự tích không thể khảo xét rõ ràng được nữa. Được biết ở xã Bình Trù, tỉnh Sơn Tây có Nguyễn tướng công (tên là Bính) là Hàn lâm lễ viện Đông các học sĩ và Nguyễn tướng công (tên là Hiền) là Quản giám bách linh tri điện hùng lãnh thiếu khanh, vì gặp loạn đã đem tất cả lý lịch các thần cất vào hòm sắt, giấu trong bức tường gạch của từ đường, nay hội đồng hai xã đến từ đường, kính cẩn tiếp nối các bậc trưởng tộc xin sao chép một bản ngọc phả, khiến cho sự tích được sáng tỏ, khảo sao chép như sau:
Ngọc phả cổ chép sự tích một vị đại vương và hai vị thần nữ đời Hùng Duệ vương (thuộc chi Cấn, bộ trung đẳng) là bản chính ở bộ Lễ trong triều đình. Xưa kia, trời đất mới mở mang, cương giới phân theo sao Dực, Chẩn, sơn hà tiếp nối các đời, thiên hạ thống nhất vòng xe, chữ viết. Các châu thuộc An Nam cũng thuộc về địa phận các sao Thuần, Vĩ, Dực, Chẩn. Tên gọi Giao Chỉ Minh Đô có ghi trong Kinh Thư, Kinh Lễ, thiên(1) Ngũ đế đức chép: phía Nam chạy đến Giao Chỉ, thiên Nghiêu điển chép: Lệnh cho Hy Thúc, Sái Phó đi xuống phía dưới Nam Giao, khi ấy gọi là Minh Đô.
Các chuyện dấu vết rùa, hiến chim trĩ có thấy chép trong truyện ký. Đời Nghiêu, họ Việt Thường dâng hiến rùa thần ngàn tuổi, trên lưng có loại chữ khoa đẩu (hình chữ như con nòng nọc), chép từ khi khai thiên lập địa trở đi, gọi là Quy (rùa)(2). Các ghi chép trải từ trời Nam mở vận, dòng họ đầu tiên trong nước là Hồng Bàng, bậc quân vương thụ mệnh trời đầu tiên là Kinh Dương là hậu duệ của Thần Nông - Kinh Dương Vương vốn được Đế Minh phong vương, cai trị Nam Việt, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kế tiếp Kinh Dương Vương đứng đầu Nam Việt, được điềm lành có trăm con trai, ấy chính là thủy tổ của người Bách Việt (Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm). Con trai Kinh Dương Vương kết hôn với con gái Đế Lai tên gọi Âu Cơ, sinh trăm con trai. Tục truyền sinh ra một bọc trăm trứng, ấy là tổ của người Bách Việt.
Thuở hoang sơ trời đất vốn chưa có con người. Đời Thương,Chu thực có chuyện nuốt trứng, dẫm vết, thì thuyết trăm trứng có gì là quái lạ?
Con trai trưởng của Lạc Long Quân, hiệu Hùng Vương, định đô ở Phong Châu, lập nước là Văn Lang, chia thành 15 bộ để cai trị thống nhất. Cất đặt tên gọi các quan để nhận thức, nhưng phương loại khác nhau, nước lửa xung khắc, không thể ở cùng nơi, đành phải chia biệt nhau. Năm mươi người con theo cha về biển làm thủy thần, chia nhau cai quản mọi đầu sông góc bể. Năm mươi người con theo mẹ lên núi làm sơn thần nghe tiếng gọi thì đến giúp đỡ, không được bỏ mặc. Trong khoảng họ Hùng xuất thế, Sơn thần thủy thần thường xuất thế, đầu thai vào các nhà dân làm con, trở thành các bậc giúp nước cứu dân, nhà nào có phúc sẽ được các ngài nhập vào.
Lại nói, vào đời Hùng Vương thứ 17, truyền đến Duệ Vương, kinh đô tại vùng sông Bạch Hạc - Việt Trì, lập nước hiệu Văn Lang, dựng đô ở Phong Châu. Vương là người hùng tài đại lược, tư chất thông minh thánh triết, nối nghiệp tổ tông khiến cho cơ đồ 17 đời ngày thêm hưng thịnh. Trong thì tu sửa văn đức, ngoài thì rèn giữ biên cương, dốc lòng chấn hưng bình ổn để giữ yên định trong nước.
Trước đó ở hương Sài Trang, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, đạo Hải Dương, có con gái họ Trần tên là Thị Châu, tuổi vừa 18, nếp nhà vốn lấy nghề thợ nhuộm làm nghiệp. Thuở ấy đi qua đất ỷ La thuộc thôn Đại La, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai thấy có ngôi miếu, gặp hôm dân địa phương làm lễ cầu phúc, tổ chức các trò xướng ca, giải trí, vui chơi. Bà Thị Châu đến xem. Khoảng chiều tối thì vào miếu. Quãng độ đầu canh năm thì mơ hồ thiếp đi, bỗng thấy một đám hào quang từ thần vị bay tới, trông như một ngôi sao trên trời giáng xuống vào thẳng miệng bà. Bà bèn nuốt lấy. Lát sau tỉnh lại, cho là việc lạ. Từ ấy về nhà rồi thấy có mang. Ngày 10 tháng Giêng năm Giáp Dần sinh hạ một con trai, thiên tư dĩnh ngộ kỳ vĩ, tướng mạo khôi ngô hơn người.
Bà mẹ biết rằng thần nhân xuất thế đầu thai nên hết lòng yêu thương dưỡng dục, lại đặt tên là Đương Cảnh, nâng niu chăm sóc con thơ. Thế rồi ngày qua tháng lại, Đương Cảnh lên 14 tuổi. Thiên tư thông minh, học lực tinh tấn. Cậu bé biết hỏi mẹ rằng:
- Cha là người nào?
Bà mẹ nói với Đương Cảnh rằng:
- Ngày nọ đi qua địa đầu đất ỷ La, trang Đại La, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nằm ngủ trong miếu ấy, mộng thấy điềm lành mà có mang sinh ra con.
Cậu bé thấy không đáng tin những điều mẹ kể. Hôm ấy được nghe đồn Tản Viên sơn thánh ở động Lăng Sơn, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây có phép hiểu trời thấu đất, có thuật dời núi chuyển sông. Đương Cảnh cho rằng đó là người tài bậc nhất trong thiên hạ, ngay hôm ấy tìm đường lên động Lăng Sương, làm lễ bái kiến Sơn thánh, và tâu với Sơn thánh rằng:
- Người ta ai cũng có cha có mẹ. Còn con thì chỉ có một, không biết cha mình là ai.
Sơn thánh bảo rằng: Ta sớm biết con là con của Lạc Long Quân, được phân làm các sơn thần thủy thần, thường xuất thế đầu thai, khiến nhà dân nằm mộng mà sinh hạ. Thật là chính khí của Bắc triều, tông của Nam quốc. Hãy dùi mài kinh sách, sẽ có ngày đường mây thẳng tiến, công danh vẻ vang.
Thế là trong lòng tin tưởng không nghi ngờ gì nữa. Hôm sau Đương Cảnh bái tạ Sơn thánh trở về nhà. Than ôi! Sự biến thực thể không lường được, phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí. Mẹ hiền Thị Châu mắc bệnh qua đời. Đương Cảnh bèn chọn ngôi đất tốt làm lễ an táng thân mẫu, đèn nhang phụng thờ như khi còn tại thế.
Khi đã mãn tang, Đương Cảnh lại tìm đến Sơn thánh ở động Lăng Sương, tự nguyện làm đệ tử của Sơn thánh. Sơn thánh đã biết Đương Cảnh (từ đây gọi là Cảnh công) có thần lực, bèn trao cho một cây súng bách phát trúng. Từ ấy, thấy Cảnh công tài năng trí dũng, Sơn thánh yêu quý lắm, truyền cho các phép trong sách thần.
Hôm ấy, đi săn trong Sơn động, chợt thấy hai người con gái, tài sắc vô song, bèn ước hẹn nhân duyên với hai người con gái ấy. Cảnh công trở về tâu với Sơn thánh. Sơn thánh nói rằng:
- Trời có lòng ưu ái, đã định sẵn việc người, khiến anh tài thần nữ giáng thế. Hai người con gái ấy vốn là con gái bà Sơn Tinh động chúa Ma Thị, tên gọi nàng Tuyên, nàng Chính, chẳng phải người trần. Trời đã định duyên, hôm sau ta sẽ theo mệnh trời tác thành hôn phối cho.
Thế rồi làm lễ vu quy. Các nghề đều tinh xảo, có thể biến hoá ẩn hiện bất kể ngày đêm. Vợ chồng Cảnh công lạy tạ Sơn thánh, định rằng vào một đêm sẽ trở về cố hương. Từ đấy an cư lạc nghiệp, gia sản dần dần sung túc.
Đến năm ấy có giặc hổ sói hoành hành, tàn hại hương dân nhiều vô tận. Duệ Vương lo lắng về điều ấy, hạ chiếu kêu gọi thần dân khắp thiên hạ, ai có tài năng trí dũng hàng phục được giặc hổ thì hãy ra giúp nước. Chiếu thiên tử vừa ra, lòng bốn phương sôi sục. Cảnh công tập hợp được mấy ngàn binh giáp, tiến đến cửa thành Việt Trì thuộc đạo Sơn Tây, kính cẩn chờ vương lệnh. Vua hạ chiếu ban cho làm Đô đốc cùng với Tả tướng quân lãnh 5 ngàn bộ binh, tuyển chọn tướng tài, chia quân theo các đạo.
Cảnh công đi trước tiên phong, tinh kỳ rợp bay vạn dặm, khí giới chấn động ngàn trùng. Trong một ngày đêm đã tiến đến huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, hội binh hạ trại ở đây. Thấy đất trong Đại La địa thế uốn lượn, long hổ bao quanh, bèn cho sửa sang đền miếu, làm lễ phụng thờ, và gặp gỡ các vị phụ lão, nói rằng:
- Người mẹ sinh ra tôi, xưa gia cảnh bần hàn, coi nghề thợ nhuộm làm nghiệp nhà. Vả lại, mẹ tôi từng dặn, tôi chính là vị linh thần giáng sinh được thờ phụng ở đây. Cho nên, tới đất của quý vị để xem xét tình cảnh, chứ chẳng phải như các bọn quân khác đến xâm lấn bạo ngược, xin các vị đừng lo sợ.
Khi ấy các lão hai trang Đại La, ỷ La đều đồng thanh công nhận, quả thực địa phương chúng tôi thờ phụng các thần như vậy, trước kia rất linh ứng. Cách đây hơn 20 năm, có người đàn bà ở Sài trong huyện Đường Hào đến nghỉ ở miếu này, bỗng thấy một đám hào quang từ thần bay ra quấn quít quanh người đàn bà ấy. Từ ấy miếu thờ dần dần không còn thấy linh nghiệm nữa.
Cảnh công cười mà rằng: Người ấy chính là mẹ sinh ra tôi đó.
Phụ lão đất Đại La nghe vậy, lập tức hành lễ xin nhận làm đệ tử. Cảnh công chấp thuận. Rồi chọn những người cường tráng trong lôi trang được hơn trăm người, thu nạp làm gia thần thủ hạ. Cảnh công hỏi phụ lão:
- Sao không theo phép chăng lưới mà bắt hổ, bủa lưới để bắt chúng? Dân đều theo đó phụng mệnh, kết lưới bủa vây. Hôm sau có sứ giả phụng chiếu thư đến sai Cảnh công đánh giặc. Cảnh công lệnh giết trâu bò lợn làm lễ tế cáo thiên địa và Sơn thủy bách thần, khao hương sĩ tốt địa phương, rồi cất binh tiến thẳng vào sào huyệt giặc. Lại nhờ hai người vợ chỉ dẫn đường lối núi non để đặt lưới bủa vây. Thần pháo bắn ra, bắt được giặc hổ, sai đem giết đi, lấy da làm chiếu, lấy xương treo lên. Từ ấy giặc hổ biệt tích không còn thấy nữa. Thiên hạ phút chốc được bình yên.
Vợ chồng Cảnh công cảm thán rằng:
- Sinh mệnh của hơn vạn con người chúng ta đều nhờ lòng trời trợ giúp nên mới được thế này. Vợ chồng ta từ nay đã hiển danh rồi. Bèn nói với gia thần ở bản trang ấy rằng:
- Sau khi chúng ta trăm tuổi, phàm các lễ tế tự dù có trọng hậu cho chúng ta thì cũng nên tuân theo di mệnh của vợ chồng ta. Dù mãi mãi sau này cũng thờ phụng cả 3 vị tại hai trang này. Các dịp giỗ kỵ những tướng quân chinh chiến của ta cũng như giỗ kỵ các nhà khác; Gia thần và nhân dân hai trang này đều đặt 50 khoảnh ruộng làm ruộng tư điền.
Ngày 30, có Tả tướng quân gửi thư báo về, giặc hổ lang đã thất bại bỏ chạy. Lập tức, Cảnh công làm lễ dâng biểu tấu. Vua hạ chiếu hồi triều. Phụng mệnh trở về, vương cho đặt đại yến chúc mừng, gia phong cấp bậc khác nhau. Lại ban cho Cảnh công thực ấp ở huyện Từ Liêm. Cảnh công bái tạ, quay về vùng trấn nhận Từ Liêm, thiết lập dinh cơ ở đất ỷ La trang Đại La (sau đổi là La Nội, ỷ La). Cảnh công đi đây đó xem đất, thấy một nơi địa thế sơn thủy uốn lượn, long hổ vây quanh. Núi không cao mà cảnh hữu tình, nghĩ cũng là một nơi thắng cảnh phong quang. Lập tức truyền cho binh sĩ và nhân dân thiết lập dinh sở. Hôm ấy mở tiệc Mười. Phụ lão, nhân dân trong vùng đều đến dự. Bỗng thấy trời đất chấn động, một vầng mây rực rỡ như dải lụa đào từ trên không giáng thẳng xuống trước dinh sở. Rồi hai bà vợ đột nhiên phi thân biến mất. Cảnh công than rằng:
- Than ôi! Nguyện ước lòng này, đành gửi hết vào giấc mộng uyên ương kiếp sau vậy!
Rồi Cảnh công cưỡi ngựa vượt núi mà đi, không biết Ngài hoá ở nơi nào? Hôm ấy là ngày mùng 2 tháng Chạp. Nhân dân đều giật mình kinh ngạc. Bèn làm lễ dâng tấu triều đình. Vua hạ chiếu làm lễ tế. Lại xin cho La Nội, ỷ Lan là đất “hộ nhi sở tại” được phép thờ phụng.
Các ngài được phong là:
- “Đương Cảnh thành hoàng Đô đốc linh ứng Đại vương”.
- Một vị được phong là: “Bảo thắng Phù Tô Đại vương”.
- Một vị được phong là: “Tả cung trung Hoàng hậu phu nhân”.
- Một vị được phong là: “Hữu cung trung Hoàng hậu phu nhân”.
- Hai bà được phong tặng: “Tuyên Chính, Trinh Thuận phu nhân”. (Khi hành lễ, sắc phục cấm dùng các màu hồng tía).
Lại nói, từ đó về sau khi cầu rất linh ứng. Vì vậy đế vương các đời đều gia phong mỹ tự. Đinh Tiên Hoàng bình định được loạn sứ quân, gia phong Cảnh công là “Đại vương Hiển ứng linh thông”. Thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên xâm lấn, kinh thành bị khốn. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo khắp các đền thờ thần linh. May được Cảnh công âm phù hiển ứng, bắt được Ô Mã Nhi. Thái Tông bèn phong thưởng mỹ tự là “Linh ứng anh kiệt”. Thường hiển ứng trợ giúp quân binh. Khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh là Liễu Thăng, lấy được thiên hạ, Thái Tổ gia phong: “Phổ Tế cương nghị”, lại sắc cho phép dân La Nội, ỷ La trùng tu đền miếu để thờ Ngài cho đến muôn đời. Than ôi, thật là tốt đẹp lắm thay.

Các điều tế lễ:
1- Phụng khai các ngày tiên sinh và các chữ huý, nhất thiết cấm dùng các chữ: Đương Cảnh, Linh, Tuyên, Chính.
- Chuẩn cho hai trang La Nội, ỷ La cùng thờ phụng.
2- Lễ chính nhân dịp hạ sinh thần, ngày 10 tháng Giêng, mâm trên dùng đồ chay, mâm dưới dùng thịt bò, lợn, xôi, rượu, bánh dày, ca hát, đầy tháng mới thôi.
- Lễ nhân dịp Ngài hoá, ngày 2 tháng Chạp, mâm trên dùng đồ chay, mâm dưới dùng thịt lợn đen, xôi, rượu, bánh dày.
- Lễ khánh hạ hai mùa xuân thu, lựa ngày tốt, biện lễ như trên.
- Ngày Tốt, tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ 2 (1573). Hàn Lâm viện, Đông các đại học sĩ là Nguyễn Bính phụng soạn chính bản. Quản giám bách linh Tri điện hùng lãnh Thiếu khanh là Nguyễn Hiền tuân theo bản chính cũ sao lại. Ngày Lành, tháng Tốt, trọng thu (tháng Tám) năm Vĩnh Tộ thứ 4 đời Lê (1622). Ngày Lành, trung tâm(tháng Chín), năm Thành Thái 6 phụng sao (1904).

* * *

(1) Thiên tức là chương, mục.
(2) Xem phần hai trong sách này (Tài liệu tham khảo): Các dấu vết của văn tự cổ; giải mã những chữ cổ....(tr.383).


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn