Thứ năm, 14/12/2017
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1128
mod_vvisit_counterHôm trước1636
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo) E-mail
29/11/2017

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng

TIẾP PHẦN MỘT
XI
Trích dịch: NGUYỄN TỘC TỪ ĐƯỜNG PHẢ LỤC CHÍNH BẢN
(Đường thượng nguyên trưởng bảo lục toát yếu)
(Bản chính phả lục từ đường họ Nguyễn tỉnh Hà nội, huyện Thanh oai, xã Quang Lãm, thôn Vân Nội)
--------------------------
Cây có nghìn cành muôn lá đều do ở rễ, nước có nghìn dòng muôn phái đều do ở nguồn. Mọi vật đều như thế, huống chi con người nối tiếp nhau, nhờ vào lớp người trước truyền lại từ xa xưa.
Tổ tiên ta lấy cần cù vun gốc rễ, lấy thiện đức để mở nguồn dòng, tu nhân tích đức. Không việc gì là không phải mưu kế cho cháu con nhờ cậy.
Làm con cháu có thể không biết cái đạo lý tìm hiểu người xưa , cẩn trọng việc sau?. Suy nghĩ vậy, cho nên lập thành gia phả. Phàm Tổ Tiên ta, mộ để nơi nao. Kỵ vào ngày nào cùng với thế thứ từng dòng. Không điều gì không ghi đầy đủ, khiến người sau nối tiếp giữ gìn để làm tấm gương lâu dài sau này mãi mãi.
Trời ban ân đức muôn phúc cùng chung, tốt lành đắp gốc, lan cúc thu đông để Tổ ta lập Họ phù hộ tử tôn. Trung trinh thờ phật, từ hiếu tông môn, dựng xây tộc thuộc tiếp nối sớm hôm, hòe quế chật ngõ, chi lan quanh vờn. Quyết theo người trước bảo lớp cháu con, thọ giàu hưng thịnh, lối minh chẳng mòn.
Ngày Sóc theo lịch thời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 16 (1755) , tháng Tám ngày mùng Hai ghi lại.
*
Sách này do Thiếu Bảo Hương Quận công Nguyễn Vân Chí (CT: Cụ Nguyễn Vân Chí sinh thời vào khoảng nửa đầu thế kỉ 18 là trưởng tộc. Cụ Nguyễn Vân Tằng năm nay (2006) đã 75 tuổi, là cháu nối dõi 4 đời của cụ Vân Chí, hiện nay đang phụng sự từ đường họ Nguyễn (xem bản thế thứ Bách Việt Nguyễn Tộc trình bày ở dưới đây.Đ.T.) phụng sao.
Hội đồng gia tộc chuẩn cho ấn hành, trước khi in, các tộc biểu họp xem xét đã cải chính tinh tường.
Gia từ: Nam Thiên thất thập nhị Thần từ, Phật tự. {nghĩa là Trời Nam có 72 đền thờ Thần, chùa thờ Phật (Đ.T.)}.
Theo ý Mai Viên Nguyễn phát biểu cùng nhiều nhân sĩ các tộc, chủ ý giáo dục tinh thần cho con cháu chắt chút, không gì đầy đủ bằng quốc sử, không gì cấp thiết bằng quốc sử. Sử đã ghi rằng: người họp thành nhà, nhà họp thành họ, thành làng, làng họp thành nước. Đã là họ, một họ tự phải có phả một họ. Đã là nước thì có sử một nước. Ngàn vạn năm, tổ tông gây dựng, trăm ngàn năm sau, con cháu nối dòng tụ hội, với đất đai, với chính trị, đủ ba thứ báu, không gì so sánh được với huyết thống của một nhà. Nước ta, họ ta, sử ta, phả ta, dòng máu trong đó, có thể xem thường lạnh nhạt ư? Như cuốn sách chết không có sinh khí ư?
Nước Việt ta lập quốc từ rất lâu, Khai hóa từ rất sớm, sử phả đều có ghi chép. Cả ở chân kinh, truyện ký, phụng sự, cúng lễ, tảo mộ.
Hàng năm, hội lễ truyền cho con cháu, ngày kị ở bộ ký, phả ký, sử ký. Thời Trần Thái Tông, đại thần Lê Văn Hưu đặc biệt mở màn viết sử. Ngày nay kẻ bỉ lậu này phóng túng, quê mùa, bí mật ghi chép chỉ để phổ biến trong họ Nguyễn mà thôi.
Người Pháp độc ác, khiến dân ta làm trâu ngựa, đốt Phong Châu, Long Biên, Hoa Lư , cưỡng chế giáo dân ở các địa phương đốt thần từ, phật tự, lại dùng mưu của Hoàng Cao Khải thiêu cháy Nam thiên bảy mươi hai từ ở các trang Bác Lãm, Khả Lãm, Thuần Lãm, Quang Lãm, Thắng Lãm. Người Pháp lại trục xuất nhân dân các cố đô như Phong Châu, Long Biên, Hoa Lư, làm cho nhân dân không nơi ở, thần không miếu thờ, thật là khốn khổ. Sự việc như thế sử gia vong quốc sao giám ghi việc ấy vào trong sách sử. Vong quốc, sử không thể nói sự thật. Cũng như hôn quân vô đạo, gian thần tác oai tác quái. Tội sâu ác nặng, khiến quốc dân oán giận muốn giết đi, nhưng sử gia không thể trái ý vua quan. Nhân vật lịch sử, chẳng qua ghi tên người ấy, hoặc cha mẹ của nhân vật, họ tên, sơ lược tiểu sử, hoặc chiến công, còn tội sâu ác nặng hẳn sau mới ghi!. Nhưng dã sử cũng như phả ký rất là giống nhau. Tuy nghệ thuật, bút pháp huyền bí, kì ảo nhưng không thể chuyển dịch, biến cải. Chính sử thì mỗi cá nhân sử gia một quan niệm, ý tưởng đều khác biệt. Lý giải không giống nhau, mọi mặt hoạt động sử ký không đầy đủ. Còn hoang dã sử thực thực hư hư do cổ nhân dùng triết tự đồng âm dị nghĩa kỳ quái, khiến cho ngời sau không biết đúng hay không đúng. Không phải thường dân sáng tác, mà do các danh sĩ sáng tác.
Dã sử đều do cao nhân, học lực uyên bác, ghi chép sự tích, lưu truyền dân gian, bên trong là những lời thật vậy. Môn phái ba đời sử thần triều Lê viết: “Họ Nguyễn Việt Nam do Nguyễn Phu sinh ra...”. Lại ghi: “Lê, Lý, Trần, Vũ cùng các dân tộc Việt Nam, tên họ đều từ Trung Hoa sinh ra”. Bọn tôi tự hỏi: Nước Văn Lang là người nào? Môn phái Ngô Thừa Liên, Thừa Nhiệm chính là nói quấy. Hậu duệ của Ngô Thừa Ân lũ đó là giống giặc dê chó. Không thể tin được .
Tây Du Ký, tác phẩm nguyên tác của Trần Nhân Tông. Thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Hoằng Tín hầu chiến thắng quân Minh về làng đã thấy từ trước Tây Du Ký do Trần Nhân Tông ghi, lưu ở chùa Sùng Nghiêm một bản. Không thấy ở đấy, hỏi sư ở chùa sư nói: “Do Ngô Thừa Ân, giặc chó cướp mất, ta không kháng nổi” .
Giặc Ngô về nước, ghi rằng: Tác phẩm Tây Du Ký do hắn ta sáng tác. Sau này lũ vô học tưởng nhầm là nguyên tác của họ Ngô, cho nên chúng cố sức làm. Bản quyền nguyên tác của Ngô Thừa Ân là gian dối, không thể che đậy:
Tây Du Ký do giặc Ngô ghi lại sao lại nói Trung Hoa rất nhỏ cùng với trên trăm nước độc lập, không phải thuộc quốc của Trung Hoa, lại rất tinh thông Phật học, lại giống địa lý cương thổ Văn Lang .
Ghi rằng: Đường Tăng đến Tây Phương cực lạc, đường qua Phong Đô, Lôi Âm bảo sái, mà đất đó thuộc nước Đại Việt. Tây du ký, nội dung văn chương, chính là văn chương Đại Việt. Dã sử dựa vào đó,cùng địa lý, địa danh biến hóa thành thần thoại, kỳ bí, bất kỳ thời nào, việc nào đều huyền ảo như thế. Đọc sách cần phân biệt cụ thể văn tự ấy của nước nào, người nào.
Do bọn ta có mắt, đường đường Tổ Bách Việt sinh ra, soi rọi sách trời, trên bốn nghìn năm, đất đai, nhân dân, tinh hoa chính trị nên phải có con mắt tỏa sáng, nhân đó sử phải đính chính, bí sử phải nêu lên.
Ngay cổ sử cũng bị mất, do người Pháp chiếm lấy chuyển về nước Pháp vài nghìn vạn tập, còn mất không đếm được. Vả lại, nước Việt là vong quốc nô, sách cổ sử xưa do Đông Hán, Tây Hán, Ngô, Tấn, Tống, Lương, Đường, Tùy chiếm đoạt rất nhiều; công chức quan binh ỷ lại, cam làm nô lệ cho sử cũ, màn diễn tối tân cuối cùng không ai dám xuất đấu, sai lắm! Kẻ trí giả sửa văn tế, kẻ bất chợt sửa văn bia. Sử ư? Bia ư? đều không đủ đối với mọi việc. Nếu sử chân thực được nêu lên thì bọn người không có mắt ở thế gian, những kẻ kiêu ngạo, từng nhóm nhỏ phủ định, bút chiến, thiệt chiến, lũ lượt đăng đàn diễn thuyết do Pháp khai khẩu, trao truyền miệng lưỡi, mãi quốc cầu vinh, ai dám chống lại. Đến Khải Định, cũng bị người Pháp cưỡng chế, sinh từ vợ chồng cô Hồng tại Sơn vi mà không dám khai khẩu, bá quan văn võ đều ăn tiền mà ngậm miệng.
Việt sử tân biên nếu theo công pháp, xuất bản hẵn phải trình duyệt, sao dám đưa ra. Vì thế Hùng Vương sơn linh từ, họ ta hiện đương lưu giữ nghìn vạn quyển sách ở động đá Hương Sơn, không biết người sau có tìm đến đấy, hay không đến đấy.
Năm nay họ ta, vâng ghi ngọc phả, lưu truyền về sau, suy ngẫm muôn đời.
Duy Tân năm thứ năm, hội đồng Tộc biểu cẩn hành.
*

Nguyễn tộc từ đường phả lục chính bản (CT: Phần trên như là lời tựa, còn từ đây là phần nội dung phả)

Họ ta vốn họ Nguyễn, hậu duệ họ Thần Nông, bắt đầu từ tỉnh Sơn Tây, huyện Thạch Thất, xã Bình Yên, làng Vân Lôi. Tiên tổ lấy nghĩa xuất thân, lấy nhân xuất tổ, lập cõi Viêm bang, lấy Tây Phương cực lạc làm quốc đô, nên gọi nước là Cực Lạc, phật hiệu Di Đà, đế nghiệp mới nên, phật đạo mới mở, rồi sau thành nước, con cháu chút chít muôn đời không quên. Tiền tổ là Hòa Di, hiệu Đế Hòa, lúc đó đã có văn tự, biên chế lục thủ, thuyền xe cung thất, luyện vàng nặn đất, làm đồng chia ruộng, trồng dâu nuôi tằm, nhân dân an khang thịnh vượng.
Đế Viêm đổi tên nước là Viêm Bang, Đô Sơn Tây, Quốc Oai, động Hoàng Xá. Thời cổ, họ Phục Hy làm vua thiên hạ, bắt đầu vạch bát quái, tạo chữ viết để thay cho thắt gioãng, bởi thế sinh ra sách. Đế Viêm kế nghiệp, làm ra nông cụ, vũ khí, dạy dân ăn chín, dùng thuốc chữa bệnh. Đế Viêm dựng nước muôn dặm núi xanh, dân chúng an cư lạc nghiệp. Đế sinh ra Đế Khôi, tức Thần Nông, khi vị thành niên, gửi lão Long Cát nuôi dạy làm đệ tử. Đế Viêm tuổi cao bệnh nặng, Hiên Viên dấy binh làm phản, bắt Viêm đế đưa về Bắc quốc làm con tin, đến Hiệp Tây, Đế mất, trên không đột nhiên có một quầng mây vàng sà xuống, tiếp dẫn Đế về phương Nam, động Hoàng xá, mây vàng ở trên động ba ngày mới tan, lúc đó nhân dân, gia thần, đệ tử biết Đế mất, làm lễ chiêu hồn nhập mộ, táng tại động Hoàng Xá. Đế Viêm mất tại Hiệp Tây, giỗ mồng Bốn tháng Bốn. Hoàng Hậu đến Phượng Thành, Phượng châu, Long Châu môn, Chương Mỹ, Trầm Lĩnh cùng ở với con trưởng là Thần Nông. Đế Khôi, mộ táng tại núi Tiên Lữ, giỗ mồng Bốn tháng Giêng và Hăm Ba tháng Chạp lễ tạ Táo quân. Đế Khôi tức Thần Nông lúc nhỏ còn Hữu Sào, Toại Nhân là Hoàng,xin cùng nhiếp chính, Hữu Sào là Lão Long Cát, tạ thế táng tại chùa núi Võ Vi.
Đế Khôi mất, táng tại cửa động núi Trầm, dưới cây hoàng oanh, giỗ mồng Một tháng Sáu, tế thượng hạ điền, tế Thường tâm. Hoàng Hậu mai táng tại núi Tiên lữ, chùa Thổ Ngõa. Đế Tiết hiệu là Thánh Kỳ, kế nghiệp Thần Nông, an táng tại Thuần lãm, dưới cây hoàng oanh, giỗ mồng Chín tháng Giêng. Không có con. Hoàng Hậu cùng táng với Đế Tiết.
Con thứ Thần Nông là Đế Thừa tức Sở Minh Công, hiệu là Đức Thánh Đệ Nhị, an táng tại Thuần Lãm, núi Sở, giỗ mồng Chín tháng Giêng. Sinh ba trai. Hai vị Hoàng hậu: Trần thị Phú, Trần thị Lãm cùng táng tại núi Sở, giỗ mồng Chín tháng Ba.
Con trưởng Nguyễn Minh Khiết tức Đế Minh, Chủ trưởng phương Nam, an táng tại huyện Từ Liêm, làng Định Công, bên giếng Ngọc, cửa chùa phật, giỗ Mười Hai tháng Hai.
Hoàng Hậu bị phế truất, sinh ra con trưởng là Nguyễn Quảng. Sách sử ghi…là Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương, tự là Phúc Lộc. Hoàng hậu xuất gia, tu hành đắc đạo, làm Sa Bà giáo chủ, pháp danh Hương Vân Cái bồ tát, đạo tiên tôn bà là Đệ nhất thiên tiên thánh mẫu, mộ tại Ba La, chùa Đại Bi, ngày sinh mồng Tám tháng Tư, ngày hóa Rằm tháng Bảy, tức ngày xá tội vong nhân.
Nguyễn Nghi Nhân tức Đế Nghi cùng Đế Minh song sinh, mộ tại nước sở .Nguyễn Long Cảnh tức Ba Công Đại vương làm vua nước Đại Lý. Thường ngày công chính nghiêm minh, hóa tại huyện Thanh Trì, xã Đại áng, thôn Nguyệt áng. Đại tế Mười hai tháng Hai. Sinh được ba trai. Hai vị phu nhân táng tại đền thờ La Nội .
Con trưởng Đế Minh tên là Nguyễn Quảng, ở núi Tử Di đánh bại tướng giặc Ma Mạc, phụ vương phong là Kinh Dương Vương, quản lý vùng Dương Việt, Kinh châu, lấy con gái vua Động Đình, tên là Đăng Ngàn, tức Thượng Ngàn Thánh mẫu .
Phụ Vương mất, Kinh Dương Vương kế vị làm Chủ trưởng nước Xích Quỷ, ở Nghĩa Lĩnh, mộ táng tại thôn Văn Nội, xứ chùa chuông, trên núi Hoa Cái, giỗ Hăm nhăm tháng Chạp. Thượng Ngàn Thánh mẫu giỗ mồng Ba tháng Ba, mộ tại thôn Văn La, xứ Xích Hậu; sinh năm hoàng tử, hiệu là ngũ vị tôn ông. Một vị mất sớm, bốn vị trưởng thành, lấy bốn vị chầu bà .
Ngũ vị tôn ông mất, người sau tôn là Ngũ phượng Long Thần Thổ Địa, ngũ vị Thái Thượng lão quân.
- Hoàng tử thứ nhất Nguyễn Nghiêm, táng tại thôn Văn Nội, sau lưng linh từ , giỗ Mồng Bốn tháng Tư.
- Hoàng tử thứ hai Nguyễn Quyền , táng tại Văn Nội, sau lưng linh từ , giỗ Hăm Tám tháng Hai.
- Hoàng tử thứ ba mất sớm, tự là Vũ Thiên Hầu, táng tại Văn Nội sau lưng linh từ, giỗ Mồng Bốn tháng Tư¬.
Hoàng Thái Tử thứ t¬ư Nguyễn Khoản, Sử ký ghi là Sùng Lãm, là Lạc Long Quân, giỗ Hăm Tám tháng Hai, mộ tại Bảo Đà, đồng thượng tam đống.
- Hoàng tử thứ năm Nguyễn Huề, giỗ Rằm tháng Năm, mộ tại Bảo Đà, miếu ông Minh Châu.
Còn tứ vị chầu bà (tức 4 bà vợ của 4 vị còn sống ở trên(Đ.T.): Đệ nhất, đệ nhị táng tại Văn Nội, sau linh từ. Đệ tứ chầu bà là bà Âu Cơ, hiệu là Căn kỷ công chúa, táng tại Thượng Mạo, chùa Tường Quang, giỗ mồng Năm tháng Năm. Đệ ngũ chầu bà táng tại Bảo Đà, miếu ông Minh Châu.
Quốc lễ các vị thánh mẫu tại Văn Nội: mồng Ba tháng Ba; tại Bảo Đà mồng Sáu tháng Ba, các địa phương tế lễ mồng Chín tháng Ba hoặc mồng Mười. Dân ta phụng sự bốn vị chầu bà là Tứ phủ công đồng.
Từ đầu đến cuối thời Hùng có sơn thủy bách thần, trong đó có 18 đời vua Hùng đều an táng tại tỉnh Hà Nội, huyện Thanh Oai, làng Thắng Lãm, khu Văn Nội:
Hùng vương thứ sáu Phù Đổng thiên vương mộ tại Thuần Lãm, chùa Thiên Quan giỗ mồng Tám tháng Tư. Hùng vương có 3 phò mã: Thứ nhất là Đông Hải đại vương, lấy Xích Vân công chúa, giúp nhà Hùng đánh nhà Thục, sinh tại xã Thượng Vực, thôn Đa Vực, hóa tại thôn Động Lãm. Giỗ ngày Năm tháng Giêng. Xích Vân công chúa tự tử ở Thương Vực, miếu Xích Vân. Thứ hai là phò mã Tản Viên (?) sơn thánh, lấy Ngọc Hoa công chúa, cùng giúp nhà Hùng đánh nhà Thục, tử trận tại đầu Loa bắc thành, xã Khả lãm, Phong Khê. Thứ ba là Chử Đồng Tử, lấy Tiên Dung công chúa, phò Hùng đánh Thục. Đêm động phòng hoa chúc, bị Thục Phán và Cao Lỗ sát hại tại đầm Khúc giang. Sau đổi thành đầm Nhất Dạ, hiện thuộc thôn Khúc Thủy, đống thần đồng. Tiên Dung bị cưỡng bắt làm vợ nhưng Tiên Dung quyết chí xuất gia, tu hành tại chùa núi Hương Tích; Tiên Dung hóa tại đó, nay thuộc ngã ba đường Văn La, Văn Nội, Văn Phú.
Tám vạn bốn nghìn Mẹ an táng tại hai khu: Quang Lãm, Tiên Na châu cùng Nhân Trạch, Tiên Đào châu. Các Lạc hầu, Lạc tướng, Mỵ Nương, công chúa, hoàng tử, ở nơi nào mộ táng nơi đó, có tỉnh điền làm ruộng hương hỏa, miếu hiệu thường lấy tên các loại động vật như sài, lang, hổ, báo, voi, ngựa, kình, ngạc, rùa, rắn, ....
Em thứ Hùng vương là Hùng Dực Công lấy Trần Thị Quý, tại thôn Đại Định. Sinh ra Nguyễn Thận tức (Nguyễn Lý Thận. Trần Thị Quý mất sớm, Hùng Dực công tục huyền lấy Nguyễn Thị Sinh làm thứ thất, Nguyễn thị Sinh là người xấu, đuổi mẹ bà Trần Thị Quý và Nguyễn Thận. Vì thế Nguyễn Thận sống ở một khúc sông, mò ốc bắt cá nuôi bà ngoại bị khiếm thị , hàng ngày chỉ chơi với Chử Đồng Tử.
Một hôm Nhâm Ngao là người phương bắc làm tướng nước Văn Lang bảo vệ biên cương, đi qua Khúc Giang, thấy Nguyễn Thận diện mạo phi phàm, đem tiền bạc cho Chử Đồng Tử nuôi bà ngoại. Nguyễn Thận, được Chử Đồng Tử chấp thuận, lúc đó Nguyễn Thận từ biệt Chử Đồng Tử theo Nhâm Ngao đi bảo vệ biên cương; ở đó, Nhâm Ngao uỷ thác cho chị cả mình nuôi dạy Nguyễn Thận, bà chị cả lấy quan thái giám Triệu Cao không có con nên nhận Nguyễn Thận làm con nuôi, đổi tên họ là Triệu Đà, được Tần Thuỷ Hoàng phong là Đô uý, lấy vợ phương bắc, sinh ra Nguyễn Công Trọng tức Trọng Thuỷ, lại có tên là Lý Ông Trọng.
Nhâm Ngao lúc mắc trọng bệnh, triệu Nguyễn Thận lại nói: Cậu là hậu duệ vua Hùng, phải có chí phục quốc, không nên làm nô lệ ngời khác, Nhâm Ngao nhường binh quyền cho Nguyễn Thận.
+ Nguyễn Thận xưng là Triệu Vũ Đế, đóng đô ở Phiên Ngung, chiêu binh mãi mã về nứơc diệt nhà Thục.
+ Văn vương húy là Hồ, tức con Nguyễn Công Trọng, cháu Triệu Vũ Đế.
Triệu Vũ đế mộ táng tại thành Thạch Linh, gò Bình Phán, nay là thôn Thạch Bích, đã cải táng về thôn Văn nội trong thành đá, phía đông linh từ Đống xã Đại Vương
Nguyễn Công Trọng mộ tại thôn Nhân Trạch, bên giếng Lương Sơn; Mị Châu cũng táng tại phía bắc giếng Lương cách tám mươi bước.
+ Minh Vương con trưởng của Văn Vương, ở ngôi 12 năm, mất tại bắc quốc. Xưa Vương ở tại Trường An, lấy Cam Từ, con gái họ Mục sinh con là Hưng, lập làm Thế Tử. Vương hậu họ Mục người Hán mấy lần có dụ vào chầu không nghe, bèn để lại con thứ làm con tin.
+ Ai vương huý là Hưng, con thứ của Minh vương ở ngôi một năm. Vương lúc nhỏ, do Thái Hậu là người Hán thường tư thông với An quốc Thiếu Quý. Sứ nhà Hán là Thiếu Quý đến đây lại dụ vào chầu, Thiếu Quý tìm đến, hậu lại tư thông, nhận dâng thư xin vào chầu. Thừa tướng Lữ Gia can nhiều lần không nghe, Thái Hậu muốn mượn sứ Hán quyền mưu giết Gia, bèn đặt tiệc yến thết sứ giả. Trong tiệc, Hậu bảo Gia rằng: “Cái lợi là thuộc quốc mà Tướng quân không nghe là làm sao?” Hậu giận! Gia lẻn ra ngoài, Hậu muốn chạy theo đâm, Vương ngăn lại. Lữ Gia đem gia binh về nhà, mưu làm loạn. Người Hán nghe tin, sai Hàn Thiên Thu cùng Mục hậu đem quân nhập cảnh. Gia bèn hạ lệnh kể tội, quân tướng tiến công, giết Vương và Thái Hậu giết cả sứ nhà Hán.
Vương thấy Hàn Thiên Thu vào bờ cõi, Lữ Gia đánh phá, gói đồ của sứ giả đưa lên trên ải. Vua Hán nghe tin, giận dữ điều năm đạo quân xâm lấn. Dương Bộc tung lửa đốt thành. Lộ Bác Đức đến doanh trại gọi hàng, sáng sớm trong thành ra hàng.
Vương và Gia ban đêm chạy ra biển. bộ quân đuổi bắt. Nhà Triệu mất.
Nhà Hán chia đất ta thành: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ, gồm 9 quận; từ đấy bắt đầu đặt chức Thái Thú ở các nơi: Nam Hải nay là Quảng Đông, Thương Ngô nhà Đường gọi là ích Châu. Uất Lâm tức huyện Quế Lâm thời Tần; Hợp phố là Tượng quận thời Tần, nay là Liêm Châu; Giao chỉ, Cửu chân, Nhật Nam cũng thuộc Tượng quận. Châu Nhai, Đam nhĩ đều ở trong biển.
Tây Vu Vương tên là Kiệt, cháu Vệ Dương Vương, được dân chài nuôi dưỡng, lúc trưởng thành văn võ song toàn, gia tộc cùng tráng đinh tụ nghĩa tại thành Tây Vu, tương tự Loa thành cho nên gọi là Cổ Loa do Tây Vu vương xây dựng để chống quân Hán, nhưng thiên hạ theo về rất ít, do Nhâm Diên, Tích Quang là người Hán ở vùng Giao chỉ dạy dân lễ nghĩa. Nhâm Diên làm Thái Thú Cửu Chân thói quen chỉ nghề đánh cá. Diên bắt đầu dạy dân cấy gặt và dân nghèo không có sính lễ, lệnh cho thuộc hạ giúp đỡ, văn phong các quận bắt đầu từ hai quan Thái thú này. Do đó được lòng dân, không dùng binh đánh Tây Vu Vương mà Tây Vu Vương cũng không đủ binh lực đánh đuổi quân Hán, Vương tuổi cao, bệnh nặng, mất ở trong thành.
Nguyễn Lang Tuyên là hậu duệ Tây Vu Vương. Thời Hán Quang Vũ sai Tô Định làm Thái Thú quận Giao Chỉ, chính sự tàn bạo, đánh thành Tây Vu Vương, Nguyễn Lang Tuyên chết trận. Ông có ba con trai: Con cả Nguyễn Lang Tế, con thứ Nguyễn Viên, con thứ ba Nguyễn An ở Hương Lang Phong Châu cùng con cháu các Lạc hầu, Lạc tướng, huyện quan đem binh đánh Tô Định, sự việc bại lộ, nhiều Lạc tướng, huyện quan bị Tô Định sát hại.
Nguyễn Đăng Thành là con rể Nguyễn Lang Tế cùng vợ là Chiêu Nương có năm người con trai: Nguyễn Trình Xuân, Nguyễn Trình Nghiêm, Nguyễn Trình Diên, Nguyễn Trình Tiến, Nguyễn Trình Liễu đánh Tô Định không được. Lạc tướng Nguyễn Đăng Thành bị Tô Định giết tại Chu Diên, nay là huyện Thanh Oai, làng Tri lễ (Uớc lễ).
Chiêu Nương cùng năm con chạy đến huyện Chương Mỹ lập đồn tại Kim Cốc, tức Cốc thượng, Cốc hạ, Cốc trung, cự nhau với Tô Định, qua một thời gian cũng bị Tô Định đánh bại; mẹ con sáu người chạy về Hương lang đón cha. Lúc đó Nguyễn Lang Tế giả danh tu hành, pháp hiệu thiền sư Đạo Uẩn, ông khuyên hiện thời phải giả đi tu, để chiêu binh mãi mã, tích trữ lương thảo, đợi thời khởi binh.
Vùng Mê Linh, Lạc tướng Hùng Định (tức Nguyễn Trần Định) ở Nghĩa Lĩnh lấy Trần Thị Đoan tức Bảo Hoa, tên khác là Bà Y, sinh con cả là Hối Lang tức Cai Công, bị Hùng Định phế truất, bà xuất gia tu hành tại chùa Phúc Khê, nhờ vợ chồng Phan Công Huyền nuôi dậy. Hùng Định lấy vợ thứ là Hoàng Thị Đào tức Thiện Bà. Vợ chồng chuẩn bị khởi binh, Tô Định biết, giết Hùng Định. Thiện Bà có hai gái tên là Trắc và Nhị cùng con trai bé là Nguyễn Khổng Chủng muốn báo thù, bèn mời thiền sư Đạo Uẩn về nhà dậy các con, trong đó có cả Chiêu Nương và năm con trai cùng học. Nguyễn Trình Xuân, Nguyễn Trình Nghiêm lấy Trưng Trắc, Trưng Nhị, nhưng Trình Xuân là anh lại lấy em là Trưng Nhị, Trình Nghiêm là em lấy chị là Trưng Trắc. Về sau cùng khởi binh tại tỉnh Sơn Tây, huyện Thạch Thất, xã Bình Yên, thôn Hạ Bằng, kết cục bị Tô Định đánh thua, chạy đến núi Vua Bà, Tô Định đuổi gấp. Lúc nguy cấp chợt thấy quân Tô Định tan vỡ, xuất hiện một nữ tướng oai phong dẫn binh mã cứu viện .
Đại thắng Trưng Trắc mở hội mừng công, nữ tướng tên là Thiều Hoa công chúa, ra ca múa, cỡi áo đàn bà, Trưng Trắc biết là Hối Lang tức anh mình, cùng cha khác mẹ, rất cảm động, từ đó anh em hợp mưu phá giặc, thanh thế ngày càng tăng, nhiều nhân tài cử binh phối hợp.
Huyện Chương Đức có Hoàng đạo Đinh Cống, Đinh Lượng, Quách Lãng, Đinh Tỉnh Nương, Bạch Tỉnh Nương, Nguyễn Lang Tế, Nguyễn An, Nguyễn Thị Lữ, Quốc Lang, Đào Khang, Đào Kỳ, Phương Dung, Nguyễn Khắc Chung, Nguyễn Đỗ Lý. Nguyễn Đống Bảng, Nguyễn Đống Bang…tụ hội tại Hạ Bằng, xuất đại binh về Phong Châu.
Tô Định biết tình thế nguy cấp, cầu hoà, họp nhau tại huyện Mê Linh, thành Long Biên, trại Bác Lãm, thôn Thượng Mạo. Các tướng không nghe. Chỉ có Trình Nghiêm cùng Đinh Lượng tự nguyện đến họp, bị Tô Định đầu độc, Đinh Lượng chết trong bữa tiệc, Trình Nghiêm cáo bệnh không ăn, thấy Đinh Lượng trúng độc, lấy đao vừa đánh vừa lui. Tô Định lệnh binh sĩ dùng cung bắn đuổi, Trình Nghiêm chạy đến Hạ Vi thì hoá. Khổng Chủng tìm đến, thấy anh rễ đã tử nạn, đem về làng Vân Lôi, ấp Đường Lâm hoả thiêu mang về An Lộ. Các tướng hỏi: “hội cầu hoà ra sao?” Khổng Chủng tường thuật sự việc, rồi mai táng Trình Nghiêm ở gò Tầm Sách, còn Đinh Lượng không thấy thi thể, giặc Hán gọi tên người chết là Thi Sách.
Các tướng cả giận. Trưng Trắc cùng với Phùng thị Chính (biết tướng công tử trận) cất đại binh tới họp ở châu Trường Sa, đền thờ núi Hùng Vương, Hát Môn, tuyên thệ. (Lời tuyên thệ và Hịch thảo phạt Tô Định không dịch)
Trong ngày, Trưng nữ v¬ương tiến đến thành Long Biên, trại Bắc Lãm, khu Thượng Mạo đánh Tô Định, Tô Định đại bại, chạy lối Liên lâu về nhanh Bắc quốc. Trưng vương thu hồi Lĩnh Nam 65 thành, đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Thanh Oai, trang Thắng lãm, khu Vân Lôi) ở ngôi 3 năm. Nhà Hán sai Mã Viện sang đánh, mang hai nghìn người ngựa làm quân tiên phong tàn phá bắc biên giới, mở đường mưu lôi kéo chủ lực quân ta tới đấy.Trưng vương trúng kế cử đại binh phòng thủ Hồ Nam, nhưng Mã Viện không đánh mà dùng thuỷ binh từ ngoài biển vào Lãng Bạc, nay là hồ Tả vọng, ở đây do Trưng Nhị trấn giữ.
Quân sư Đinh Cống trấn giữ Tây Vu thành, lệnh Trưng Nhị án binh bất động, đợi đón binh trở về phối hợp tiến công.
Lúc sau, Chiêu Nương thăm trận thế, thấy quân Hán mình trần khiêu chiến, Chiêu Nương cả giận, lệnh Trưng Nhị xuất binh. Trưng Nhị nói ta quân ít, Hán quân đông, Cống Sơn lệnh không được tiến công. Chiêu Nương nói lệnh của Cống Sơn không bằng lệnh của mẹ Ngươi. Trưng Nhị xuất binh, kết cục đại bại, binh sĩ chết trận trên một nghìn người, táng tại trong thành Lãng Bạc, nay là đền bà Kiệu.
Chiêu Nương cùng Trưng Nhị lui về hồ Thiền Quang lại bị đánh, bèn lui đến Xã Đàn. Chiêu Nương lui về Cự Triều, ở thành Tây Vu. Cống Sơn cũng đại bại lui về Cổ Diễn. Binh sĩ chết trận táng ở chợ Dữu. Đinh Cống đem quân về Phong Châu, Cẩm Khê, Trưng Nhị ở xã Đàn thu quân về Cự Triều, ở đây cùng mẹ chống giặc. Lúc nguy cấp Nguyễn Lang Tế, Nguyễn An từ Thanh Hoá đem tân binh về cứu viện. Chiêu Nương cùng Trưng Nhị thoát hiểm, lui về Thanh Trì, Vĩnh Ninh, Đại áng trấn giữ. Nguyễn Lang Tế, Nguyễn An qua Cự phong về Phong Khê, nhưng vì nước sông quá lớn không qua được, bèn về Loa Sơn, Hà Bắc, lại bị giặc Hán bao vây. Nguyễn An chết tại trận tiền. Nguyễn Lang Tế bị trọng thương, chạy đến Đa xứ (nay là làng Đa Sĩ) hoá tại đó, giỗ Mười Sáu tháng Mười.
Lúc Cống Sơn về Phong Châu, lệnh triệu đại binh từ Hồ Nam về Triều. Tại Hồ Nam, Cai Công cử hai vị nữ tướng giả làm Trưng nữ vương chỉ huy quân lính. Cai Công cùng chủ tướng cử đại binh hồi trào.
Lúc đó tại Phong Châu, Cống Sơn hạ lệnh các tướng trấn giữ các địa phương: Hoàng Đạo trấn giữ Hà Hàn; Trưng Nhị giữ Vạn Bảo; Nguyễn Khắc Chung, Nguyễn Đỗ Lý giữ sông Chu Diên; Quách Lãng, Đinh Tỉnh nương, Bạch Tỉnh Nương, Quốc Lang ở cuối sông giữ lương thảo. Hoàng Thị Đào, tức mẹ hai bà Trưng cùng cháu gái là Phùng Thị Chính tại Viên An, khu Vân nội vận tải lương thực. Cống Sơn, Khổng Chủng, Cẩn Nương bảo vệ Cấm thành.
Mã Viện dẫn quân đánh Nguyễn Khắc Chung, Nguyễn Đỗ Lý tại sông Chu Diên, nhiều lần đánh nhau. Lần đầu tại Hạ Hoà, lần sau tại Đống Hoàng, lần thứ ba tại Cao Bộ, sau chết ở huyện ứng Hoà, An Trường, thôn Trung Thịnh.
Tại trấn Vạn bảo, Trưng Nhị thua, bèn về cầu ông Đố, quân sĩ chết rất nhiều, nguy cấp, Trưng Nhị chạy đến chùa La Khê, thấy bà cụ già Trần Thị Đoan đương tu tại đâý. Lão mẫu Bảo Hoa thấy cháu gái lâm nạn, bèn đổi áo quần, cỡi ngựa đến Cấm Khê trên đường đến Văn Phú, quân Hán đuổi bắn chết ở trên ngựa, về đến Văn Lôi, ấp Đường Lâm, các tướng đến đón, thấy Bà đã mất, táng tạo xứ mộ Đế, đời sau tôn là Quan âm Thị Kính.
Hoàng Đạo là anh Hoàng Thị Đào, con Đinh Công Đạo, thua trận Hạ Hòa, lui về Sơn Tây, huyện Quốc Oai, làng Tam Hiệp, đắp đồn chống giặc. Ba năm sau mất, mộ ông táng tại Thượng Hiệp.
Quách Lãng là em gái nhỏ Hoàng Thị Đào, cùng Đinh Tỉnh nương, Bạch tỉnh nương mất tại Hát giang, mộ táng tại Nhân Mỹ môn, núi Trận Đào.
Quốc Lang là con Nguyễn Viên, chết trận ở làng Nhân Vĩ, gò Đình Am.
Tướng quân Đào Khang (CT: Ở làng Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất hiện nay vẫn còn đền thờ đại tướng Đào Khang, gốc quê ở Kiệt Đặc, Hải Dương. Ông là tướng của Hai Bà trấn tiền đồn ven sông Tích vòng hào thiên nhiên bảo vệ đô kì Mê Linh. (Đ.T.)) giữ thành Nhân Vĩ, chết ở trong thành. Lý Hoa Nương, Huệ Hoa nương người Vân Lôi, đóng giả Trương Nương chỉ huy quân lính, chết trận, bị Mã Viện chém đầu, nộp về Lạc Dương, mộ táng tại thôn Văn La, xứ Xích hậu. Chi Nương giả điên, giả cuồng thám thính, bị giặc Hán giết hại, thi thể không biết chỗ nào.
Cai Công, Đào Kỳ, Phương Dung, Lữ Nương dẫn đại binh về đến huyện Hoài Đức, Đức Giang, Đức Thượng, gặp quân Hán, hai bên giao chiến. Vợ chồng Phương Dung, Đào Kỳ, mỗi người một hướng. Đào Kỳ, Cai Công đến Phong Châu trước, người ngựa kiệt sức, phải chống địch, chết trận tại trại Bác Lãm, núi Tiên Đào quả. Phương Dung về đến Phong Khê thấy tướng công Đào Kỳ chết trận bèn tự sát theo, chôn tại núi Tiên Đào quả.
Nữ tướng tiên phong Lữ Nương đánh quân Hán bị thua, chết ở Văn Lôi (nay là khu Văn nội) táng tại Thạch Thành(thành đá).
Cai Công, Đinh Cống, Khổng Chủng bảo vệ Kinh đô, nhiều lần giao chiến, cuối cùng hai vị Trưng Nữ vương chết trận tại Hát môn, đối diện phủ Kinh môn, an táng tại bãi Đồng nhân, xứ mộ Đế, miếu hiệu An Yến. Nguyễn Thị Nghĩa bà tức là em gái Nguyễn Lang Tế, vợ quan huyện Lang Tài, trước đây cùng con gái là Phương Dung về quê ngoại, tế
ở đền thờ núi Hùng Vương. Lúc đó, Tô Định đến huyện Lang Tài, giết hại quan huyện cùng gia quyến,cho nên bà với con gái lưu ngụ tại Phong châu, làng Nhân Mỹ, cùng ba anh, phù trợ Trưng vương, dấy binh đánh giặc. Lúc hai bà Trưng mất, người em Khổng Chủng xưng Bình Khôi Vương cùng anh trưởng Nguyễn Đỗ Bang, Nguyễn Đỗ Bảng, các tướng này muốn lui binh về Đồng Giang tức Đồng Dương, mới đến thành Long biên, khu núi Huyền nhạc, bị quân Hán tiến công, quân số chết quá nửa; khi đến Đồng Giang lại bị bao vây. Ba ngày binh sĩ đói khát chết nhiều, táng tại khu này, người đời sau lập Quán chúng sinh. Duy có Cai Công cùng 72 dũng sĩ đến hồ Thượng Thanh, địa phận Bình Kiều, bị quân Hán giết hết.
Khổng Chủng lui về Kim Lâm cũng bị quân Hán đuổi đánh, bèn lui về huyện ứng Hoà hợp binh với mẹ. Bà Hoàng Thị Đào đang ốm, lại nghe hai con gái chết trận, cả giận tức thì kéo binh báo thù, quân thủy ngược dòng Hán giang đến Cỗ Chung nay là Phương Trung. Quân Hán nghênh chiến, đồng thời phái Hồ Điển phá đê Mộc Xá sau đó quân Hán phản công. Hoàng thị Đào lui binh đến chỗ đê vỡ nước xiết, thi thể Bà cùng quân sĩ theo dòng trôi đến huyện ứng Hoà, thôn Thái Đường. Mộ bà Hoàng thị Đào táng tại Nguyễn Xá, thi thể binh sĩ tản mạn chôn ở nhiều địa phương. Người đời sau cải táng hài cốt Bà, đưa đến Sơn Tây, Ba vì, xã Nam An, miếu hiệu của Bà là Mèn Thiện. Khổng Chủng cùng Phùng Thị Chính đến Đặng Giang, cùng anh em Trình Xuân hợp binh đóng đồn trị khu này.
Chiêu Nương cùng bốn con trai đóng đồn tại Vĩnh Linh, được Lê Hoàn, Lê Hiệp, Lê Chân giúp sức (Lê Chân là em nuôi của Trưng Nhị). Chiêu Nương có binh hùng tướng mạnh nhưng tầm mắt hẹp, biết Phong Châu nguy cấp mà không cứu, chỉ có Trình Xuân nóng lòng muốn cứu vợ con, bèn đổi tên là Hùng Nguyên, lệnh cho quân sĩ cải trang thành người Mông, bất thần tấn công quân Hán ở Phong Châu. Hùng Nguyên đại thắng tìm vợ con thì đã chết, chỉ còn con trai thứ hai đưa về Bối khê nhờ người thân nuôi dưỡng. Nghe tin quân Hán ở Phong Châu thất thủ, Chiêu Nương cùng bốn con trai cử binh tới đánh Phong Châu, quân Hán nhiều lần công thành không được. Không lâu, quân Hán tập trung lực lượng, Mã Viện, Lưu Long, Hồ Điển cử đại binh đánh đại thành, Chiêu Nương và các tướng giữ thành không nổi, Chiêu Nương tử trận tại xứ, các tướng rút về Nghĩa lộ, thôn Hạ, chống địch ba ngày, hai bên quân sĩ chết trận rất nhiều.
Trình Xuân tức Đô Dương đưa quân lui về Cổ Bản, Cổ Châu nhưng chống không nổi, vừa đánh vừa lui, đến huyện ứng Hoà, từ Đinh Xuyên Diên đến Đặng Giang Hậu đều bị tiêu diệt.
Phùng Thị Chính chạy đến thôn Ngọ Xá, vì đẹp như Tiên, Lưu Long, Hồ Điển đều thích, không muốn giết hại; Phùng nương chạy đến Thuần Lãm, không lâu bị Hồ Điển phát hiện muốn cưỡng làm tiểu thiếp, Phùng Nương không chịu, uống thuốc độc thủ tiết, mộ táng tại Thuần Lãm, Tiên Châu.
Anh em Trình Xuân đổi họ là Đặng Xuân, Đặng Diễn, Đặng Tiến, Đặng Trần; Bình Khôi vương Khổng Chủng đổi tên là Chú Ba. Lê Hoàn, Lê Hiệp, Lê Chân không đổi tên. Tàn quân còn ba mươi sáu người đồn trú tại Phú Xuyên, thôn Xuân La; sau tấn công quân địch ở huyện Chu Diên, ba mươi sáu dũng sĩ bị tiêu diệt tại đây (nay là huyện Thanh oai, thôn Phú Thượng). Chỉ có bốn anh em họ Đặng, ba anh em họ Lê về Xuân La tự tử, bảy người chung một huyệt, mộ hiện táng tại Nhân Mĩ, Việt Trì. Nguyễn Thị Nghĩa lưu lại cùng nhân dân giữ thành không rút lui, chết ở trong thành, mộ táng tại Nhân mỹ, Việt Trì. Nguyễn Đỗ Bang, Nguyễn Đỗ Bảng giữ thành Châu An, sau chết ở đó.
Người đời sau nhớ công đức lập đền thờ, triều Đinh Tiên Hoàng lập Nam thiên thất thập nhị từ (ức bảy mươi hai đến, chùa),thành ba Khu: Khu nhất: Thượng lôi gồm Văn Nội, Vân Lôi, Phong Châu hai mươi bốn ngôi. Khu nhì: Hạ Lôi, Phong Kê, Cổ Li, Khả Lm, hai mươi bốn ngôi. Khu Ba: trung lôi gồm Văn Lôi, Trạch lôi, hai mươi bốn ngôi.
Đinh Tiên Hoàng phong mỹ tự các vị Hùng vương, sơn thuỷ bách thần, các vị Lạc hầu, Lạc tướng là: Nam triều Thánh tổ Đệ nhất Quảng giáo viên minh. Từ Triệu Vũ đế đến Trưng nữ vương và các tướng được phong là: Nam Triều Thánh tổ Đệ nhị Quảng giáo viên minh, Thạch tượng trưng v¬ương phật. Triều đại Lê Đại Hành gia phong mỹ tự: Bách thần Bản cảnh Thành hoàng, Đông xã linh ứng Đại vương.
*
ốc tổ tế văn
(Tóm tắt, không dịch toàn các văn tế)

- Tháng Chạp, ngày Hăm Nhăm: Lễ cáo từ tại Tổ miếu.
- Văn lễ giã cáo từ thỉnh hạ long nghi.
- Văn lễ cáo từ thành giá hoàn cung tại từ đường.
- Sắc văn ba mươi tám đạo từ thời Đinh, Lê tới nay ghi là: Bản thổ thượng đẳng tối linh thần, Đông xã đại vương.
- Tháng Giêng, ngày Mười Một: Văn tế hội đồng, thỉnh Tứ phủ thần linh cùng Sơn thuỷ bách thần.
- Tháng Giêng, ngày Mười Một: Lễ nhập trạch, không phụng nghinh tế Tứ vị Đại vương.
- Tháng Hai, ngày Hai Mươi:Văn tế sinh nhật.
- Tháng Năm, ngày mồng Mười: Văn tế ngày thần hiệu phù hộ Bình Khôi vương Khổng chủng.
- Tháng Mười, ngày mồng mười: Văn tế ngày hoá.
- Tháng Chạp, ngày Ba Mươi: Văn tế trừ tịch.
- Tháng Chạp, ngày Ba Mươi: Văn tế tống cựu.
- Tháng Giêng, mồng Một: Văn tế nghinh tân giao thừa.
- Tháng Giêng: Văn tế ngày phụng nghinh giã hội.
- Tháng Giêng: Văn tế ngày Trung định giã Vô phụng nghinh.
- Tháng Giêng, ngày Mười Một: Văn tế phụng nghinh từ miếu Hùng vương về cung an vị.
- Tháng Giêng, ngày Mười Hai: Văn thế chủ tiến lễ.
- Tháng Giêng ngày Mười Hai: Văn tế thứ ba.
- Tháng Giêng, ngày Mười Ba: Văn lễ thứ ba
- Tháng Giêng, ngày Mười Bốn: Văn tế thứ tư
- Tháng Giêng, ngày Rằm: Văn tế thứ năm
- Tháng Giêng, ngày Mười Sáu: Văn tế thứ sáu
- Tháng Giêng, ngày Mười Bảy: Văn tế thứ bảy
- Tháng Giêng, ngày Mười Tám: Văn tế thứ tám
- Tháng Giêng, ngày Mười Chín: Văn tế thứ chín
- Tháng Giêng, ngày Hai Mươi: Tháng Giêng, Văn tế thứ Mười.
- Tháng Giêng, ngày mồng Năm: Văn tế
- Tháng Năm ngày Mười Một: Văn tế thứ nhất
- Tháng Năm Xướng tế Văn tế nhập định.

* * *


 
Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn