Thứ năm, 24/05/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1166
mod_vvisit_counterHôm trước1373
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XV) E-mail
11/03/2018

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng

TIẾP PHẦN MỘT
XV.

Ngọc phả về ba vị đại vương thượng đẳng thần Tản viên sơn thánh ở đền Và (thị xã Sơn Tây)

(do xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây phụng sao. Bản dịch dưới đây theo sách "Sơn tinh và vùng văn hoá cổ Ba Vì" Sở VH-TT Hà Tây xuất bản 1997).
Xét xưa, trời Nam mở vận. Núi sông, cứ theo sao Dực, sao Chẩn mà chia. Bắc quốc lúc đầu thẳng theo hướng sao Ngưu, sao Đẩu (CT: Người xưa định địa giới nước là theo vị trí sao trên trời.)
Từ triều Hùng mở vận, Thánh tổ dựng cơ đồ. Nước biếc một dòng mở vận thánh Đế Minh vương, non xanh ngàn dặm dựng nền thành đô cung điện. Mở lối cứu giúp người đời, thống lĩnh 50 bộ (CT: Các sử sách khác chỉ ghi 15 bộ?) vững thế quần hợp. Làm vua trị nước được hơn 2.000 năm, phò giúp cơ đồ tổ tông vững như bàn thạch. Linh thông hiển ứng ở núi Nghĩa Lĩnh ( CT: Theo ghi chú ở đây là thuộc huyện Phong Châu, Phú Thọ. Theo thư tịch phả mới tìm thấy thì nơi đây thuộc vùng Thanh Oai hiện nay (xem bản đồ Văn Lang và Phong Châu trong sách này.). Sự thờ phụng khói hương lưu truyền ở núi Hùng. Người đời sau có câu rằng:
“Hùng đồ triệu tạo nghiệp trường niên
Vị hiệu du du thập bát truyền
Đế tử tiên ông lưu tích tại
Khai thiên thủy tổ sử trường biên.”
Nghĩa là:
“Cơ đồ vua Hùng tạo dựng còn mãi mãi
Họ Hùng 18 đời truyền lưu không dứt
Con trời, nòi tiên còn lưu dấu tích
Là tổ của các vua, dựng nước, sử sách còn biên chép mãi.
Bấy giờ vào đời Hùng Vương thứ 18, ngôi báu truyền tới Duệ Vương; đóng đô ở Việt Trì cạnh sông Bạch Hạc. Đặt quốc hiệu là Văn Lang, lấy tên kinh đô là thành Phong Châu (CT:Theo ghi chú ở đây là thuộc huyện Phong Châu, Phú Thọ. Theo thư tịch phả mới tìm thấy thì nơi đây thuộc vùng Thanh Oai hiện nay (xem bản đồ Văn Lang và Phong Châu trong sách này).)
Vua là bậc hùng tài đại lược, thiên tử thông minh, đáng bậc thánh trí, nối nghiệp tổ tông, noi theo 17 đời thịnh vượng trước đó. Trong, tu chỉnh văn đức; ngoài, giữ gìn biên cương. Dốc lòng lo việc trị bình để được ấm yên trong nước.
Thời trước đó, ở động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây là nơi gấm vóc trời Nam, đất phẳng suối xanh. Thật đúng là nơi đẹp đẽ vào bậc nhất nước Nam.
Bấy giờ có một người đàn ông họ Nguyễn, tên Ban, vợ là Tạ Thị Hoan vốn là nhà tu nhân tích đức, đời đời giữ việc hương hoả phụng thờ chu đáo, một đời phong lưu, giàu sang phú quý. Khi ấy Nguyễn công đã 53 tuổi, bà vợ cũng đã tròn 40 tuổi. Vậy mà phòng lan chưa bén mùi hương, buồng quế chưa đơm một đoá (CT:Theo quan niệm cổ xưa là chưa sinh nở (chưa có con)).
Ông có người anh là Nguyễn Cao Hạnh, vợ là Đinh Thị Điên, cả hai vợ chồng đều đã ngoài tuổi ngũ tuần cũng chưa có con cái, lấy làm phiền muộn chẳng vui.
Nhằm ngày giỗ tổ tiên, anh em bèn than thở với nhau rằng: “Người xưa có câu: 30 tuổi mà chưa có con trai, thật còn điều bất hiếu nào lớn hơn. Huống chi anh em ta đều đã năm, sáu mươi tuổi cả rồi, vậy mà chưa có một mảy may con trẻ vui vầy. Giả như một ngày kia chết đi, tổ tông, cha mẹ biết lấy ai là người hương khói, chẳng phải là đại bất hiếu sao? Chẳng bằng đem phân phát của cải làm phúc, cầu lấy một chút thừa tự, cho lòng người được nhẹ nhõm, hợp với lẽ trời.”
Thế rồi anh em phân tán hết tài sản bần cứu khổ. Cứ như vậy được ba, bốn năm. Đến mùa xuân, nơi nơi hoa nở, người người nhộn nhịp tìm hương. Hai anh em cùng leo chơi núi thiêng Tản Lĩnh.
Khi quay xuống, vừa đến chân núi thì thấy có một ông lão vừa đi vừa hát, theo sau là vài chú bé mặc áo xanh cầm một bầu rượu và một chiếc la bàn. Thấy thế hai anh em mới nói với nhau rằng: “Đây nếu chẳng phải là Tiên Ông nơi Bồng Lai (CT: Bồng Lai: nơi cõi tiên, nơi tiên ở.), thì cũng là thần linh của núi Tản, chẳng phải người thường. Có lẽ anh em ta làm điều thiện bấy lâu, nên Hoàng Thiên (CT:Hoàng Thiên: chỉ ông trời.) cho Tiên Ông xuống ban ân đức cho chúng ta”.
Nói xong, hai anh em chạy lại trước mặt ông lão, cúi người làm lễ và nói: “Nhà tôi đức mỏng, cho nên anh em tôi tuổi đều đã cao mà chưa có con trai, muốn xin Tiên Ông rộng lòng giúp đỡ. Anh em tôi vạn điều mong Tiên Ông mở đức lớn tái sinh!”. Ông lão nghe xong cười lớn và bảo: “Ta đây chẳng phải là Tiên, cũng chẳng phải là Thánh, mà chính là người một đời nhàn nhã, thần này thất nghiệp tam sinh, ngóng trông phong thủy các nơi qua lại xem các việc phúc thiện của người đời. Vì các người mà ban phúc, vốn chẳng phải là ý muốn của ta. Nay anh em nhà các ngươi gặp ta ở chốn này chính là phúc lớn của các người đấy! Chẳng phải là mỏng gì đâu. Ta vừa xem thấy có một thế đất ở trên núi Thu Tinh, đúng là ngôi đất quý thật. Nếu được đất ấy, không quá trăm ngày sẽ sinh một Thánh, hai Thần. Anh em nhà ngươi nên về nhà, thu thập phần mộ tổ tiên mà táng vào đó”. Hai ông nghe xong, vui mừng lắm, vội chạy về nơi ở, đem hài cốt cha đem tới. Ông lão lập hướng rồi táng trên đỉnh núi Thu Tinh, toạ Quý, hướng Đinh (CT:Định hướng theo thầy địa lý khi đặt mộ, dựa theo hệ “can”).
Táng xong, thầy trò ông lão chẳng biết biến mất từ lúc nào. Hai anh em lập đàn làm lễ bái tạ. Từ đó về nhà anh em bảo nhau dốc lòng làm việc phúc, gắng sức làm điều nhân, vừa được trăm ngày thì thấy hai bà đều có thai. Được 12 tháng, thì ngày 6 tháng Giêng năm Đinh Hợi, vợ của người anh là Đinh Thị Điên sinh được một cái bọc, có một đứa con trai. Vợ của người em là Hoan sinh được một cái bọc có hai đứa con trai. Tất cả đều có phong thái thần tiên, trông khôi ngô tuấn tú kỳ lạ, khác người thường lắm.
Đương lúc sinh đã có mây lành vương vấn, hương toả thơm tho. Sinh được 100 ngày, con của người anh được đặt tên là Tuấn công, con của người em, đứa lớn đặt là Sùng công, đứa nhỏ đặt là Hiển công.
Ngày qua tháng lại, khi chúng 13 tuổi, đều tìm thầy theo học. Học được vài năm, thiên kinh vạn quyển làu thông, có thể hiểu suốt được Khổng, Mạnh (CT:) Khổng, Mạnh: Khổng Tử và Mạnh Tử các bậc thầy của Nho học (khoảng 500 năm trước Công nguyên) bốn khoa ba truyện thuộc lòng, thao lược chẳng nhường Tôn, Ngô (CT:Tôn, Ngô: Tôn Tử và Ngô Khởi, những nhà quân sự của Trung Quốc xưa).
Năm 17 tuổi, cha mẹ hai nhà đều trong một năm theo nhau mất cả. Ba anh em kêu khóc ầm trời, đương lúc ấy chẳng thể làm gì. Rồi anh em chọn đất tốt, làm lễ an táng. Ba năm trở tang, hương khói giữ gìn như vừa mới mất.
Từ đấy gia tài đều cạn sạch, sống tuy bần hàn nghèo khổ mà vẫn giữ gìn bản tính, chẳng hề đổi thay. Ngày thì rong ruổi cùng trăng gió, sinh nhai bằng nghề đốn củi. Đêm khuya bên án tuyết song huỳnh đọc sách, rượu một bầu lấy làm vui thú. An bần lạc đạo, coi đó là chí lớn của mình.
Tuy nhiên đôi lúc chợt xót thương cha mẹ xưa cơ cầu gian khổ thường ôm sách thở dài, giọt lệ khóc rằng: “Sinh ra ta, nuôi dưỡng ta, trông nom ta, bồng bế ta, nghĩ ơn cha mẹ như non như biển. Nay chưa một chút báo đền, sau dù có giàu sang, phú quý sao có thể trông thấy sự báo đáp được”.
Từ đó sáng kiếm chiều vay, một ấm mười lạnh, không hề kêu với ai. Nghèo như thế chẳng biết lấy gì sinh nhai, lấy gì để sống. Nhân đó cùng leo lên núi thiêng Ngọc Tản (CT:Ngọc Tản: tức núi Ba Vì, gọi như vậy vì trông núi như cái tán) xin làm con nuôi của bà Ma Thị Cao Sơn thần nữ ở đó.
Một hôm anh em lên núi, chặt một cây cổ thụ to và dài, rồi về động, báo với mọi người đến đó để đem về. Ngày hôm sau, lên đó thì đã thấy cây đại thụ, tốt tươi như cũ. Tuấn công lấy làm lạ, lại chặt tiếp một lần nữa, rồi giả vờ quay về và nấp sẵn ở đó để ý xem xét. Đến nửa đêm, bỗng nhiên thấy một ông già thân dài một trượng, râu tóc bạc phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt đai tía, chân đi giày mây, tay phải cầm gậy trúc, thong thả bước đi như phượng múa gấm hoa, rồng ngậm măng ngọc. Nếu chẳng nơi Vườn Kỳ thì cũng là của báu nơi Lãng Uyển(57) (CT:Vườn Kỳ, Lãng Uyển: Những khu vườn ở cõi Tiên). Đi sau ông lão là một trẻ nhỏ, tay cầm chiếc lục lạc vàng, lắc lắc ba hồi. Ông lão miệng niệm thần chú, cầm gậy chỉ vào chỗ cây đổ. Bỗng nhiên một trận gió mát thổi tới, mây lành bảng lảng, khí thiêng rừng núi tụ về, đất trời biến hoá, trong chớp mắt gốc cây đổ dựng lên, cây to sống lại.
Tuấn công trông thấy rõ ràng, lập tức chạy tới gốc cây, hai tay ôm lấy ông lão hỏi rằng: “Cụ là người ở đâu tới đây? Tên cụ là gì? Sao lại tiếc thương một cây cổ thụ, để cho kẻ cô đơn đói rét này không được cậy nhờ?”. Ông già nói: “Ta là Sơn Tinh đại thần, tên gọi Thái Bạch Thần tinh Tử Vi thiên tướng, vâng chỉ Ngọc Hoàng cai quản nhân gian. Đây chính là cây ngô đồng quý giúp cho Thánh đế ra đời, lầu phượng dựng lên trên nhân gian (CT:ý nói cây quý giúp cho đất nước được thái bình thịnh trị) (58), chính là cây gỗ đứng đầu các loại thảo mộc ở núi Tản trời Nam này. Không được chặt! Cho nên ta ra tay bảo vệ cây quý, gây phúc cho non sông. Sau này quốc gia thịnh vượng dài lâu, ngươi sẽ được thấy buổi thái bình vậy thôi”. Tuấn công cúi đầu lạy tạ nói rằng: “Lời nói của Thiên tướng, sáng soi suốt được lòng người như kính như gương, đâu dám không nghe theo. Nhưng đời người ở cõi trần như đám ngựa hoang, ngắn ngủi như kiếp phù du, có có không không, sinh sinh, hoá hoá, cơ trời biến hoá khôn lường. Sự việc đổi thay không biết thế nào. Trong khoảng trời đất này cùng chung lý ấy. Nay, tôi muốn được cây gậy thiêng và lời Thiên tướng ban cho”. Ông lão nghe nói biết là người đại hiếu, chẳng phải người thường, tức thời lấy cây gậy cùng lời niệm chú trao cho Tuấn công. Rồi dặn lại rằng: “Đầu gậy có thể cứu tử cứu sinh, cuối gậy có thể trừ tai trừ hại, chỉ đất-đất nứt, chỉ nước-nước cạn, phép màu linh nghiệm, cơ biến diệu huyền. Duy có chỉ lên trời thì mây bạt, sương tan, thấu tận cửu trùng, không nên sơ suất đấy! Cẩn thận đấy! Không thể! Không thể !” Dặn xong bay lên không trung và biến mất. Tuấn công được gậy thần và lời chú, vui mừng khôn tả trở về động núi Tản Viên, từ đó xưng là Thần sư.
Hôm đó đi qua thôn Cốc, sách Thủ Pháp (CT: Sách là tên gọi bản làng xưa kia, nay là xóm Cốc, thôn Thủ Pháp, xã Minh Quang, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây) bỗng thấy đàn voi, hổ đến hơn năm trăm con, tập trung cả ở trên đường, ngáng trở người qua lại làm muôn loài phải tẩu tán.
Thần sư lấy cây gậy chỉ vào, tức thì hổ bắc, voi đông đều theo đầu gậy mà đi khỏi, do vậy đường đi mới được thông suốt. Thần sư tới bên bờ sông, thấy nước trời một sắc, ráng sương mịt mù, bến vắng sông im, thuyền không một chiếc. Thần sư lấy cây gậy chỉ vào, tức thì mặt nước rẽ ra một lối, lòng sông không có đường đi mà bỗng trở nên có đường đi, qua sông mà như đi trên đất bằng vậy. Đến bãi Trung Đô, thuộc xã Ma Xá (còn có tên là bãi Trường Sa) bỗng thấy trẻ chăn trâu đang đánh một con rắn đen rồi đem đùa nghịch. Thần sư thấy con rắn tự nhiên động lòng thương hại, nói với trẻ chăn trâu rằng: “Bọn ngươi sao lại đùa nghịch như thế? Để ta mua con rắn này”.
Đám trẻ reo lên vui vẻ đồng ý bán con rắn. Thần sư lấy 36 văn (CT:Tên đơn vị tiền tệ Việt Nam thời cổ xưa) mua rắn, rồi đem đến bên bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú, cầm gậy chỉ vào. Lập tức con rắn sống lại trước đầu gậy. Rắn đen rập đầu bái tạ Thần sư. Thần sư đứng xem thấy rắn đen trườn xuống sông, mặt nước rẽ ra một đường.
Rắn trở về đến hồ Động Đình, bấy giờ mới biết là con trai của Long Vương. Thế rồi Thần sư trở về động Lăng Xương.
Rắn đen về đến Động Đình, mang hết mọi việc tâu bày với Đế quân. Đế quân nhớ ơn công đức đó, lập tức sai Thái tử và Giao Long Đô đốc đi đón Thần sư tại bản động. Thần sư quay trở lại núi Tản bái tạ dưỡng mẫu, xin đi chơi Thủy Phủ. Khi theo tới Long cung, qua tường gấm, vượt cửa son, thấy cửa ngọc cung châu, tầng tầng lớp lớp hiện ra. Thần Tôm, tướng Ngao, hàng hàng đứng chầu điện ngọc. Ngoài ra còn binh lính Rùa, Giải cũng đứng hầu. Đế quân ngự ở chính giữa, thỉnh Mười Thần sư vào ngồi ở bên hữu long sàng rồi nói: “Đông Long cung Chủng, chính là Thái tử của Trẫm, hôm qua đi chơi Tùng Đài linh điện (Đền thiêng nằm bên bãi sông, xã Sơn Bạn) chẳng may gặp nạn ở Trường Sa, may nhờ Ngài cứu thoát. Thật là ơn nghĩa vô cùng. Hôm nay Mười Ngài tới đây muốn tỏ tấc lòng báo đáp”. Thần sư tâu: “Thủy Phủ - dương gian là hai cõi khác nhau, Thái tử là rồng nơi thủy phủ sao có thể hiểu được dương gian. Nhà tôi vốn đời đời làm việc thiện, vả lại tôi được ban phép thần, nhân buổi đi chơi, may mà cứu nguy được, cũng là tự ở trong lòng. Đâu ngờ hôm nay được gần gũi dung nghi của bệ hạ, dám đâu mong được báo đền!”.
Ngày hôm đó khắp Long cung mở tiệc lớn. Chiếu rồng trải khắp, đuốc phượng sáng choang, bình hương trướng ngọc, vàng bạc mã não, phàm là những của quý vật lạ, không thể có được ở trần gian tất cả đều được bày ra la liệt trước mắt. Đế Quân sai bày đại tiệc, thân Mười Thần sư ăn tiệc. Thần sư lại tâu rằng: “Đời người được gặp bệ hạ là việc hiếm lạ ở nhân gian. Tôi may mắn vượt sóng ba đào đến cõi này, bình sinh chưa dám mơ được vui như hôm nay. Đâu dám không rượu say, cảm động!”.
Yến tiệc xong, Đế Quân sai lấy vàng và báu vật để tạ ơn Thần sư. Thần sư cố từ chối không nhận. Thái tử bảo riêng với Thần sư rằng: “Hôm nay được trông thấy mặt rồng, đúng là nghìn năm có một. Công đức của Thần sư lớn như sông biển, của cải đều xem bằng một sợi tơ, sao đủ để báo đáp được cái công đức này. Nay, vua cha có một quyển sách thần bí phép nhiệm màu, thấu trời suốt đất, đều chỉ trong một lời ước mà thôi. Thần sư muốn quyển sách đó, tôi sẽ tâu riêng với Đế Quân để xin được báo đáp”. Thần sư nói: “Được, ý ta cũng muốn vậy”.
Thế rồi Thái tử mới tâu với Đế Quân. Đế Quân cảm công đức, mới lấy quyển sách đó trao cho Thần sư. Thần sư được sách ấy mới xin về. Đế Quân sai Thái tử đem quân đưa tiễn Thần sư. Thần sư trở về lòng phấn chấn, lên đến bờ sông, trở về động cũ. Thần sư có thơ từ biệt, rằng:
“Bất vị tương phùng hữu thử sinh
Lai chi nghĩa dã, khứ chi tình
Dịch ư Thuý Lĩnh huyền nhân vọng
Bất dĩ long cung hạn khách hành
Nhất pháp âm dương hoàn lưỡng lộ
Trùng tiên vân thủy mộng tam canh
Quan hà nhất biệt song mâu ký
Hà xứ tương tư mịch cựu trình.
Nghĩa là:
Chẳng dám nghĩ đây là cuộc gặp gỡ trong đời ta
Khi đến thì vì nghĩa, khi đi vì tình
(Rồi sau) đứng trên núi Thuý Lĩnh ngóng trông thì dễ
Hận rằng không thể xuống làm khách ở Long cung
Âm dương đôi ngả, thôi biệt mãi
Chập trùng mây nước, giấc mộng ba canh
Quan hà một khi đã từ biệt đôi mắt lặng nhìn nhau
Khi nhớ lại, biết đâu là con đường ta đã đi qua”.
Lại nói chuyện Thần sư về động Lăng Xương, trở lại thăm núi Ngọc Tản, nói với lão bà (CT: Đây chỉ bà Ma Thị Cao Sơn thần nữ - mẹ nuôi của Thần Sư) rằng: “Con từ thuở hàn vi ở với mẹ đã lâu ngày rồi, cái công đức ấy như trời vậy. Mẹ đẻ 10 tháng mang thai công đức như núi Thái Sơn (CT:Tên sông lớn, dài và tên núi rộng, cao ở Trung Quốc), như sông Hoàng Hà(CT:Tên sông lớn, dài và tên núi rộng, cao ở Trung Quốc). Mẹ nuôi thì một bữa cũng báo đáp, huống chi là cái ơn cao dày này. Công đức lớn lao là vậy, há lại quên được sao? Hôm nay trở về đây, con nguyện đem Thần pháp, gọi là một chút báo đáp công lao của mẹ”.
Thần sư bèn lấy sách thần, ngầm cầu trời đất, đọc lời ước. Tự nhiên thấy một trận mưa, mây ập đến, sấm chớp liên hồi. Bỗng thấy trận mưa châu ngọc đầy mặt đất. Mưa hơn nửa trống canh, tiền vàng hàng trăm nghìn vạn quan từ trên trời rơi xuống. Thần sư lượm lấy tất cả đem vào dâng lên dưỡng mẫu (CT:Dưỡng mẫu: mẹ nuôi). Dưỡng mẫu thấy tấm lòng thành thật, nhân hậu ngầm mừng muôn việc đã đủ, bèn đem rừng núi của riêng mình trao cho Thần Sư để sau khi mình trăm tuổi có nơi thờ phụng. Nhân đó mới lập ra một đạo chúc thư (CT:Di chúc) để nghìn đời sau được khói hương phụng thờ nơi đền miếu.
chúc thư

“Ma Thị Cao Sơn thần nữ ở núi Mang Bồi và núi Cốc Khê, Thủ Pháp, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, xứ Hưng Hoá, nước Văn Lang, lập chúc thư về việc sau:
Do ở động này, các núi sông đồng bãi khe cừ miếu điện, cỏ cây rừng từ trước đến nay vốn là của tôi. Tôi nghĩ sau khi mình trăm tuổi, thân này về chốn Bồng Lai; Xuân thu nhị kỳ hương hỏa không biết lấy ai là người phó thác. Việc trông nom, thờ phụng gia tiên, biết lấy ai là người nhờ vả. Năm nay là năm Quý Dậu, tôi có một người con nuôi là Nguyễn Tuấn ở động Lăng Xương cùng huyện, từ bé vốn đã ở cùng, coi như là con đẻ vậy. Nay Ma Thị tôi tuổi đã ngoài chín mươi, chỉ lo sợ mệnh trời chưa.
biết là sớm hay chiều. Muốn kê khai ra đây mọi vật, nhất nhất đều ghi rõ ràng trong chúc thư, giao cho con nuôi là Nguyễn Tuấn. Sau khi Ma Thị tôi qua đời, Nguyễn Tuấn phải tuân theo lệnh của ta coi giữ mọi vật ở trong núi, quyền đó mãi mãi không được thay đổi, lưu truyền vạn đại để khói hương thờ phụng. Trời đất có kinh điển vĩnh viễn, cổ kim có luật pháp. Vậy lập chúc thư này để lại cho con cháu noi theo, tất cả giang sơn điền địa, khe cừ miếu mạo, cao rộng bao nhiêu sẽ liệt kê sau đây, rồi cứ theo thế mà sử dụng.
Liệt kê:
Dân các xứ các thôn thuộc xứ Mang Cốc, sách(1) Thủ Pháp ở núi Ngọc Tản. Cộng 22 xóm. Núi Ngọc Tản cao 112.300 trượng, chu vi 198.000 trượng, và 6 đoạn khe cừ cộng 16.300 trượng. Một đoạn từ thượng điện trên núi Tản nay gọi là Lăng Cốc, khe ngòi tới sông lớn dài 11.000 trượng.
Một đoạn từ Tỳ Miêu trên đỉnh núi cho đến bờ sông (tục gọi là Ngòi Bo) dài 300 trượng.
Một đoạn từ đồi Mỏ Cò đến sông, dài 300 trượng.
Một đoạn từ cây Đa đến Ngòi Lễ cửa sông dài 300 trượng.
Một đoạn từ Ba Các, tục gọi là ngòi Lộng đến bờ sông dài 500 trượng.
Một đoạn dài từ xứ Hàm Rồng xã Cẩm Đái, dài 8.500 trượng, phía đông gần với hai huyện Ma Nghĩa và Thạch Thất, phía Nam gần hai huyện Mỹ Lương và Phúc Lộc, phía Tây gần với huyện Thanh Xuyên, phía Bắc gần huyện Bất Bạt.
Một ngôi đền theo hướng chính Tây, tạo Cấn, hướng Khôn.
Lại có sông lớn: phía bên trái giao cho Kiên Thần Ma Lãng Sơn, phía phải giao cho thần Non Sơn, phía đông nam giao cho Non Động thần Chất Long Đại Vương, phía tây bắc giao cho Hậu phi cung Bạch y thần nữ Đại Vương.
Và có số ruộng thờ cộng là 378 mẫu, 4 sào, một thước, 5 tấc. Tính từ Sông Đà cho tới sông Lô đến ngã Ba làm giới hạn, đông tây bốn phía như trong khế ước ruộng đất khe cừ.
Hùng Vương năm thứ 18, tháng Tám, ngày 28, lập chúc thư.
“Ma Thị Cao Sơn Thần nữ ký”.
Lập chúc thư xong, Thần sư bái tạ, bèn phân chia đất cho hai em.
Bấy giờ Sùng công ở đất Non Sơn, Hiển công ở đất Lãng Sơn. Từ dó danh tiếng ngày càng lớn, khắp trong thiên hạ đều tôn Thần sư là Tản Viên Sơn Thánh. Sùng công làm Tả Kiên Thần, Hiển công làm Hữu Kiên Thần.
Thần sư lại ở cùng bà Ma Thị. Được một năm, bà Ma Thị nằm bệnh, bèn gọi Thần sư lại mà dặn dò rằng: “Sau khi Ma Thị mất, nên lập một cỗ thọ đường đặt ở miếu mà thờ cúng, để tỏ rõ đạo hiếu”.
Thần sư vâng mệnh. Hôm đó bà Ma Thị qua đời. Thần sư làm tang lễ rồi dựng một ngôi đền, đặt một cỗ thọ đường ở bên trái, bốn mùa hương khói thờ phụng trang nghiêm, đến nay hiện vẫn còn đó.
Người đời sau có bài tán rằng:
Hùng đồ củng cố
Đế nghiệp trường miên
Du du thập bát diệp
Lịch lịch kỷ thiên niên
Thời hữu Tản Viên Thánh
Nghĩa dưỡng Ma Thị tiền
Ma bà lâm mệnh một
Di chúc hữu thủ truyền
Lập linh từ vu sơn thượng
Trí thọ vu tả biên
Gia tư nhất nhậm
Hiếu đạo vẹn toàn
Anh hùng siêu bách thế
Giang sơn tổng nhất thiên
Thậm kỳ dã! Nhất môn mẫu tử
Khả ái tai! Vạn cổ thần tiên!

Nghĩa là: Củng cố cơ đồ triều Hùng
Nghiệp đế vương dài lâu
Mười tám đời đã trải
Mấy nghìn năm trôi qua
Bấy giờ có Thánh Tản
Mẹ nuôi là Ma Thị
Chẳng may ốm mất đi
Có di chúc truyền lại
Lập đền thờ trên núi
Đặt thọ đường bên trái
Gia tư giao cả lại
Hiếu đạo đã vẹn toàn
Thật là bậc anh hùng đời khó sánh kịp
Kể cả suốt giang sơn dưới gầm trời
Lạ thay! Mẹ con một nhà ấy
Đáng yêu thay! Thần tiên muôn thuở.

(Còn tiếp)


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn