Thứ tư, 18/10/2017
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay687
mod_vvisit_counterHôm trước1755
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo) E-mail
26/09/2017

SUY NGHĨ  V NHNG KHONG TRNG  TRONG THI KỲ LCH S NƯỚC TA (Tiếp theo)

Tác giả: PGS Đỗ Tòng

(Tiếp PHẦN I)

X

Bách việt tộc phả cổ lục khởi tổ Sở Minh Công
(Trích dịch)

Người ta sinh ra là có họ tên nhưng chưa có chữ ghi chép, chưa dựng nước. Dòng họ nào duy trì được nòi giống, lắm con nhiều cháu thì không thể bị kẻ khác bắt nạt. Trải qua 7 nghìn năm, họ ta đi đến đâu cũng trồng cây đa lấy bóng mát, lấy quả làm gia vị và thức ăn độn, lấy da thú làm áo mặc, lấy lá cọ che mưa che nắng.
Bên cạnh cây đa thì đắp một cái hang và một cái giếng. Khi chết cũng được chôn ở đây; các di tích này đến nay vẫn còn khắp đất nước. Họ trồng đa lúc sống, lúc chết chôn ở gốc đa, nên gọi là họ Phục Hy.
Việc trồng đa còn để dễ tìm họ hàng và người cùng họ có trách nhiệm giúp nhau. Cuối đời Phục Hy, do một người quản gia ( CT:Tên người nay là Hiên Viên) làm phản, chiếm đọat trang điền, đuổi con cháu trong dòng trưởng đi, xưng là Hoàng Đế. Dòng họ trưởng còn sót lại một người đến bộ Vũ Ninh (nay thuộc chợ Rồng Đất, Chương Mỹ).
Ông lớn lên chăm chỉ chuyển hướng lúa nương sang trồng lúa nước, trồng dâu, dệt the, nếm cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh, nên người trong nước gọi là vua Thần Nông. Được lòng người cho nên dân trong nước đánh đuổi hoàng đế Hiên Viên khôi phục cơ nghiệp cho ông ở làng Sở. Đổi tên gọi là Sở Oai.
Ông mất ở đây vào ngày Tết mồng 10 tháng Mười, an táng ở đất Tiên La. Mộ ông gọi là gò Sở đến nay vẫn còn. Cả hai ngôi mộ của Bà vợ. Hàng năm cứ ngày mồng 1 tháng Sáu làm lễ hạ điền, dân cùng quan viên đến làm lễ tại khu đất này.
Thời bình các vua quan cũng về làm lễ. Lễ thượng điền khi cày cấy; làm lễ cơm mới (sau khi gặt). Khắp nơi trong nước đều có làm lễ này gọi là lễ Thần Nông.
Ông lấy vợ và sinh 3 con trai là:
1. Nguyễn Minh Khiết.
2. Nguyễn Nghi Nhân.
3. Nguyễn Long Cảnh.
Đời sau tôn làm Tam phủ công đồng. Trong phả còn ghi một người là Thúc phụ, quan Thái sư Nguyễn Nỏ, cũng chính là Long Cảnh.
*
Thủy Tổ Khảo
1. Nguyễn Minh Khiết (Thái Khương công, Khương Thái Công)
Nguyễn Minh Khiết và Nguyễn Nghi Nhân là hai anh em sinh đôi giống nhau. Nguyễn Long Cảnh là em út. Ba anh em kế nghiệp cha, chia nhau phần đất, phần dân cùng khai phá, xây dựng đất nước.
Một người cai quản miền bắc Việt Nam và phía cận nam Trung Quốc ngày nay; một người sang ở Ô Châu, lập nên nước Sở. Một người cai quản bờ cõi Chiêm Thành, Chân Lạp, An Lão (?) hình thành 3 nước (vùng đất) riêng, có lộc cùng chia sẻ, có hoạn nạn cùng nhau cứu trợ.
Thủy tổ đến vùng hồ mây mù (Dâm Đàm) đánh cá, gặp một nàng tiên ở đây và lấy làm vợ, sinh Nguyễn Lộc Tục, sau bỏ vợ và lấy vợ bé ở làng Định Công.
Về già, ông mất ở đây, mộ được táng trong một cái ao trước cửa đền làng Định Công. Hằng năm cứ đến ngày mồng 1 tháng Hai, ba làng: Xốm, Định Công và Đình Gừng (CT:Đình Gừng tức là Khương Hạ) cùng nhau mở hội, cùng lễ nhận anh em và lễ tết bao giờ làng Xốm vẫn là chủ lễ.
2. Nguyễn Nghi Nhân được gọi là Đế Nghi, làm chủ ở Ô Châu, sinh ra dòng Sở Hùng Thông. Ông mất ở nước Sở.
3. Nguyễn Long Cảnh tuy được chia đất, nhưng cùng anh em chăm lo việc cày cấy, sau mất ở làng Đám Nguyệt, huyện Thanh Trì (Hà Nội). Hiện mộ đã bị làm nhà đè lên. Cái ao này ở trước nhà ông QuảngNguyễn Đình. Ông được thờ ở tại làng này (xem sự tích trầu cau, bản gốc).
Ba anh em ông được giới phật tử tôn là Đức Chúa Ông. Đạo Nội gọi là Tam phủ công đồng, được cả nước tưởng nhớ, thờ cúng. Ba Đức Chúa Ông có 7 người con.
Khi trong nhà có việc lo sợ hãy gọi:
“Ba hồn bảy vía người ấy về cứu mạng”
*

Thủy Tổ Tỷ Hương Vân Cái Bồ Tát
Đỗ Quý Thị (Quý bà họ Đỗ)
Có tên là Ngoan, bị chồng bỏ thì đem con vào Động Tiên Phi (ở tỉnh Hoà Bình) tu hành, dạy dân làm điều thiện, bỏ điều ác và nuôi con là Nguyễn Lộc Tục trưởng thành. Đạo hiệu là Diệu Tín Thiền Sư.
Trong nước có giặc Ma Mạc quấy phá ở núi Tử Di Sơn, Bà cho con đem bánh chưng, bánh dày dâng lên Đức Ông Nguyễn Minh Khiết (hiệu Thái Khương công). Được Đức Ông khen và giao cho binh quyền dẹp giặc. Nguyễn Long Cảnh là chú thấy cháu là con trưởng còn ít tuổi, xin anh cho đi cùng với cháu.
Dẹp được giặc Ma Mạc, Lộc Tục lúc trở về đi qua hồ Động Đình, được Động Đình quân gả con gái cho, đó là Mẫu Thượng Ngàn. Còn có 8 anh em trai của Bà (có nghề rèn đúc đồng, làm vũ khí) là:
1. Đỗ Xương
5. Đỗ Chương
2. Đỗ Triệu (Tiêu)
6. Đỗ Dũng
3. Đỗ Hiệu (Kỹ)
7. Đỗ Bích
4. Đỗ Cường
8. Đỗ Trọng (CT:Xem kỹ ở điểm XXIII dưới đây )
Đời sau, tôn hiệu Bà là Hương Vân Cái Bồ Tát (Tây Vương Mẫu). Người dân tộc Mường- Hoà Bình gọi Bà là Sơn trại Chúa Mường.
Tám em trai Bà được tôn hiệu là Bát Bộ Kim Cương bồ tát.
Bà sáng lập ra đạo Bà La Môn. Người Kinh theo đạo này gọi Bà là Nương và đạo Bà Nàng.
Mộ của Bà đặt ở vùng Ba La ngày nay. (Mộ thật của Bà không biết ai đã cho chuyển về Mả Thạch (Tiên Đào) Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây (?)
Tượng Bà chuyển di đến Đông Lao - Hoài Đức. Người ta lầm tưởng đó là tượng Nguyễn Công Triều.
Nếu trong nhà có điều lo sợ cho một phụ nữ hãy gọi:
“Ba hồn chín vía người đó về che chở cho con cháu”.
Khắp đất nước các chùa đều đặt trước Tam Bảo một toà tượng Cửu Long. Đó là 9 con rồng tượng trưng cho 9 con suối và 9 ngôi mộ các Vua Hùng đã có công sinh ra 9 họ Hùng Vương gọi là Thủy tổ Cửu tộc. Còn tượng bà Hương Vân Cái Bồ Tát đứng trong vòng càn khôn của toà tượng này. Trong vòng càn khôn, không phải là tượng Thích Ca Sơ Sinh (CT: ở Việt Nam có tục thờ Thần đằng trước, Phật đằng sau (tiền thần, hậu phật). Ơ các làng thường một bên đền, một bên chùa (đền, chùa gần với nhau).
Theo tộc phả Bách Việt thì Thích Ca Mâu Ni đã đến đây tu thành chính quả. Thích Ca sinh ra cách nay hơn 2.545 năm, tức hơn 500 năm trước công nguyên. Còn trên đất Việt xa xưa cách đây 5.000 năm đã có đạo Sa Bà (?). Theo phả cũ còn nói rõ: Đây là trung tâm giáo chủ của 37 vương quốc theo đạo Sa Bà? Về sau, Thích Ca đã sang đây tu thành chính quả.). Toà tượng Cửu Long còn là biểu tượng sự tích Rồng Tiên.
Rồng (Thổ Long) đắp bằng đất, có con dài đến ba cây số để đánh dấu khu nghĩa địa an táng dòng họ các Vua Hùng.
Tiên (Địa Tiên) đắp bằng đất, có tên là Tiên Na và Tiên Đào. Tất cả các di tích ngày nay vẫn còn (Tiên Đào, các cơ quan đã làm nhà, hợp tác xã đào đất đóng gạch, gần hết). Mỗi chùa thờ ở Tam Bảo đều có một nàng tiên dâng na, một nàng tiên dâng đào là do sự tích này (số là các nghĩa lĩnh an táng dòng họ các Vua Hùng).
Ngày mồng 8 tháng Tư là ngày đản (CT:Đản là ngày sinh. Xưa nay ở nước ta hằng năm thường lấy ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch là ngày Phật đản, tức ngày sinh của Phật. Đây chính là ngày đản của Hương Vân Cái Bồ Tát?) Đức Hương Vân Cái Bồ Tát. Ngày rằm tháng Bảy là ngày hoá của Bồ Tát.
Làng Vân Lôi ta dòng trưởng có ruộng nhà thờ, gồm 100 mẫu chia cho ba thôn.
Mã sắm trong ngày lễ giỗ phải như sau:
- Một cái mũ chéo có tàn vàng tán tía.
- 18 mũ bình Thiên cho 18 Vua Hùng có công thống nhất đất nước.
- Một con voi vàng, một con voi đen, một con ngựa hồng, 100 hầu gái, 100 con trâu bò, 100 con lợn, cờ và võng lọng.
- Một ông nốt 3 đầu người mình rắn.
- Một ông nốt 9 đầu người mình rồng.
- Một ông nốt 12 đầu người mình rồng.
- Một ông nốt 11 đầu người mình rồng.
- Xiêm y cho 12 tiên nương, 18 địa ngục.
Lễ ba ngày, ba đêm, mỗi năm hoá mã ở một vùng đất để nhớ rằng đây là nơi yên nghỉ của các Vua Hùng và Lạc Hầu, Lạc Tướng.
*
Ốc tổ bách việt triều thánh tổ
đệ nhất quảng giáo Kinh dương vương

Kinh Dương Vương húy Nguyễn Lộc Tục tự là Phúc Lộc (đổi họ Thần Nông thành Hồng Bàng) là con trai trưởng của Thái Khương Công - Nguyễn Minh Khiết và bà Hương Vân Cái Bồ Tát.
Thánh tổ thuở mới sinh bị cha đuổi hai mẹ con, lấy vợ khác. Bà giận thân đem con đi tu ở Hoà Bình. Khi Thánh tổ lớn lên đánh được giặc Ma Mạc và được Động Đình quân đem Mẫu thượng Ngàn gả cho.
Nhân đóng quân ở đất Kinh Châu, Dương Việt, Đức Ông Nguyễn Minh Khiết phong cho Thánh tổ làm Kinh Dương Vương. Từ đấy đất nước thanh bình, nhân dân an lạc.
Khi cha Nguyễn Minh Khiết mất, đất nước của cha ông do các em của Người trị vì. Nhưng cả 15 bộ tộc đều tôn con trưởng lên nắm quyền cai quản đất nước. Ngài đặt tên nước là Xích Quỷ. Thời ấy thường lấy da thú làm quần áo, đội sừng trâu bò lên đầu, trà trộn vào muông thú để săn bắn.
Ngài lập lên kinh đô ở Phong Châu là bến Ong làng Xốm ngày nay, chính là vùng đất Đa Mì con cháu hiện ở và đang sử dụng.
Ngài làm Vua nhiều năm, sinh nhật vào ngày 15 tháng Tám âm lịch, mất vì tuổi cao ngày 25 tháng Chạp âm lịch. Mộ táng tại động Ngọc Thanh, đai thứ ba của núi Hy Sơn (còn gọi là Hoa Cái Sơn) là chỗ giáp ranh hai làng Quang Lãm và Văn Nội ngày nay.
Đền thờ 24 toà đã chuyển cho 24 làng thuộc đất Đại La cũ.
Nhưng lễ hội vẫn theo đúng ngày 23 tháng Chạp, là Tết ông Công, ông Táo. Ngày 24 tắm, ngày 25 về chầu. Nghĩa là cả nước ta lễ tiễn thành hoàng Đức Ông Bản cảnh, đi vào ngày 23 và ngày 24 làm lễ tắm gội cho các vị thần bản địa. Ngày 25 về chầu Kinh Dương Vương (theo các truyền thuyết dân đã suy tôn Kinh Dương là Ngọc Hoàng giáng sinh). Nơi thờ Người gọi là Thiên đình (nhà trời), tượng thờ gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế.
*
Tổ mẫu
(Vợ Kinh Dương Vương)
Là con gái Động Đình quân, dậy dân nuôi tằm, trồng dâu, dệt the lụa, sồi, đũi. Có nơi gọi là bà Chúa Tằm. Bà mất vào ngày 3 tháng Ba âm lịch, cho nên từ đó về sau lấy tháng 3 là ngày cúng giỗ những bà mẹ, trên dưới lần lượt hết ngày 15 tháng Ba. Mộ Bà an táng tại cửa làng Văn La, tổng Phú Lãm, đặt tên là Xích Hậu, nghĩa là hoàng hậu nước Xích Quỷ (mộ vẫn còn). Cả nước xưa lấy ngày này làm ngày quốc lễ, coi nơi ấy là quê hương của một vị Quốc mẫu.
Người sinh được 5 con trai và một con gái. Năm con trai tên là:
1. Nguyễn Nghiêm (tu hành)
2. Nguyễn Văn Bé (chết trẻ, mãnh tổ)
3. Nguyễn Lâm (Sùng Lãm)
4. Nguyễn Quyền
5. Nguyễn Huề
Người đời sau tôn các vị này là Ngũ vị Tôn Ông, tứ vị chầu bà (tên chung của bốn bà trong Tứ phủ Công Đồng), có nơi gọi là Ngũ vị Thái thượng lão quân hoặc Ngũ phương Long Thần.
Dân ta lấy ngày hành lễ năm vị từ ngày 1 đến ngày 5 tháng Tư và mồng 4 tháng Bảy là ngày vào hè, ra hè.
*

Lạc Long Quân
Lạc Long Quân tên là Nguyễn Lâm, hiệu Sùng Lãm, thụy là Hùng Hiền Vương, tự là Phúc Thọ.
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là con gái của chị họ mình, cháu của Nguyễn Nghi Nhân ở Ô Châu, con của Nguyễn Như Lai.
Khi có thai, Bà mơ thấy trên đầu núi có 5 sắc mây lành lặn sán lạn. Người xưa cho rằng đó là điềm lành con cháu Bà truyền đến 100 đời vua. Quả nhiên sau này tính từ khi Lạc Long Quân sinh con cho đến hết nhà Hùng truyền được 100 đời (50 được thờ là Sơn thần và 50 người được thờ là Thủy thần).
Trong đó 18 triều vua thống nhất đất nước, có thơ làm chứng rằng:
“Sơ khai Nam Việt hữu Kinh ương,
Thống nhất sơn hà thập bát vương,
Dư bách hệ truyền thiên cổ tại,
ức niên hương hoả ức niên phương...
Trong sử và các ngọc phả đều ghi:
“ Khải chung Hùng gia hữu Sơn Thủy Bách thần”. Nghĩa là từ lúc có nhà Hùng đến hết nhà Hùng có núi sông 100 vị thần.
Dịch ý câu trên nghĩa là:
Mở đầu Nam Việt có Kinh Dương,
Thống nhất non sông mười tám vương,
Trên một trăm đời truyền ngôi báu,
Vạn năm hương hoả, vạn năm thơm.
An táng tại Ba Gò đồng Thượng là mộ Lạc Long Quân. Hiện nay gò vẫn còn ở tại làng Bình Đà, Thanh Oai, Hà Tây.
Lạc Long Quân mất ngày 18 tháng Hai.
*
Tổ mẫu Âu Cơ
(vợ Lạc Long Quân)
Âu Cơ có tên Thụy là Căn Kỷ công chúa, là người hiền đức, kế nghiệp mẹ chồng dạy dân nghề chăn tằm dệt vải. Đời chúa Trịnh tặng cho Bà họ Ngô và mỹ tự “Thục đức đoan trang công chúa.”
Bà mất ngày 5 tháng Năm. Mỗi làng cúng một ngày cho đến 20 tháng Năm. Quốc lễ gọi là Đoan dương tiết. Mộ Bà an táng tại Đồng Láng, Khả Lãm (Bác Lãm). Dưới thời vua Khải Định, mộ chuyển về chùa Thượng Mạo, gọi là mộ bà Căn Kỷ.
Làng Trinh Lương gọi Bà là Năn Nỷ, có nơi gọi là Bà Chúa Lính. Sinh thời, Bà chăm sóc cho gia đình binh lính. Đến thời Nguyễn vẫn còn có ruộng lính hay ruộng của bà Chúa Lính.
*
Tổ tiên hùng Quốc Vương

Hùng Quốc Vương (CT:Tên Hùng được thấy từ đây về sau, đến hết thời nhà Hùng) húy Lâm (Nguyễn Lâm) con trưởng của Lạc Long Quân là Phúc Tâm, làm vua nước Văn Lang, thống nhất đất nước, dạy dân cày cấy, đánh cá, mở mang bờ cõi, phát triển nghề đúc đồng, nghề dệt. Được dân yêu mến. Ông mất ngày 28 tháng Năm âm lịch. Mộ Ông ở đất Kỳ Long Lân, gò thánh hoá hoặc gọi khu đất ấy là khu Mộ Vua, khu Đồng Trù tư mệnh, hoặc gọi là Tào phủ Thần quán (miếu tổ Văn Nội)(CT: Có tài liệu khác nói là mộ Ông ở ấp Thuỷ Tiên, Đào Nguyên, Tiên Sơn (nay là xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).
Vợ là con gái Lạc tướng huyện Chu Diên (thôn Hoàng Trung, xã Hồng Dương ngày nay). Bà an táng tại Thiên Trúc (nay gọi là Đồng Trúc) địa phận Văn Nội.
*
Tiên tổ hùng hiền vương
Có tên là Nhân Đức Lang, an táng tại miếu Văn Nội. Hội vào tháng Tám rước về đền 11 tháng Giêng. Bà vợ an táng tại Tiên Đào, cùng lễ vào tháng Ba.
*
Tiên tổ hùng hoa vương
Tên là Bảo Long Lang.
*
Tiên tổ hùng nghi vương

Tên là Bảo Lang. Thời Đường Nghiêu ở mặt Bắc, vua tặng cho con rùa nghìn tuổi, hai bên cùng thông hiếu. Con cháu kế chuyền đều gọi là Bảo Lang (là họ và chữ đệm).
*
Hùng vĩ vương
Tên là Tiêu Lang. Thời ấy ở bộ Vũ Ninh có giặc (da trắng, tóc bạc, gọi là người Già, đóng ở Đại Ơn, cho nên gọi là giặc Ân). Bọn chúng đông và mạnh đóng ở Thạch Linh Thành (đồng Thạch Bích, xã Bích Hoà, Thanh Oai - dấu vết thành cổ nay vẫn còn).
Làng Phù Đổng (đất Khả Lãm) có một cậu bé là Nguyễn Văn Cương xin đi dẹp giặc. Vua cấp cho cậu một con thiết mã và một cái roi sắt để buộc giẻ tẩm dầu mỡ, đốt vùng lau sậy xung quanh thành này, gió bắc to lau sậy khô nỏ. Cánh đồng xã Cự Khê, Bích Hoà thành một biển lửa đốt cháy bọn giặc lúc nửa đêm. Nay gọi là cánh đồng Cháy. Phù Đổng đuổi giặc qua thôn Ngô Đồng rồi đến ứng Hoà ngày nay (khu Cháy còn gọi là Chợ Cháy ao bèo). Giặc tan ông quay về giết cả những kẻ da trắng ở vùng Cổ Bản, Đại Ơn.
Lúc này Vua Hùng mới cho bố mẹ đi đón con, nhưng đến Thanh Giang, cậu vừa gặp Vua Hùng và bố mẹ thì đã chết trên mình ngựa (người hoá).
Nay ở Thiên Quan (tức cửa trời) còn có mộ Ông gọi là Đống Sóc. Gần đây, người ta chuyển mộ Ông đến chỗ khác (do sợ Đông Dương Bác Cổ khai quật) gọi là mả Ông Sóc; chỗ cũ vẫn đắp mộ giả và cả hai đều còn.
Đời sau, đúc một con ngựa bằng sắt để tưởng niệm Ông. Nhưng nay đã đem chôn áo giáp ở xã Đồng Mai và ngựa sắt, roi sắt thì đem chôn ở gò Cổ Ngựa, sau chùa thôn Thanh Lãm, xã Phú Lãm. Vua cho lập đền thờ ở làng Phù Đổng và Đống Sóc, nơi Ông mất và được lập đền riêng ở Phong Châu, gần chùa Kiến Phúc. Làng Phù Đổng có đền thờ Ông gọi là Phù Đổng Thiên Vương và các làng thờ duệ hiệu của Đống Sóc thì gọi là Sóc Thiên Vương.
Hàng năm, sắp đến ngày 8 tháng Tư, các làng thờ Ông cùng về làm lễ hội tại nhà thờ ông Nguyễn Văn Nghĩa, tế lễ đón rước Ông về đền làng mình.
*
Hùng chiêu vương
Tên là Quốc Lang. Lấy bà Ngọc Tiên sinh được 50 người con trai (đức vua thường nhiều vợ).
*
Hùng huy vương
Tên là Văn Lang.
*
Hùng định vương
Tên là Chân Lang.
*
Hùng nghi vương
Tên là Hoàng Long Lang.
*
Hùng chính vương
Tên là Đức Lang.
*
hùng võ vương
Tên là Đức Hiển Lang.
*
Hùng việt vương
Tên là Giao Lang.
*

Hùng anh vương
Tên là Viên Lang.
*
Hùng Chiêu vương
Tên là Chiêu Lang.
*Hùng tạo vương
Tên là Đức Lang Quân
*
Hùng hôn vương
Tên là Bảo Quang Lang.
*
Hùng duệ vương
Tên là Duệ Lang. Hùng Duệ Vương sinh 22 con trai, 24 con gái.
Thời kỳ đầu thông minh chính trực. Từ khi lấy con gái họ Lê thì đam mê tửu sắc bị Thục Vương, Cao Lỗ và nội hầu lừa cho uống rượu say, lại được con gái họ Lê (là cô ruột Thục Phán) sai khiến đến nỗi giết hết cả con trai, con gái, con rể. Rồi mang hoạ diệt thân (chết vẫn còn say chưa tỉnh).
Thậm chí hai chàng rể của Hùng Duệ Vương là Nguyễn Tuấn và Chử Đồng Tử đều chết vào tay Cao Lỗ, (nội hầu) và Thục Phán.
Cơ đồ nhà Hùng đang có nền văn minh rực rỡ, lại bang giao rộng rãi với các nước láng giềng, bỗng bị mất vào tay cô cháu Thục Phán. Âm mưu phản phúc này là do Cao Lỗ và Thục Phán vì không được toại nguyện với hai nàng công chúa đẹp nhất là Tiên Dung và Ngọc Hoa. (Cũng có cách giải thích khác là: do thời đại Hùng Vương đến đây không còn phù hợp với lịch sử và sứ mệnh lịch sử giao phó, đến đây phải kết thúc theo quy luật phát triển chung - TG).
Thục Phán diệt họ Hùng, đổi tên nước là Âu Lạc (bỏ quốc hiệu Văn Lang). Như vậy, kể từ lúc Hồng Bàng dựng nước đến khi kết thúc là 2.622 năm. Truyền 108 Vua kể cả Phù Đổng và Tản Viên. Trong đó có 18 Vua Hùng thống nhất được đất nước.
*
Theo "Nam Việt Hùng Vương Ngọc Phả Vĩnh Truyền"(CT:Phả để ở đền Hùng)
có các triều đại sau:
01. Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục (nghĩa là nối lộc tổ tiên).
02. Lạc Long Quân tức Hùng Hiền Vương, húy Sùng Lãm.
03. Hùng Quốc Vương, húy là Lân Lang.
04. Hùng Diệp, húy là Bảo Lang.
05. Hùng Hy, húy Viên Lang.
06. Hùng Hoa và Hồn (2 đời, trong "Giới thiệu khu di tích lịch sử đền Hùng, mục 6 phả hệ Họ Hùng viết là Hùng Huy Vương), húy Pháp Hải Lang.
07. Hùng Huy (sách trên viết là Hùng Chiêu Vương, húy là Lang Liên Long), húy là Long Tiên Lang.
08. Hùng Ninh (sách trên viết là Hùng Vi Vương, húy là Thừa Vân Lang), húy Thừa Căn Lang.
09. Hùng Chiêu (sách trên không có), húy là Quốc Tiên Lang.
10. Hùng Uy (sách trên là Hùng Hoàng), húy là Hoàng Hải Lang.
11. Hùng Trịnh Vương (sách trên tên là Chinh Vương), húy Hưng Đức Lang (sách trên là Hùng Đức Lang)
12. Hùng Vũ (sách trên tên là Đức Hiền), húy Hiền Đức Lang.
13. Hùng Việt, húy Tuấn Lang.
14. Hùng Định (sách trên là Hùng ánh), húy là Chân Nhân Lang.
15. Hùng Triều, húy Cảnh Chiêu Lang.
16. Hùng Tạo, húy Đức Quân Lang.
17. Hùng Nghị, húy Bảo Quang Lang.
18. Hùng Duệ Vương, húy Huệ Đức Lang.
19. Hùng Kính Vương, coi không tính vì chỉ được 6 năm thì mất. Sau đó lại truyền cho con thứ là Cảnh Lang (được 10 năm), rồi lại truyền cho cháu (được 3 năm), rồi truyền cho con rể là Sơn Tinh (Nguyễn Tuấn)...Sau Sơn Tinh khuyên Hùng Duệ Vương nên nhường ngôi cho Thục Phán. Thục Phán cảm kích, dựng bia đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh...Thục Phán xưng là Thục An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa, lấy tên nước là Âu Lạc vào năm 258 trước công nguyên.
Ngoài ra, còn hơn 100 vị con cháu dòng Hùng đều thống nhất tôn xưng là Lang Vương hoặc Lang Quân sau tên chính, như: Lân Lang Vương, Xích Lang Vương, v.v...Như vậy, nước Văn Lang tồn tại 2.622 năm, qua 18 triều đại đều lấy họ Hùng với hơn 100 đời (thế hệ) kế tiếp nhau, đều tôn xưng là Lang Vương, Lang Quân. Theo phả cũ cho biết, dưới thời cháu Triệu Đà, (vua Minh Vương) đã đem chôn 114 ấn tỷ truyền quốc của dòng nhà Hùng, chứng tỏ nhà Hùng có 114 đời kế tiếp nhau qua 18 triều đại lớn.
*
Bách Việt tộc phả cổ lục
đoạn II (tiếp theo)
Triều đại Bảo Đại thứ 5, năm Canh Ngọ, ngày 19 tháng Hai. Người sao: Nguyễn Vân ý. (Sao lục theo bản chính của Bộ Lễ - Cấn ngũ Bộ Trung Đẳng triều vua Lê Đại Hành, âm phù một vị Đại Vương sao bản phả).
Nước Việt Nam ta xưa, non sông bắt đầu được chia theo Sao Chẩn, Sao Dực, nước Tàu ranh giới hướng Sao Đẩu, Sao Ngưu. Từ triều Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha làm vua đầu tiên nước ta, xây dựng kinh đô Nghĩa Lĩnh, trùng tu miếu điện, truyền quốc ở đất đẹp Châu Hoan, nay là Quang Lãm, Phú Lãm.
Đời sau, Kinh Dương Vương lấy tiên nữ ở hồ Động Đình, sống trên đất Nghĩa Lĩnh, sinh ra Lạc Long Quân (lấy vợ là Âu Cơ). Đầu núi có mây ngũ sắc sáng chói là điềm lành báo trước nàng Âu Cơ thụ thai sinh ra một bọc có 100 trứng, nở ra một trăm người con trai, đều là những anh hùng xuất chúng, đức độ hơn người. Đến lúc trưởng thành mới phân chia nước làm 15 bộ.
Sau đấy Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta giống Rồng, nàng giống Tiên, tuy âm dương ngũ hành hợp nên có con, nhưng giống khác nhau, thủy hoả chống lại nhau, không thể cùng ở với nhau, nên phải giã từ nhau. Do đó, mới chia năm mươi người con theo bố xuống biển làm Thủy thần trông coi các nguồn đầu sông góc biển.
(Phần còn lại là sao nguyên như ở nhiều phần đã có ở trên).
* * *


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn