Thứ ba, 16/10/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1679
mod_vvisit_counterHôm trước1934
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (VII) E-mail
22/07/2017

SUY NGHĨ  V NHNG KHONG TRNG  TRONG THI KỲ LCH S NƯỚC TA (Tiếp theo)

Tác giả: PGS Đỗ Tòng

(Tiếp PHẦN I)

VII

Trích: “Ngọc phả truyền thư của từ đường họ Nguyễn” (quyển 2)
(Sách chép bên ngoài sử ký vùng Lĩnh Nam)
Nguyên quận Giao Chỉ trước kia thường bị Bắc quốc cai trị, chưa từng có người Nam chủ trị. (Sao lại gọi là Giao Chỉ? Vì người trong quận cổ xưa hai ngón chân cái ngoảnh vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ, dân trong quận xấu như quỷ, sau gọi là nước Xích Quỷ) (* Đây là sự giải thích sai lệch. Xích là đỏ, quỷ theo kết cấu chữ cổ là tam vương (xem chữ quỷ ở tr.81)).

Như thế lai lịch ghi rõ: Khoảng thời gian Đế Minh ở Bắc quốc tuần thú nước Nam, gặp một người con gái kỳ lạ tên là Vụ Tiên nương, Tiên nương có người chị quái dị tên là Di Nguy, học phép ma quỷ, có thể làm mây làm mưa, làm trăng, làm hoả. Vụ Tiên nương giữ mình ngay thẳng, tính chất đoan trang. Một hôm rỗi rãi, xa giá đi chơi rừng núi. Đế Minh tuần thú gặp và lấy nhau, sinh được hai con: Con cả là Đế Nghi (?), con thứ là Lộc Tục. Đế Nghi tiếp theo Đế Minh cai trị Bắc quốc, Lộc Tục về quê Mẹ cai trị Giao Quận gọi là Kinh Dương Vương, tên nước là Xích Quỷ, đất phía đông tây từ.... (mờ mất 1 cột).
Lại nói nước Nam: Động Đình tiên gia ở Thủy cung có một người con gái tên là Thần Long, thường nhàn du các chốn bờ nước Nam mình. Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, ngày rỗi đi về Nam, gặp Thần Long người Động Đình Thủy cung, lấy nhau đưa về vùng núi. Sau sinh được một con đặt tên là Sùng Lãm. Kinh Dương Vương mất, Sùng Lãm 20 tuổi lên nối ngôi, hiệu là Lạc Long Quân, chưa có gia đình, nhân về thăm quê Tổ ở phía bắc, gặp người con gái kỳ tú của Đế Lai (Đế Lai là hậu duệ của Đế Nghi, tên là Âu Cơ), lấy nhau và lập làm Hậu, sinh ra một bọc 100 con. Có lời ca mừng rằng “Con một cháu đàn, con ta có thể làm tổ tiên của Bách Việt, giàu sang, sống lâu, nhiều con trai, phúc trời nối nhau trị vì ức vạn năm.” Lạc Long Quân chợt nhớ về quê vợ, bèn chia con làm đôi: 50 con theo cha về Động Đình Thủy cung, lấy nước làm thế giới, lấy bể làm thần uy, lấy giao long kình nghê làm tướng tá, lấy cá, tôm, rùa, giải làm quân dân.
50 con theo mẹ lên vùng núi Tản Viên, lấy núi cao làm thành lũy, lấy hổ, báo, vượn, khỉ làm tướng tá; lấy voi, ngựa, hươu, cáo và các loài thú làm quân dân, cai trị thế gian, tôn người anh trưởng làm Vua, tất cả 18 đời đều xưng là Hùng Vương. Lời ngạn ngữ có câu: “Vua là Hùng Vương, Tướng là Hùng tướng, các con theo Mẹ”.
Lại nói đời Hùng Vương thứ 4, Ân vương ở Bắc quốc sang xâm lấn, mười vạn binh mã, chấn động trời đất. Hùng Vương kinh sợ, lập đàn tế lễ, điểm binh tuyển tướng, mộng thấy thiên thần xuống giúp, sai sứ tìm được Thần tướng sinh tại huyện Tiên Du, xứ Phù Đổng. Lúc đó Thần tướng mới lên 3 tuổi, trước đó không biết nói, nay thấy sứ đến tự phát ra lời Mười sứ vào bảo rèn cho ngựa sắt, roi sắt. Ngựa, roi đưa đến, Thiên tướng cưỡi ngựa sắt đánh đuổi giặc. Xong về đến An Việt, Vệ Linh ngàn, phi ngựa lên mây về Trời. Hùng Vương kính mộ ân đức, sức cho tráng dân, lập miếu, lấy ngày 8 tháng Tư làm ngày giỗ Thần, thờ cúng mãi mãi.

VIII

Trích dịch: Ngọc phả truyền thư của từ đường họ Nguyễn (quyển thứ 2)

Năm Tân Mùi (971) niên hiệu Thái Bình, tháng Hai, ngày Tốt - Đinh Tiên Hoàng sai ta triệu tập 12 Sứ quân hợp nhất cùng tôn Đinh Bộ Lĩnh làm Vua (Thiên tử).
Đến ngày 20 tháng Hai (cùng năm) Đinh Tiên Hoàng cùng các khanh tướng đến nhà Tổ Bách Việt (miếu Hùng Vương) làm lễ dâng hương để báo ơn công đức. Lại phong ta cùng người em là Nguyễn Bặc làm Quốc công, lập ra các Ban, trùng tu miếu, điện, cấp tỉnh điền (CT: Nguyên bản viết là “tỉnh điền”. Có cách hiểu khác là ruộng cấy lấy hoa màu (hoa lợi) để cúng tế thì gọi là “tự điền”, “tế điền”.) Ruộng nằm ở giữa là của nhà thờ, cho người cày cấy ở 8 thửa xung quanh làm, nộp sản phẩm cho nhà thờ để lo việc đèn nhang đời đời về sau.
Thiết nghĩ, thân cây có muôn cành lá, vốn bởi ở gốc, nước có ngàn dòng vạn nhánh, vốn bởi ở nguồn. Mọi vật còn như thế, huống chi người ta sinh ra, đều thừa kế từ Tổ tiên ngày trước. Nay tiên tổ ta, lấy đạo Cần (siêng năng) mà vun gốc, lấy đạo kiệm (chắt chiu) mà mở rộng nguồn, đời đời tích lũy đức NHÂN, vậy nên cháu con nhờ đó mà nối được.
Là con cháu, há chẳng nhớ về ngọn nguồn xa xưa, vậy nay lập thành gia phả, ghi lấy mồ mả tổ tiên ta ở nơi nào, giỗ ngày nào, cho đến các cành nhánh, thế thứ đều có ghi chép để cho con cháu mai sau nối dõi, mãi mãi noi gương.
*

Các đời tổ sư, xứ cửu liên hoa (23)

(CT: Liên hoa: Nghĩa đen là hoa sen. Vậy nghĩa đen ở đây là chín toà sen.)

Tổ ta từ núi Tản Viên xuống dựng nghiệp, làm các nghề: Thầy thuốc, làm ruộng, trồng dâu, nung gạch ngói, rèn kim khí ở miền Tây. Giáo hoá chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc, mở nhà truyền kinh, có công mở nước, có đức che chở cho dân, cho nên đời sau tôn làm Tiên Phật để cúng thờ. Cả thế giới chịu ơn lớn, cùng tôn sư trọng đạo, xin làm đệ tử đều nhớ về Tổ ta, chiêm ngưỡng ở các đền (thờ Thần), các chùa (thờ Phật).
Từ núi Tản Viên đến Tây Phương Cực Lạc, Sài Sơn, Thổ Ngoã, Phụng Châu, Tiên Lữ đến tướng địa Phong Châu tạo thành đất tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng; tam đầu (Tam Đảo, Ba Vì); cửu vĩ (9 miếu ở Phong Châu, đó là Cửu Long) truyền đời mãi mãi.
Dáng Tứ Linh, Cửu Long tượng trưng cho địa thế. Tổ ta định đô từ Lôi Bằng đến Lôi Phong, Lôi Đỉnh. (Lôi Bằng, đời sơ khai định đô, Lôi Phong đời Kinh Dương Vương; Lôi Đỉnh thời Triệu Vũ Đế).
Buổi sơ khai, tên nước là Cực Lạc. Phật hiệu là Di Đà, sinh ra ở Hoà Bình, nơi ở là núi Tản Viên, hoá ở Tây Phương Cực Lạc, mộ ở chân núi. Kỵ ngày Một tháng Tư.
Đế Thiên (Phục Hy) mộ ở Chợ Giời, Sài Sơn (Quốc Oai, Sơn Tây). Kỵ ngày mồng Bốn tháng Tư (CT: Cúng theo lệ vào mồng 4 tháng Tư. Tục lệ ở ta thường cúng giỗ vào trước ngày kỵ để tỏ lòng hiếu nghĩa.

- Theo truyền thuyết thì Đế Thiên (Phục Hy) thờ ở núi nơi có chùa Tây Phương ở thôn Yên(Yên thôn) xã Thạch xá, Thạch Thất, Hà Tây hiện nay. Cách đó vài trăm mét có đồi (núi) thuộc thôn Yên Lạc, xã Cần kiệm,Thạch Thất, Hà Tây, có chùa Cực Lạc, nơi thờ Địa Mẫu.
- Đế Viêm là Phục Hy: còn Đế Khôi, Thần Nông là một vị).

Địa Mẫu (Mẹ Đất) mộ ở Cực Lạc, bên cạnh chân núi. Kỵ ngày mồng Một tháng Tư. Mẹ Đất dạy dân chuyên nghề làm ruộng, trồng dâu và chăm lo cứu khổ chúng sinh. Đời sau truy tôn là Địa Mẫu Chân Tiên.
Đế Viêm là người mở ra con đường văn minh sớm nhất: đã biết dùng lửa luyện kim, nung gạch ngói, biết se sợi, bện dây may mặc, biết phân định âm dương, ngũ hành, vạch quẻ bát quái.
Đế Viêm bị một học trò tên là Hiên Viên làm phản, đuổi Đế Viêm ra ngoài. Vì tuổi già sức yếu, ngài mất ở trên đường sang Phương Bắc. Bà vợ mất ở núi Thổ Ngoã.
Đế Khôi, hiệu là Thần Nông mất ở Phụng Châu, sau cải táng đưa về Tỉnh Trung, Đình Sở, huyện Quốc Oai (núi Tiên Lữ, đất Cổ Pháp). Mộ cụ Ông, cụ Bà đều ở khu này. Ngày kỵ mồng 6 tháng Sáu, trong các đền thờ Thần gọi là lễ hạ điền. Trên toàn cõi Đông Nam á, các ngày lễ đầu năm, cuối vụ (thượng điền, hạ điền, cơm mới) đều dâng hương làm lễ để nhớ ơn.
Hữu Sào, Toại Nhân (CT: Theo các sách sử khác thì Hữu Sào và Toại Nhân chỉ là chuyện huyền thoại, không có thực.) là bạn thân của Đế Viêm. Khi Hiên Viên mưu phản làm loạn, hai ông cất quân đánh đuổi Hiên Viên ra khỏi bờ cõi. Từ đó, Hiên Viên tự lập bên Bắc Quốc, xưng là Hoàng Đế, đóng đô ở Trường An, khởi nghiệp, giáo hoá dân sinh. Hiên Viên đã học nghề làm ruộng, trồng dâu, học văn tự, luyện kim, nung gạch ngói bên nước Nam của Phục Hy.
Hữu Sào, Toại Nhân nhiếp chính giúp Thần Nông giữ nước, yên dân. Khi Thần Nông trưởng thành lên ngôi Thiên Tử, đóng đô ở Phụng Châu, Long Môn, Trầm Sơn (núi Trầm). Hai vị cáo tuổi già về quê ở Sào Vực, chợ Thổ Long, huyện Chương Mỹ, nuôi Quốc Mẫu Diệu Trinh nương và 3 vương tử văn võ toàn tài cùng giúp Thần Nông giữ yên muôn dân. Hai ông hoá ở nơi này.
Đế Tiết sinh ở Phụng Châu, hoá tại xã Thanh Lãm. Mộ tại Hoàng Anh Mộc. Kỵ ngày mồng 9 tháng Giêng. Các Hoàng hậu và Vương phi, mộ đều ở đây.
Đế Thừa, huý Sở Minh công, sinh ở núi Sở (cho nên gọi là Sở Minh công) nối ngôi xưng Đế, hiệu là Đế Thừa, hoá ở núi Sở, Tiên La, châu Thuần Lãm. Các mộ của Hoàng Hậu, Hoàng Phi đều ở đây. Kỵ ngày mồng 1 tháng Sáu.
Đế Minh (con trưởng của Đế Thừa), húy là Nguyễn Minh Khiết. Sinh ở tướng địa (đất quý) Tiên La, hoá ở Định Công (Hà Nội). Kỵ ngày 12 tháng Hai. Mộ ở chân núi Định Công. Hoàng Phi, mỹ nhân đều để mộ ở đây.
Đế Thừa (Sở Minh công) sinh được 3 con trai:
Thứ nhất là: Nguyễn Minh Khiết làm Đế Phương Nam.
Thứ hai là: Nguyễn Nghi Nhân là Đế Nghi, Phương Bắc.
Thứ ba là: Nguyễn Long Cảnh, còn gọi là Lý Lang Công. (tên khác là Ba Công, Long Đại Vương), hoá tại thôn Nguyệt áng.
Đế Minh lấy Vụ Tiên nương (sinh ở Ngõ Hồ, hoá ở Phong Châu, mộ ở Nội Vũ, chùa Đại Bi, làng ỷ La.
Đế Minh lấy thứ phi, hờ hững với Vụ Tiên nương nương. Bà cùng 8 người anh em đến động Tiên ở tỉnh Hoà Bình tu hành giáo hoá dân sinh. Khi Kinh Dương Vương trưởng thành lên nối ngôi, đón Thân mẫu về Phong Châu tu hành tại chùa Đại Lôi Âm. Ngày sinh mồng 8 tháng Tư, hoá ngày 15 tháng Bảy. Sau này Bà được tôn là Hương Vân Cái Bồ Tát, Sa Bà Giáo chủ có công sáng lập đạo hiệu Bà La Môn. Mộ ở ỷ La, thành Đại La. Đạo Tiên tôn làm Thánh Mẫu đệ nhất tiên thiên.
Từ cổ đến nay chỉ có một nước. Nay phân là 3 nước, ắt phải có 3 vương, nên Kinh Dương Vương lấy 3 chữ Vương hợp lại thành chữ Quỷ, gọi tên nước là Xích Quỷ. Đời sau, gọi ba ông là Tam Toà Đức Chúa Ông, đạo tiên gọi là Phủ - Tam Phủ Công Đồng ( CT: Đạo Tiên hay gọi là đạo Nội, thờ tam toà Thánh Mẫu. Tam phủ gồm: Thiên phủ (trời), địa phủ và thuỷ phủ. Và sau thêm nhạc phủ (nhạc là núi rừng) đó là tín ngưỡng của người Việt cổ, tồn tại cho đến ngày nay.)

sự tích nước xích quỷ, tổ là
kinh dương vương, tên chữ là phúc lộc (CT: Xem kỹ ở bài tóm tắt của người sưu tập về các thế hệ thời trước và sau Kinh Dương Vương (ở mục XXIII phần một, tr 267-273))

Tổ Kinh Dương Vương, húy Quảng (CT:Có chỗ gọi là Quăng.), Quốc sử gọi là Lộc Tục, tên chữ là Phúc Lộc, con của Thánh tổ Nguyễn Minh Khiết và Vụ Tiên. Khi nhỏ ở động Tiên Phi tỉnh Hoà Bình, sau ngày đánh thắng Ma Mạc ở Tử Di Sơn, được Phụ Vương phong làm Kinh Dương Vương, cho cai trị đất Kinh Châu, Dương Việt, có chú là Long Cảnh cùng Bát Bộ Kim Cương phù trợ. Khi Đế Minh băng hà, 15 bộ đồng lòng tôn ốc tổ làm Thiên tử, sau tôn hiệu là Nam Triều Thánh tổ Ngọc hoàng Thượng Đế, hoá ở Phong Châu. Mộ ở núi Hoa Cái. Kỵ ngày 25 tháng Chạp. ốc tổ lấy con gái Động Đình Quân, tên bà là Đăng Ngàn, về ở núi Nghĩa Lĩnh, hoá ngày 3 tháng Ba, an táng ở nơi gọi là Xích Hậu, thôn Văn La (trước cửa đình). Đời sau tôn hiệu là Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu.
ốc tổ sinh được 5 người con. Một bị mất sớm. Bốn vị là Tứ Phủ, có tứ vị Triều Bà, gọi là Tứ Phủ Công Đồng.
Tên gọi 5 người con như sau:
- Con trưởng là Nguyễn Nghiêm huý là Hùng Nghiêm, đời sau tôn là Phong Thần. Kỵ ngày 16 tháng Mười. Mộ ở sau đình Văn Nội.
- Con thứ là Nguyễn Quyền huý là Hùng quyền, tên chữ là Pháp Vân. Kỵ ngày 7 tháng Chạp. Mộ ở sau đình Văn Nội.
- Con thứ ba là Nguyễn Đô, huý là Vũ Thiên Hầu, tên chữ là Pháp Vũ. Kỵ ngày 4 tháng Tư. Mộ ở sau đình Văn Nội. Sau chiêu hồn nhập mộ.
- Con thứ tư là Nguyễn Khoản (sử ký là Sùng Lâm) là Lạc Long Quân. Mộ để ở Ba Đống đồng Thượng Bảo Đà. Kỵ ngày 28 tháng Hai.
- Con thứ năm là Nguyễn Hoạch, tự là Pháp Điện, huý là Quang Anh. Táng tại miếu Công Minh, châu Bảo Hà. Kỵ ngày 15 tháng Năm.
*
Tứ phủ thần linh
1) Đệ nhất: Thiên Tiên Hương Vân Cái Bồ Tát, Sa Bà Giáo Chủ.
2) Đệ nhị: Thượng Ngàn, Hoàng Hậu, vợ của Kinh Dương Vương, Quốc Mẫu của nước Xích Quỷ.
3) Đệ tam: Thuỷ Phủ, Hoàng Hậu vợ của Lạc Long Quân. Con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, huý là Mỹ, ở động Lăng Sương (thuộc đất Tam Thanh, Phú Thọ), lại có tên (không rõ). Đến thời Trịnh Vương phong tặng là Căn Kỷ công chúa và ban tặng họ Ngô. Kỵ ngày 5 tháng Năm. Mộ ở Tường Quang.
4) Đệ tứ: Khâm sai Hùng Quốc Vương Hoàng Hậu, huý là Hoàng Trung Quốc Mẫu, hiệu Từ Diên, người thôn Hoàng Trung, con gái Lạc Tướng Chu Diên. Mộ ở xứ Đồng Trúc (Đền trong). Kỵ ngày 26 tháng Giêng.
*
sự tích ốc tổ kinh dương (dị bản)
Xưa họ Hồng Bàng, Dương Vương là hậu duệ của Thần Nông. Kinh Dương Vương huý Quăng (quốc sử là Lộc Tục) sinh ra Lạc Long Quân, huý là Khoản (quốc sử là Sùng Lãm).
Bấy giờ, con gái Đế Lai là ÂU CƠ, tên Mỹ, lại có tên là…(không dịch được). Về sau, Trịnh Vương Thế Tổ Minh Khang (Trịnh Kiểm) tặng họ là Ngô, tên là Căn Kỷ Công Chúa ở động Lăng Sương. Có thuyết khác: Vương Mẫu Tổ (Tổ của Vương hậu) ở huyện Thanh Nguyên, châu Sơn Du, Trường Sa. Có thuyết khác: Thánh Mẫu Thâm Tang sinh ra ở châu ứng Thiên, chân núi huyện Bất Bạt (hiện nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Tây.
Long Quân vì sắc đẹp của Bà, bèn có chuyện riêng với nhau, mang thai 10 tháng, sinh ra một bọc trăm trứng. Sau 7 ngày trứng nở ra 100 con trai, không bú mớm gì mà trưởng thành. Thoạt đầu, sinh ra ở bản Châu, nên lấy bản Châu làm đất Tổ. Một hôm, Long Quân nói với Âu Cơ: “Ta vốn giống Rồng, nàng là giống Tiên, số phận không giống nhau, xum họp thật khó khăn, hãy cùng nhau tương biệt, chia 50 con theo cha về biển làm Thủy thần!”. Đó là:
01) Lân Lang Vương 02) Xích Lang Vương
03) ái Lang Vương 04) Mật Lang Vương
05) Thái Lang Vương 06) Vĩ Lang Vương
07) Đổng Lang Vương 08) Yến Lang Vương
09) Tiêu Lang Vương 10) Diệu Lang Vương
11) Tĩnh Lang Vương 12) Vân Lang Vương
13) Tập Lang Vương 14) Ngô Lang Vương
15) Cấp Lang Vương 16) Tiêm Lang Vương
17) Hộ Lang Vương 18) Thần Lang Vương
19) Hoan Lang Vương 20) Chiêm Lang Vương
21) Khương Lang Vương 22) Hạo Lang Vương
23) Tuần Lang Vương 24) Tán Lang Vương
25) Quyền Lang Vương 26) Đường Lang Vương
27) Kiều Lang Vương 28) Dũ Lang Vương
29) Từ Lang Vương 30) Tảo Lang Vương
31) Liệt Lang Vương 32) ….Lang Vương
33) Nhiễu Lang Vương 34) Lý Lang Vương
35) ...........Lang Vương 36) Tường Lang Vương
37) Định Lang Vương 38) Sát Lang Vương
39) Hạnh Lang Vương 40) Minh Lang Vương
41) Sái Lang Vương 42) Chiểu Lang Vương
43) Kết Lang Vương 44) Mặc Lang Vương
45) Trường Lang Vương 46) Khuynh Lang Vương
47) Tẩm Lang Vương 48) Thai Lang Vương
49) Triệu Lang Vương 50) ích Lang Vương

50 con theo Mẹ về Núi làm Sơn thần. Đó là:
01) Hương Lang Quân 02) Kiếm Lang Quân
03) Thận Lang Quân 04) Văn Lang Quân
05) Vũ Lang Quân 06) ......... Lang Quân
07) Tịnh Lang Quân 08) Hắc Lang Quân
09) Quản Lang Quân 10) Cao Lang Quân
11) Tề Lang Quân 12) Tịnh Lang Quân
13) Mã Lang Quân 14) Thiệu Lang Quân
15) Khang Lang Quân 16) Chỉnh Lang Quân
17) Đào Lang Quân 18) Nguyên Lang Quân
19) Cẩm Lang Quân 20) Xuyến Lang Quân
21) Yêu Lang Quân 22) Thiếp Lang Quân
23) Bái Lang Quân 24) Tài Lang Quân
25) Lạm Lang Quân 26) Biện Lang Quân
27) Triều Lang Quân 28) Quán Lang Quân
29) Canh Lang Quân 30) Thải Lang Quân
31) Lôi Lang Quân 32) Tú Lang Quân
33) Việt Lang Quân 34) Thuật Lang Quân
35) Bị Lang Quân 36) Triệu Lang Quân
37) Khuê Lang Quân 38) Lộ Lang Quân
39) Quế Lang Quân 40) Diêm Lang Quân
41) Nhị Lang Quân 42) Huyền Lang Quân
43) Tào Lang Quân 44) Nguyệt Lang Quân
45) Lâm Lang Quân 46) Long Lang Quân
47) Lý Lang Quân 48) Tuấn Lang Quân
49) Linh Lang Quân 50) Huệ Lang Quân (CT:Chú ý: 50 vị theo cha trên không mang hiệu Hùng Vương mà gọi là Lang Vương; Còn 50 vị theo Mẹ cũng không gọi là Hùng Vương mà gọi là Lang Quân. Những chỗ…….. là những chữ không rõ hoặc chưa dịch được. )

Trước sau họ Hùng có Bách Thần Sông Núi, thường hay ứng hiệu, biến hoá thần thông, âm phù giúp nước, giúp dân. Bách Thần cũng thường hay ứng mộng vào làm con các nhà. Nhà nào có phúc thì được.
Trong Bách Thần có 18 triều vua, gọi là 18 Long Thần Già Lam thân xuất, hoặc 18 La Hán, huý là 18 Hùng Vương.
*
miếu và mộ bách thần

Thế đất núi Nghĩa Lĩnh, hình chữ Tâm, nơi để mộ của nhà Vua ở Đông Trù, đằng sau chùa khu Văn Nội.
*
miếu và mộ các hoàng hậu,
vương phi mỵ nương, công chúa

Núi Nghĩa Lĩnh có hình thế Tiên nữ dâng lụa ở Thuần Lãm, khu châu (tức là bãi ĐT) Đồng Nhân.
Núi Nghĩa Lĩnh có thế đất Tiên nữ dâng đào ở khu Nhân Mỹ, cửa Nhân Trạch.
*
có 18 triều vua được tôn huý hùng vương
01) Hùng Vương Quốc, huý là Lâm Lang. Kỵ ngày 28 tháng Năm. Mộ ở miếu Văn Nội. Lễ rước Thánh giá (Hội Đồng phù nước ngày 11 tháng Giêng).
02) Hùng Hiền Vương, tên là Đại Lang.
03) Hùng Hoa Vương, tên là Bảo Lang
04) Hùng Hy Vương, tên là Bảo Lang, nhưng nét chữ khác với Hy vương ở dưới: .
05) Hùng Huy Vương, tên là Tiêu Lang.
06) Hùng Chiêu Vương, tên là Quốc Lang.
07) Hùng Vĩ Vương, tên là Vân Lang.
08) Hùng Định Vương, tên là Thận Lang.
09) Hùng Hy Vương, tên là Long Lang. (Cũng chữ Hy nhưng nét khác).
10) Hùng Trinh Vương, tên là Đức Quân Lang.
11) Hùng Vũ Vương, tên là Đức Hiển Lang.
12) Hùng Việt Vương, tên là Hiệu Lang.
13) Hùng Anh Vương, tên là Viên Lang.
14) Hùng Triệu Vương, tên là Đô Hiến Lương.
15) Hùng Triều Vương, tên là Chiêu Lang.
16) Hùng Tạo Vương, tên là Huy Lang.
17) Hùng Đôn Vương, tên là Bảo Long Lang.
18) Hùng My Vương, tên là Huệ Lang (CT:Xem thêm ở phần phụ lục.)
Mười tám Triều vua Hùng do có công cai quản 15 Bộ (CT: Thực tế thời Văn Lang, địa giới rất rộng và có rất nhiều bộ tộc Bách Việt. Nhưng trong các sử sách của ta cho đến nay chỉ nói 15 bộ với địa giới trong phạm vi hẹp gồm vùng Quảng Đông, Quảng Tây ( của Trung Quốc hiện nay) và một phần nước Việt Nam hiện nay? Xem ở dưới, mục: Bảng các bộ tộc Bách Việt.) được đời sau an táng ở thế đất Cửu Long, tổng Thắng Lãm, gồm 9 miếu, hình 9 con rồng, nơi điện thờ chung ở khu Văn Nội, cố đô Phong Châu, đền Bách Linh.
Nơi mộ nhà Vua, khu miếu Văn Nội, miếu Văn La, miếu Văn Phú, miếu Trinh Lương, miếu Huyền Kỳ, miếu Đông Lãm, miếu Sở (núi Sở), Tiên La, Thuần Lãm, đó là Cửu Long. Một miếu lạc ra ngoài, gọi là Lạc Long. ở Bảo Đà gồm 10 miếu. Sau suy tôn hình Cửu Long và nhất phượng để thờ phụng ở các Đại Hùng Bảo điện của các chùa.

* * *


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn