Thứ hai, 24/09/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay657
mod_vvisit_counterHôm trước1960
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA ( XV) E-mail
22/04/2018

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
TIẾP PHẦN MỘT
XV.(Tiếp theo kỳ trước)

Lại nói chuyện bấy giờ vào cuối đời Hùng Vương, trời đã có ý cáo chung họ Hùng. Duệ Vương sinh được 20 hoàng nam và 6 công chúa. Duy chỉ còn lại 2 người con gái. Người con gái lớn là Tiên Dung đã gả cho Chử Đồng Tử. Còn lại công chúa Mị Nương, lầu cung nga khoá đóng then cài, nhụy ngọc còn phong nguyên vẹn, mối lương duyên chưa định cùng ai.
Vua bèn cho lập một ngôi lầu ở cửa thành Việt Trì, xuống chiếu truyền cho thiên hạ ai người thông minh tài trí, đức độ, anh hùng, thì có thể nhường ngôi báu và hẹn sẽ gả con gái cho.
Ngày hôm đó, khắp trên sông đầy thuyền, trước lầu xe ngựa dập dìu. Bút văn múa mà bóng rồng lay động, sao rớt xuống lòng sông lạnh lẽo, trận võ bay mà hổ báo kinh hồn, sấm vang rền nơi góc biển bao la. Muôn nhà cả nước; bốn biển anh hùng đều là kẻ được mặt này mất mặt khác, chẳng ai là toàn tài, được ý nhà vua. Thơ Đào yêu (CT:Thơ Đào yêu: Tên bài thơ hay trong Kinh Thi nói về việc xứng đôi vừa lứa của trai gái.) chưa người đàn hát. Người đời sau có thơ rằng:
Nhất trường gia quốc thôi tính động
Tứ hải anh hùng lão nhãn ngung
Bất thức Việt thành xuân toả thược
Vị thùy khải thủ vị thùy phong.
Nghĩa là: Khắp đất nước vang dậy thúc giục lòng người
Anh hùng bốn biển đều ở trước mặt
Không biết cái khoá xuân của Việt thành kia
Ai là người mở được, ai là người không mở được.

Bấy giờ Sơn Thánh và Thủy Tinh ở Động Đình là bạn học (CT: Nguyên văn là “sư hữu”,là bạn dạy và học nhau) của nhau lại đều có nhiều phép thuật thông thiên, chưa kịp ứng tuyển. Ngày hôm sau, Sơn Thánh gửi cho Thủy Tinh thư rằng: “Người xưa nói “Giai nhân nan đắc” (Người đẹp khó lấy được), đàn ông được gặp gỡ với người đẹp đã là khó, huống chi lại lấy công chúa làm vợ. Ôi! Tôi với anh, âm dương hai đường cách biệt mà tình đồng môn thì chỉ có một. Nay con gái nhà vua ở chốn Dương đài, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, mà việc nhân duyên chưa định được với ai. Bọn chúng ta chẳng ngại đường xa mà tới, mối duyên này chẳng là bọn ta thì ai được nữa!”.
Thủy Tinh nhận được thư giãi bày tâm sự của Sơn Thánh, liền ngày hôm đó chỉnh đốn hành trang, tụ tập tướng sĩ kéo đến núi thiêng Ngọc Tản gặp Sơn Thánh. Sơn hào hải vị, đại yến tiệc được mở ra để Mười khách. Tiệc tan, Sơn Thánh cùng Thủy Tinh tới kinh thành cung kính đến trước nhà vua tâu rằng: “Chúng thần tài hèn sức mọn, nay được sinh ra ở đất nước của Quốc Vương. Trộm nghe Thánh Thượng mở lầu thi tài kén rể, chúng thần đến muộn, xin được nhà vua cho thi tài. Biết đâu may mà xứng với hịch chiêu hiền”.
Nhà vua cả mừng liền đi xe mây đến huyện Bạch Hạc, ngự xem cuộc thi. Thánh Tản lên ngồi ở đỉnh núi. Thủy Tinh trở về đáy sông. Chỉ trong khoảnh khắc bỗng thấy đỉnh núi gió mây kéo đến, mặt nước sóng dồn. Núi sông ầm ầm tiếng sấm. Nước cuộn làm kình, ngao (CT: Tên các loài cá và động vật sống dưới nước) lạc phách; vạn dặm cuồng phong sóng dậy, ngư miết (CT:Sơn Thánh, Tản Viên Sơn Thần, Sơn Tinh, Thánh Tản, Nguyễn Tuấn đều là một người) cũng phải kinh hồn. Từ sâu thẳm lòng sông bày ra một góc trần ai kinh động, cả một vùng trời đất mung lung, thiên hình vạn trạng, xuất quỷ nhập thần, biến hoá u minh, ai xem cũng phải sợ hãi. Sơn Thánh bấy giờ tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng niệm thần chú chỉ vào, tức thì lạ lùng thay, mọi thứ trước đầu gậy đều quét sạch không. Bỗng thấy núi Ngũ Nhạc nổi lên mặt sông cao đến mấy nghìn vạn trượng, lừng lững đứng giữa trời đất. Thú chạy tới chầu, chim về tụ họp. Lòng sông vang tiếng động, sóng cuồn cuộn nổi lên, vạn vật đắm chìm trong nước, biến biến hoá hoá. Phép của hai người đều rất huyền diệu. Nhà vua không biết sẽ gả con gái cho ai. Ngày hôm đó, nhà vua xa giá hồi cung bèn gọi họ tới nói rằng: “Trẫm chỉ có một con gái yêu, những người đến trước đây chưa chọn được người nào. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, trẫm chưa biết gả con gái cho ai. Vậy thì mai, ai là người mang sính lễ đến trước, Trẫm sẽ gả con gái cho”.
Bấy giờ Thủy Tinh trở về hồ Động Đình, kiếm tìm các vật lạ, vì sách ước đã về tay Sơn Thánh (CT: Sơn Thánh, Tản Viên Sơn Thần, Sơn Tinh, Thánh Tản, Nguyễn Tuấn đều là một người). Sơn Thánh xuống dưới lầu rút sách thần trong tay áo ra, ngoảnh lên trời đọc ngầm câu chú, ước được các sinh lễ. Bỗng thấy voi trắng chín ngà, vật lạ ngọc quý đều từ trên trời mà rơi xuống. Sơn Thánh lượm lấy, đến nửa đêm thì lén đem các sính lễ đến cung vua. Nhà vua bèn gọi công chúa ra gả cho Sơn Thánh. Sơn Thánh bái tạ rồi rất yêu quý, trân trọng, bèn phong cho Tả Kiên thần Sùng công là Tả đô đài đại phu; Hữu Kiên thần làm Hữu đô đài đại phu. Từ đó vua tôi hợp thức, thiên hạ thái bình, muôn dân ca múa trong sự no ấm. Bốn biển được thanh bình. Vua lại ban cho mấy anh em cờ tiết và lưỡi phủ việt, cùng hưởng phúc lành.
Lại nói chuyện: giờ Mão ngày hôm sau, Thủy Tinh mang đầy đủ lễ vật tới. Nhà vua nói rằng: “Sơn Thánh đã đem sính lễ tới rồi. Trước đã có lời hẹn, nay biết làm sao”. Thủy Tinh bởi vậy rất hận, trở về tâu với Đế Quân xin binh mã để tiến đánh Sơn Thánh. Đế Quân đồng ý. Ngày hôm đó, Thủy Tinh chỉnh đốn quân nhu, tụ họp các thủy tộc lại, bày trận nghìn hàng, bố trận vạn đội. Long Chu đốc thúc ở giữa sông, thủy tộc cổ vũ ở đáy sông, hàng hàng thẳng tiến. Vừa đi được nửa đường thì Sơn Thánh hay tin bèn về tâu với vua lấy lưới sắt để bảo vệ. Quân của Thủy Tinh không thể tiến được, bèn mở một lối riêng ở ngang sông từ Lý Nhân (CT: Nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) cho đến vùng sơn cước (CT: vùng núi) của phủ Quảng Oai (CT: Nay thuộc huyện Ba Vì) men theo cửa sông Hát ra sông Hồng rồi vào sông Đà tập kích vào sau núi Tản Viên. Lại mở một lối nhỏ nữa ở ngang sông Pha (CT: Chưa rõ đây là con sông nào) tiến đánh vào phía trước núi Tản Viên. Lúc ấy phép thuật của Sơn Thánh rất biến hoá liền sai dân núi chẻ trúc làm rào, rào chân núi ngăn quân của Thủy Tinh. Lại lệnh cho nhân dân rằng: “Hễ quân của Thủy Tinh tấn công, thấy chúng đánh phá rào thì bắn và chém”. Bấy giờ các loài Kình, Nghê, Côn, Ngạc (CT: Tên các loài cá sống ở biển) tất tật đều dạt vào bên bờ sông. Thủy Tinh vô cùng căm phẫn, cho nên đến nay, tháng tám hàng năm vẫn dâng nước lên để đánh. Dân ở vùng dưới chân núi luôn bị thiệt hại vì những trận nước lớn. Nhưng Sơn Thánh có phép thuật và bí quyết thần tiên, cho nên quân của Thủy quái không thể làm hại được. Người bấy giờ có thơ rằng:
“Tương tranh hà sự Thủy Tinh thần
Hiếu bả thi hoài giác hậu nhân
Viên hải kính huyền song nhãn ký
Dục tình ba động báo thu phân
Thần thư vị túc thường tiên trái
Hồng phấn na kham đấu túc nhân
Thử nhật Trường Sa như bất ngộ
Sắc không dục vấn tiểu Long quân.
Nghĩa là:
Cớ vì sao thần Thủy Tinh lại đi tranh với Sơn Tinh
Vậy làm bài thơ này nói cho người đời sau biết
Vì bể ái mà đôi mắt trừng trừng như gương treo gửi lại đời sau
Bởi lòng dục mà sóng nước sôi động mỗi khi giữa thu
Sách thần chưa đủ trả món nợ xưa
Sao vì một người con gái mà dấy lên chuyện giao tranh?
Nếu như ngày xưa không được Sơn Thánh cứu mạng ở Bãi Trường Sa
Vậy muốn hỏi Tiểu long quân có hiểu lẽ “sắc không” chăng?
Bấy giờ Hùng Duệ Vương đang trị nước, bốn biển thanh bình, giang sơn từ Thần Phù (CT: Tên của một cửa biển thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay) đến Yên Tử (CT: Tên một địa danh thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay) lững lờ mây trắng vừng hồng. Gió trăng rọi khắp Hoa Quật (CT: Chưa rõ nay là vùng nào) Long Biên (CT: Hà Nội ngày nay) chập trùng nước biếc non xanh, đất nước thái hoà thảy đều vô sự.
Sơn Thánh bấy giờ thường hay dạo chơi, khi đi qua các xã Cổ Đằng, Vật Lại, huyện Ma Nghĩa (nay tức phủ Quảng Oai) (CT:Nay thuộc huyện Ba Vì, gồm 3 huyện cũ là: Tùng Thiện, Quảng Oai và Bất Bạt ) xem cảnh ngắm quan non xanh nước biếc bèn dựng hành cung (CT: Cung điện dựng để cho nhà vua nghỉ ngơi lúc đi chơi) (nay là Trung thần cung điện). Lại đi thăm các nơi: Thụy Phiêu, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Khanh, An Phúc, Tùng Cao thuộc huyện Phúc Lộc (nay là huyện Tùng Thiện). Lập ra Nam thần cung ở 12 cửa khe suối. Lại thường hay săn bắn ở An Diệu, đất Mỹ Lương, và lập ra Mang Sơn cung điện (nay thuộc Sơn Đông, Triều Đông - hai xã này phụng sự) để lại ruộng tế điền (CT: Ruộng thờ) gồm 12 mẫu ở An Diệu (nay là xã An Chi) (CT: Nay thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình) và 200 mẫu cho dân Sơn Đông và Triều Đông làm dân tạo lệ (CT:Tạo lệ: dân được hưởng ưu đãi của triều đình) để cùng với hậu thế đời sau hương hoả. Lại nói về động núi Tản Viên, vùng này ba ngọn núi cao vạn nhẫn (CT:Nhận (nhẫn): một đơn vị đo chiều cao ngày xưa) lừng lững, điền địa cảnh quan đẹp đẽ hào hùng không thể nào mà nói hết được; thêm vào đó, dân cư đông đúc, phong tục thuần hậu, trong lòng rất yêu quý họ. Bèn dựng một cung điện ở đỉnh núi, ấy là đất Thủ Pháp có 22 xóm. Nay Thượng điện thần cung toạ Cấn hướng Càn (CT: Hướng đất theo thuyết “phong thuỷ” theo hệ can - chi) làm chính điện. Cung Hạ Thần (CT: Tức đền Hạ) là nơi thờ cúng, tế lễ. Cung Đông (CT: Đông Cung là đền Và thuộc thị xã Sơn Tây ngày nay) Thần là nơi nghe những lời tâu bái. Cung Bắc Thần (CT:Tức Bắc Cung -đền Thính ở huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Tục lệ hội Đền Và trước đây là rước kiệu từ Đông Cung (Đền Và) qua sông Hồng sang Bắc Cung; khi nào có gió thổi từ Bắc sang Đông thì lại rước kiệu trở về Đông Cung (ĐT)) là nơi trú nghỉ. Từ đó phụng mệnh của Hoàng đế thường cùng với Tứ Phủ Công đồng ở trên Hải Đảo đi tuần xét muôn việc trong dân gian. Thời bấy giờ hai thần Tả Hữu Lưỡng Kiên (CT:Tức là 2 người em của Thánh Tản) thường dạo chơi ở các sông, thưởng ngoạn cái thú của thuyền chài. Qua An Diệu, tổng An Lạc, huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, thấy vùng này non xanh nước biếc, thế đất hùng vĩ, rồng cuộn hổ chầu, nghĩ đó là nơi phong cảnh đẹp bèn xin với Sơn Thánh lập một cung điện ở đất xã Quang Diệu. Hai vị cư trú ở đó khuyến khích các việc nông tang; khuyến thiện trừ tai, lại thường lấy điều nhân nghĩa để cố kết nhân tâm, lấy sự hoà mục để dựng gây lễ tục. Rất có công đức với dân.
Bấy giờ Hùng Duệ Vương Mười Sơn Thánh cùng hai vị thần về triều để cùng với vua lo việc nước, chuẩn bị nhường ngôi cho Sơn Thánh. Có bộ chúa Ai Lao họ Thục, tên Phán, cũng là con cháu của nhà Hùng đổi làm họ Thục, riêng cai trị Ai Lao((6) Nước Lào ngày nay.
6) ngó thấy được Hùng Duệ Vương tuổi đã cao mà 20 hoàng tử đều đã quy tiên, không người nối nghiệp, định rằng thừa cơ sẽ động binh, muốn đánh Hùng Vương để cướp nước. Vua bèn cùng đình thần (CT: Đình thần chỉ quan trong triều đình) nghị luận.Trong triều có Liêu Công, nói: “Bệ hạ thừa mệnh Trời, quân thần hoà hợp, yên ổn vô sự trong cảnh thái bình đã lâu ngày rồi. Binh lính chưa tinh. Nay động binh ngay, nếu dựa vào quân dân xã tắc mà phá được giặc thì việc thờ phụng linh sàng tổ tiên chẳng phải lo gì. Chẳng may giặc mạnh thế cường, không phá được, thì tổ tông, dân chúng biết trông vào đâu. Chẳng bằng có mưu kế thận trọng lén hối lộ cho tướng giặc, đưa thư cho địch chúa, để khi họ xem xét ý tứ, thì binh lính được nghỉ ngơi, bấy giờ thừa cơ mới có thể phá được. Nhà vua nghe lời tâu cũng muốn dùng kế ấy, bèn gọi Sơn Thánh vào để hỏi việc đó. Sơn Thánh tâu rằng: “Hơn 2000 năm nay, 17 đời trị nước, ân trạch sâu dày đã thấm vào cốt tủy muôn dân. Nay nước đã giàu, binh đã mạnh, cái uy đức của bệ hạ đã trải khắp trong ngoài. Còn người Thục không biết tự giữ, dám cậy thế mạnh thì chúng chuốc lấy thất bại thật đã rõ ràng. Nếu như bệ hạ kể tội và đem quân đi đánh, lấy nghĩa mà khuất phục họ thì muôn dân đều theo về bệ hạ mà không theo giặc thì lo gì không dẹp được giặc. Thần xin ba vạn hùng binh ra biên giới nơi chiến địa để vào đất Thục, một mình một xe, có thể dẹp được giặc Thục”.
Nhà vua nghe nói, cả mừng, bèn chọn ngày để trai giới (CT: Trai giới: Xưa, khi muốn cầu nguyện với thần linh điều gì, hay là ngày lễ trọng, người chủ việc tế tự trước đó phải tắm rửa vệ sinh sạch sẽ, ăn chay 3 ngày, gọi là trai; bảy ngày hết sức kính cẩn cầu nguyện gọi là giới; nói gọn là trai giới. Từ ăn chay ta thường dùng có gốc từ đây) lập đàn thờ lễ tế cáo trời đất, lấy Linh Quang thần nỏ đưa cho Sơn Thánh và nói rằng: “Việc binh quý ở sự thần tốc, tướng quân dùng cái này mà bắn đi thì nó như được thần giúp vậy”. Lại vào tế cáo Thái Miếu (CT: Thái Miếu: tổ miếu của nhà vua), vua đứng ngoảnh về phía Bắc, Sơn Thánh ngồi ngoảnh về phía Nam. Vua thân cởi lưỡi việt (CT: Cái búa lớn dùng để trị kẻ có tội to, một trong 8 vũ khí quý báu (bát bửu)) cầm đằng cán, trao cho Sơn Thánh đằng lưỡi và bảo Sơn Thánh rằng: “Từ đây trở lên cho tới khắp vùng trời, sẽ thuộc quyền cai quản của Tướng quân”.
Lại tháo búa, giữ đằng lưỡi, trao cho Tướng quân đằng cán và nói: “Từ đây trở xuống, cho tới khắp cả sông ngòi thuộc quyền cai quản của Tướng quân” (CT: Đoạn này nói các nghi thức trao quyền cho Sơn Thánh).
Sau đó Sơn Thánh bái từ rồi vâng mệnh hùng dũng kéo quân đi. Hùng Vương có bài thơ úy lạo (CT: Uý lạo: khuyên nhủ và khích lệ) rằng:
“Chinh bái hàng hàng xuất ngọc quan
Tam quân như nhất một hào đoan
Mã đề kham sử phong khinh lực
Hổ trướng hưu hiềm tuyết sấu nhan
Thiên lý khu trì thiên lý mộng
Nhất trùng ly biệt nhất trùng san
Kiếm cung tự cổ anh hùng sự
Đởm liễu gian nan bất giác hàn”.
Nghĩa là:
Hàng hàng binh lính ra khỏi cửa khuyết
Ba quân một lòng chẳng có vấn vương
Khiến cho vó ngựa mạnh lướt như gió nhẹ
Nơi trướng hổ chẳng ngại tắm sương gội tuyết
Nghĩa dặm ruổi rong như trong giấc mộng
Qua mỗi ngọn núi là thêm một phần cách biệt
Từ xưa, kiếm cung là việc của kẻ anh hùng
Gánh vác việc gian nan, không hề ngại đêm khuya gió lạnh.
Bấy giờ quân thù đã tiến tới núi Quỳnh Nhai (thuộc địa phận phủ An Tây). Sơn Thánh tới bãi Diễn Vũ, truyền các tướng tới để nghe lệnh. Cánh quân thứ nhất giao cho tả, hữu hai Kiên Thần đem 5 vạn quân, 50 viên tỳ tướng tiến đánh giặc Thục ở Ái Châu (CT: Châu Ái: vùng Thanh Hoá ngày nay). Hai thần vâng lệnh nhận quân tiến tới và đóng quân ở trang Quang Diệu, huyện Mỹ Lương. Hôm đó nhân dân ở trang Quang Diệu sắp lễ để chúc mừng và xin đi theo để đánh giặc. Hai người thu nhận ở đó 7 người họ Đinh, 6 người họ Bùi, 6 người họ Lê, 6 người họ Nguyễn, 3 người họ Hoàng, 3 người họ Trần, 2 người họ Phạm, 2 người họ Đỗ, hai người họ Trương...tổng cộng 40 người làm gia thần tay chân. Ngày hôm đó đại quân thuyền, ngựa song hành xuất trận vang động cả hai bờ sông. Thủy bộ cùng tiến, tiếng xe ngựa như sấm vang dậy cả vạn dặm. Quân sĩ tới đâu khí thế ngùn ngụt bốc lên tận trời. Đến thẳng núi Tam Điệp - địa đầu của châu Ái, cùng với giặc Thục đại chiến một trận, thế quân mạnh như chẻ tre, đuổi gió, uy dậy như vặn củi, bẻ cành. Bắt sống chánh tướng Thục chém ở dưới cờ, và chém được hơn 2 nghìn đầu tỳ tướng và binh lính giặc. Cánh quân Thục ấy, hai thần đã dẹp xong, còn bốn cánh quân Thục khác Sơn Thánh truyền hịch cho các phiên thần (CT: Phiên thần: các tướng được chỉ cai trị ở các vùng biên giới) thu thập phiên binh, dân quân để ứng chiến ngay tại địa phương mình. Lại lệnh cho 2 vạn hùng binh thẳng tiến tới cách núi Quỳnh Nhai ngoài 50 dặm, nổi trống khua chiêng khiêu chiến. Tướng Thục dốc hết 30 vạn quân ra đánh. Quân vua Hùng giả vờ thua chạy, phục binh ở hai bên núi Thiên Oan. Bọn giặc đuổi gấp gần đến chân Phù Hoa. Sơn Thánh ngồi chễm trệ trên động Quang Hoa lấy sách thần đọc thần chú, bỗng từ trên trời một vị thần tướng lao xuống, thân dài 5 trượng, tay cầm một ống tiêu(CT:Ống tiêu: giống như ống sáo, một loại vũ khí cổ) dài 3 thước rộng 5 thước, hình giống vỏ ốc, đứng trên đỉnh núi phía bên trái Sơn Thánh thổi lên một hồi thì sấm nổi gió cuồng, sương dạt mây bay bẻ cây tốc nhà, bụi bay mù mịt, trời đất tối sầm lại. Quân Thục tan rã bỏ chạy tán loạn. Sơn Thánh liền cho nổi trống liên hồi, lấy nỏ thần bắn hơn 100 phát, thế là quân mai phục bốn phía vây chặt. Chém hết được 30 vạn đầu giặc không thoát một tên, không lọt một ngựa. Thần tướng bỗng nhiên bay lên không trung biến mất. Sơn Thánh truyền cho các tướng họp quân dâng biểu báo tin thắng trận với vua. Vua thân ban chiếu vời về, gia phong cho Sơn Thánh làm Nhạc Phủ Kiêm Thượng Đẳng. Tả Kiên thần làm Cao Sơn Đại vương. Hữu Kiên thần làm Quý Minh Đại vương. Nhân đó nhà vua có làm một bài thơ uý lạo rằng:
Quả nhân bất bị viễn ngọc tướng nhân
Nghĩa cử lao phiền ngọc tướng quân
Vạn lý tinh kỳ can nõi lực
Trùng thiên phong vũ đả chinh cân
Quả nhiên xích kiếm thôi man khấu
Trực bả liên thành hiến quốc quân
Thiên cổ dĩ tiền thiên cổ hậu
Gia nhi tử dã, quốc nhi thần
Dịch nghĩa:
Quả nhân (CT: Quả nhân: tiếng vua tự khiêm tốn xưng với thần dân) chẳng phòng bị kẻ phương xa
Vì nghĩa cử phải làm mệt nhọc tới ngọc thể tướng quân
Vạn dặm cờ xí bay, dốc hết sức lực
Trời thẳm, gió táp mưa sa tấm khăn của ngưòi chiến sĩ
Quả nhiên thước kiếm đuổi sạch quân thù
Nhanh chóng lấy lại thành giúp cho ta
Nghìn năm về trước, nghìn năm về sau
Xứng đáng là con của nhà, là bề tôi của nước.
Lại nói chuyện, hai năm sau quân Thục nuôi lòng căm phẫn, lại cử binh phục thù. Chúng cầu viện những nước bên cạnh, dốc hết tinh binh trăm vạn, ngựa tốt tám nghìn chia làm 5 cánh. Cánh quân chính 30 vạn quân, 5.000 ngựa thẳng theo đường ven núi Quỳnh Nhai, Hoàng Tùng, Châu Mộc mà tiến. Một cánh quân bên trái 10 vạn quân, 1.500 ngựa theo đường châu Văn Lan, Lạng Sơn mà tiến. Một cánh quân bên phải 10 vạn quân, 500 ngựa, theo đường châu Minh Linh, Bố Chính mà tới. Một cánh đường thủy 30 chiến thuyền, 30 vạn thủy quân tinh nhuệ (cửa biển Hội Thống, Hoan Châu). Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa songhành, thế giặc rất mạnh. Hùng Duệ Vương rất lo lắng, liền hỏi các đình thần (CT: Đình thần: các quan trong triều đình). Các đình thần đều ngơ ngác nhìn nhau không có kế nào có thể đem ra thi hành được. Sơn Thánh tâu rằng: "Ngày trước vua Thục hùng hổ coi thường uy tín, tôi một lần ra quân là dẹp tan. May được ơn trời rộng mở nhân từ cho chúng tránh được nạn nước mất nhà tan. Nay giặc không biết hối, lại muốn mưu đồ phản nghịch, châu chấu đá xe, thế của chúng như lông nhỏ hơ trên lò lửa mà thôi. Bệ hạ sao lại phải lo lắng. Nắm giữ việc quân, thần xin nhận lấy..."
Duệ Vương mới ngoảnh lại mà rằng: "Mưu kế giữ nước, khanh tính thế nào?". Sơn Thánh tâu: "Cái sự quyền biến không thể tính trước được, thần xin 50 vạn hùng binh, thì thiên hạ của hoàng thượng vài ngày sẽ yên định được". Duệ Vương bằng lòng. Sơn Thánh liền đem 10 vạn hùng binh, mấy trăm voi chiến ngựa tốt, theo đường lớn Châu Mộc mà trấn giữ; đào hào sâu, đắp lũy cao, chưa vội giao chiến. Mật sai Dũng Mãnh, Nguyên soái Tổng đốc Đại vương đem 3 vạn hùng binh theo đường châu Văn Lan để ứng chiến với quân bên tả của Thục, lại sai Quý Minh hiệu Long Lĩnh thần quân phụ quốc chính Đại tướng quân theo đường sau châu Đại Man, giả đặt một đồn ở đó để ứng chiến với cánh quân hậu của quân Thục. Lại sai Phụ quốc vương Ma thần anh linh nhất lang hào kiệt Thượng tướng quân, mang hai vạn người, ngựa ứng chiến với cánh hữu quân Thục ở châu Minh Linh. Lại sai Tán quốc Tá Thánh Đại thần Đại tướng quân mang 3 vạn người ngựa và hơn nghìn chiến thuyền, cự nhau với cánh quân thủy ở cửa biển Hội Thống, châu Hoan (CT: Châu Hoan: nay thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh) và cai quản luôn cả mặt Châu Ái. Sau lại sai Đại thần Trần Cơ Hổ Ma vương Dũng Mãnh Anh đô Thượng đại tướng quân đem 3 vạn quân tuỳ theo địa thế mà ứng chiến. Sơn Thánh cầm một cánh quân theo đường núi Châu Mộc, đại phá một trận thu được cờ trận có in ấn tín của giặc. Sơn Thánh bèn giả ma Thục viết một bức thư nói với các tướng Thục rằng: "Nước Văn Lang có 10 thần tướng, nay các ngươi vâng mệnh ta đi chinh phạt họ. Việc binh cốt ở cẩn trọng, chớ nên khinh động. Đợi khi nào có chiếu thư của ta báo là có thể đánh được thì lúc đó mới được dùng binh".
Viết xong, nặn giả một con dấu giống như của địch rồi in vào trong thư rồi sai một người thông sự giả ăn mặc quân phục của địch, tự xưng là sứ giả của vua Thục, phi ngựa tới trại giặc cánh chính chuyển thư cho tướng Thục. Tướng Thục được thư ra sức phòng thủ. Cánh trái, cánh phải nghe có biến không kịp dâng thư xin cầu cứu. Sơn Thánh liền tiến quân mỗi ngày đi được 50 dặm, thẳng tới nước Thục, dàn binh tập kích. Chủ tướng nước Thục, không ngừng xin cứu viện, Sơn Thánh niệm chú sách Thần lấy cây gậy chỉ vào, đại phá binh mã của cánh quân chính của giặc, bắt sống được toàn bộ ba cánh quân thủy, bộ, hải binh.
Bấy giờ, Sơn Thánh chiến thắng trở về, mang theo bọn tù binh về kinh đô, báo tin thắng trận.
Từ đó thiên hạ thái bình, quốc gia vô sự. Hùng Duệ Vương bèn nhường ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ không nhận, lại nói với Duệ Vương rằng: "Cơ đồ của 18 vua Hùng hưởng ngôi đã lâu dài, thiết tưởng lòng trời có hạn, để đến nỗi vua Thục gây hấn lấn chiếm nước ta. Vả lại vua Thục nguyên là quận chúa xứ Ai Lao, cũng là con cháu của các hoàng đế đời trước. Thế nước lúc an lúc nguy, tất cả là do mệnh trời định. Sao nhà vua lại riêng yêu mình tôi mà cưỡng lại ý trời, tất sẽ dấn tới chém giết lẫn nhau, để hại tới sinh linh vậy". Duệ Vương nói: "Lời nói của ngươi có lý ta đã biết rồi, vả lại đã nghe rằng: Thời bình thì coi trọng con trưởng, thời loạn thì coi trọng kẻ có công. Ngày trước vua Thục hùng hổ lấn lướt, trẫm đã có người là vây cánh phò giúp, nhờ có oai phong lẫm liệt của thiên binh mà bọn giặc đều tan sạch, quốc gia thanh bình, nhân dân yên ổn, công lao của người xem ra chẳng lớn sao? Hơn nữa, ngươi đã là rể quý trong nhà, là danh thần trong nước. Người mà ta tìm kiếm có thể "thay trời trị nước", gánh vác giang sơn, chẳng phải là ngươi thì còn là ai nữa?. Ngươi hãy nhận ngôi, chớ có từ chối, để khỏi phụ lòng cầu hiền của trẫm".
Sơn Thánh không làm thế nào được mới tạm theo lệnh vua, giúp vua giữ nước, năng nổ bàn luận việc triều chính. Nhưng không dứt được cái chí dạo chơi nơi Bồng Lai, Lãng Uyển (CT: Chỉ nơi tiên ở) Châu báu vàng ngọc, ngôi vị cao sang đều coi nhẹ như lông hồng.
Lánh tục tìm nhàn, vốn là ý nguyện lúc bình sinh chẳng thể đổi được. Mới vài tháng, Sơn Thánh lại xin với Duệ Vương rằng: "Nghiệp bá vương đổi thay là chuyện thường xưa nay. Mà họ Hùng đã hưởng ngôi được hơn 2.000 năm nay rồi, kể từ Thái tổ Thượng hoàng khai quốc. Đều có con cháu hiền, cha truyền con nối, tới nay đã 18 đời. Bệ hạ sinh được 20 hoàng tử, đều đã rời bỏ cõi tục rong ruổi vào chốn Bồng Lai, Lãng Uyển, không có ai là người trông ngóng để truyền ngôi xem đó cái cơ đồ họ Hùng đã đến lúc mạt vận. Vận nước sẽ hết, lòng trời như vậy, nay biết làm sao. Mà thần thì lại là con rể của quốc vương, nhận chức trách lớn này dám đâu không một lần chịu mệnh, mong bệ hạ phần nào được thư thái tâm trí. Lại nghĩ tôi ở ngôi thiên tử đã lâu, sợ rằng làm trái đạo trời, thần xin bệ hạ hãy cầu người hiền nhường ngôi để thuận lòng trời, tránh được mối hoạ cho ức vạn năm sau". Bèn trả lại ngôi báu cho Duệ Vương. Duệ Vương bằng lòng trở lại trông coi chính sự. Tạm thời đợi đến khi được người hiền để nhường ngôi. Bấy giờ Sơn Thánh bái tạ từ biệt. Phàm nơi nào dưới gầm trời bao la, không chỗ nào không để lại dấu chân. Cưỡi gió khiển mây dạo xem sông núi, ngồi xe mây chơi khắp chốn trần gian. Có khi gảy đàn, múa sáo thi-thư-thơ-đối, dậy khắp đất trời; nhạc phượng ca loan thanh sắc tự thú chơi tiên cảnh. Một là thơ đề chủ trương phong nguyệt, chèo thuyền tìm dấu tiên xưa. Đôi mắt chăm chăm ngắm nhìn ráng khói, dạo gót cùng xe mây theo lối cũ đi về. Non xanh nước biếc chứa đầy càn khôn Nam Thánh, Bắc Thần đi về mấy cõi.
Hằng năm, cứ vào ngày sóc, vọng (CT: Ngày đầu tháng (mồng Một) và ngày Rằm) hàng tháng tới phiên chầu cửa khuyết, tiến dâng đại lễ. Sơn Thánh đều trở về chầu, chưa từng vắng mặt. Tan chầu lại theo lối cũ ghé bước nhàn du, đắp đổi hơn 10 năm thì dứt hết mùi tục.
Bấy giờ là ngày Rằm tháng Giêng năm Mậu Thân, bỗng thấy vua Thục sai sứ tới, đem theo 100 cái hốt vàng, 100 thước gấm thêu làm lễ, đưa thư cầu hoà cho Duệ Vương.
Thư rằng: "Quận chúa Ai Lao, thần Thục, vâng theo mệnh trời chúa tể một phương. Ngày trước dám ngông cuồng, chưa trọn lễ nghĩa bề tôi, dám lăng mạ bề trên, thật là tội chết có thừa, mà quốc gia vẹn toàn, thực là nhờ cái hồng ân của Thiên hoàng. Nay chúng thần thiết nghĩ, vốn là con cháu nhà Hùng mở đồ, sáng nghiệp đế nối dài công đức tổ tiên. Vì nước vì nhà, may mừng con cháu một phương xây nghiệp lớn, giàu sang như thế nay. Nay nghĩ người vốn có gốc ở tổ tiên, vật vốn có gốc ở trời, chúng thần chịu nhiều ân đức chẳng biết lấy gì để an ủi tổ phụ tiên phi, nơi miếu thiêng hay dưới suối vàng. Chúng thần thường nhớ tới ơn tình mưa móc càng thêm thâm cảm. Bởi vậy chẳng ngại lời quở trách, mạo muội trông ngóng sự uy nghiêm, xin được vua soi xét tình xưa mà nghĩ tới nước Thục, cho được giảng hoà cầu thân, theo lễ triều cống. May mà được tắm gội ơn vua thì thật không phụ chí nguyện suốt đời của kẻ con cháu này". Ngày hôm đó, Sơn Thánh vừa đến chầu ở chính điện, Duệ Vương xem thư ấy, nhân chuyện đem hỏi Sơn Thánh rằng: "Thục chúa vốn là con cháu tông phái các triều trước, khi trước nổi dậy hung hãn dám đến xâm lược ta. May mà lòng trời còn đó nên cơ đồ triều ta không mất. Nay Thục chúa xin hoà, mong Tướng quân xét kỹ xem sao, nói lại với Trẫm".
Sơn Thánh quỳ ở trước điện cẩn mật tâu rằng: "Thục Vương đã là con cháu các tiên đế, chúa tể một phương. Ngày trước muốn xâm chiếm, làm phiền lòng bệ hạ, cũng là lòng trời muốn cơ đồ 18 triều vua Hùng ta một phen gian nan. Nay suy tính, chẳng bằng bệ hạ mở lượng bao dung để cho hoà thân. Ấy là cái sáng suốt của bệ hạ. Vả lại nhà Hùng mạt vận, ý trời đã vậy. Nhân đó, ta vời gọi về nhường ngôi cho, ấy là sự thánh trí của bệ hạ.
Bệ hạ cùng thần đã có pháp thuật thần tiên, chẳng bằng rong ruổi cõi nhàn, một kiếp thân này nơi Lãng Uyển, Bồng Lai, giữ mãi tháng năm vẻ xuân sắc. Lầu rồng gác phượng chẳng nhiễm bụi trần. Nước biếc non xanh miên man thưởng ngoạn. Sáng suốt thay - bậc quân tử! Đó chẳng phải là cái vui sao. Bệ hạ nghe theo kế của thần, hãy nhanh quyết đoán, việc chớ chần chừ...".
Duệ Vương nói: "Lời ngươi rất hay, rất hay! Trẫm sẽ theo kế đó!". Bèn sai đưa trả hết cả binh mã, gọi Thục chúa đến mà nhường ngôi cho. Thục chúa bái tạ Duệ Vương, nhân đó ban cho Thục Vương một cái nỏ thần. Vua bèn trở lại núi Nghĩa Lĩnh, hẹn với Sơn Thánh cùng vào cõi hoá sinh bất diệt.
Một ngày, Hùng Duệ Vương ngự bút một bài thơ nhàn ngâm rằng:
Tiên bồng động thảo thanh xuân cựu
Vương bá cùng đài lạc dạng tân
Hồi thủ thế gian đa thiểu sự
Dữ thiên hà khổ giác phong trần.
Nghĩa là:
Nơi Tiên Bồng, động cỏ giữ mãi vẻ thanh xuân xưa
Cung điện bậc vương bá nay đã đổi mới rồi
Nghĩ lại thế gian biết bao chuyện
Nơi trần ai kia so với trời đâu khổ hơn.
Ngâm xong, Lưỡng Kiên Thần tâu vua xin cho trang xã Quang Diệu được miễn đi lính, tô thuế và phu phen tạp dịch để được hưởng phúc thần trăm năm về sau. Vua xuống chiếu cho phép. Ngày hôm đó Vua cùng Sơn Thánh và Ngọc Hoa công chúa đều một ngày bay lên trời biến vào cõi hoá sinh bất diệt. Thục chúa đã nhận ngôi báu, cảm công đức đó, bèn xa giá tới núi Nghĩa Lĩnh, thiết lập miếu điện để làm nơi quốc gia tế lễ. Bên hữu lập hai phiến đá ở trong núi, chỉ lên trời mà thề rằng: "Xin thề nguyện có trời cao lồng lộng chứng giám anh minh. Thần là An Dương Vương nhận lấy cơ đồ nhà Hùng này, nối nghiệp chính thống, ơn sâu đức cả còn mãi với trời đất. Nay lập trăm ngôi đền làm nơi vạn thuở thờ phụng họ Hùng khói hương không dứt, mãi mãi nghiêm trang. Nếu như các vua đời sau nối ngôi, có người nào trái với lời minh ước này thì có trời đất, núi sông chứng giám, kẻ đó đã phụ lời thề trên".
Nói xong, gửi ruộng tế điền tại các sách động, trang, châu, xã huyện, phủ, cộng cả thảy 2 vạn 70 mẫu để cho việc thờ phụng. Việc hương hỏa ở đền Thượng, đền Trung, đền Hạ muôn đời mãi mãi.
Trải qua bao triều đại, Sơn Thánh dùng phép thuật thần tiên, có khi biến hiện thân mình, có khi cảm thông với người cầu ứng, hộ quốc bảo dân có công để đời. Trải các triều đều chuẩn y cung điện cùng bản xã là dân tạo lễ. Nhân dân được miễn thuế tô cũng là các việc sưu sai, như là lệ cũ. Cứ thế mà phụng sự để lâu dài mãi mãi, vạn thuở lưu thơm. Kỳ diệu thay, phúc đức thay!
Lại nói chuyện: Lưỡng Kiên Thần nhận được chiếu vua, bèn cùng nhân dân, gia thần ở Quang Diệu trở về cung điện Quang Diệu. Đến ngày 6 tháng Giêng là lễ sinh nhật, bèn mở tiệc mừng xướng ca đấu vật 10 ngày. Từ đó, các thần ở cung điện Quang Diệu hàng ngày cùng mấy gia thần chu du phong cảnh Ái Châu và hai huyện Bất Bạt, Mỹ Lương. Hoặc khi vui thỏ đuổi chồn, dưới trăng sáng giong buồm nơi sông nước. Hoặc khi thích nước vui non, tắm gió mát ngao du nơi đồng nội.
Hằng năm, các tế lễ đều về chầu vua, chưa từng vắng mặt. Tan chầu lại trở về cung điện. Bấy giờ Sơn Thánh đã bay lên trời. Người bèn than thở rằng:
"Thiên hạ của nhà Hùng đã thuộc về tay người khác rồi". Bèn thiết yến tiệc, gọi nhân dân, phụ lão tới, Mười rượu và nói rằng: "Ta cùng mọi người đã nêu nghĩa cũ, chẳng phải một ngày. Há lại nỡ quên sao. Nay ta có một khu cung đầm, gửi lại nhân dân để thờ phụng cho anh em ta sau khi trăm tuổi làm chốn tụ họp linh hồn anh em ta, làm nơi hương khói ngày sinh, ngày hoá của ta. Vậy phải tuân theo, không được sơ suất. Lúc đó, phụ lão và nhân dân trang Quang Diệu đều vâng mệnh bái tạ.
Hai thần bèn cùng đọc một bài thơ rằng:
Nhất đường chiêu mục tụy tinh thần
Vạn cổ hương yên nhật nhật tân
Tuy thị tửu trung hoan ẩn ngữ
Tình lưu Quang Diệu ức thiên xuân
Nghĩa là:
Một miếu là nơi anh em quy tụ linh hồn
Vạn thuở khói hương lại mới thêm
Tuy là lời nói vui trong cuộc rượu
Tình gửi nơi này vạn vạn xuân.

Một ngày hai anh em cùng đến núi Thu Tinh. Bèn lên đỉnh núi xem kỹ phần mộ. Bỗng ở trước mặt thấy một người râu mày bạc trắng chỉ tay vào núi Thu Tinh nói rằng: "Núi này phàm người ta mà chết đi tất tinh thần quay về đây, cho nên mới có tên là Thu Tinh". Nói xong người đó xuống núi không biết là đi nơi nào? Hai thần cùng đọc một bài thơ rằng:

Tự đế vương nhi ức triệu dân
Quy thần tất tụ liễm tinh thần
Thử truyền vị biện chân tương huyền
Diệu tưởng sơn danh phảng phất chân.
Nghĩa là:
Từ bậc đế vương đến ức triệu dân thường
Khi mất đi đều quy tụ tinh thần (hồn phách) về đây
Lời truyền ấy chẳng rõ đúng hay sai
Đứng trước núi, thấy phảng phất đúng như thế.
Đọc xong, trời đất tối tăm, gió mưa lớn nổi lên, nghìn chim tụ tập, trăm thú về chầu. Ở trên không trung bỗng có đàn ca dìu dặt. Lúc đó hai thần thấy một ngôi sao lớn, tự trong người bay lên. Hai thần ngồi ngay ngắn ở phiến đá rồi cùng hoá. (Bấy giờ là ngày 6 tháng Một âm lịch).
- Một vị phong là CAO SƠN ĐAI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN (ở bên tả, húy Sùng) (CT: Cao Sơn là một trong bốn vị thần tứ trấn của đất Thăng Long. Xưa, Cao Sơn trấn trị phương Nam, đền thờ được xây từ lâu ở sát ven thành Đại La, thuộc làng Kim Liên (nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội, nay đền thờ vẫn còn)
- Một vị phong là QUÝ MINH ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN (ở bên hữu, húy Hiển.
- Một vị phong là TẢN VIÊN SƠN QUỐC CHÚA KIÊM THƯỢNG ĐẲNG THẦN (ở giữa, húy Tuấn).
Ngày 6 tháng Giêng thần sinh.
Ngày 12 tháng Tám mừng được phong thần.
Ngày 6 tháng Một thần hoá.
Ngày lành, tháng giữa Xuân, năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) triều Lê Ý Tông sắc phong.
Hàn lâm viện, Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn chính bản.
Quản giám bách thần tri điện Hùng Lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền sao lại từ bản chính.
Lại nói chuyện: Thời Thục Vương ở ngôi vua được 50 năm thì Triệu Đà, người Chân Định cử binh đến đánh. Nhà Thục mất. Triệu Đà lấy được nước. Cha truyền con nối, 5 đời làm vua. Từ đó nước Việt ta thuộc về nhà Hán. Đến thời Đông Hán, vua Quang Vũ cho Tô Định sang làm Thái thú nước Việt. Định là người tham tàn bạo ngược, xâm chiếm trung nguyên, tàn hại dân lành, không người ra tay cứu giúp. Cho đến khi có cháu xa đời của Vua Hùng, con gái của Trưng Tướng quân là Trắc Nương và em gái là Nhị Nương phẫn chí đại hùng, tập hợp nhân dân đứng lên khởi nghĩa. Hai Bà đem binh mã ra chống giặc. Hai chị em lập đàn cầu đảo các vị thánh tổ họ Hùng cùng Tam vị Tản Viên, sau đó đánh đuổi được Tô Định. Trắc Nương lên ngôi vua phong cho thần là:
- Cao Sơn hiển ứng Hộ Quốc đại vương. - Quý Minh Khang Dụ linh ứng đại vương.
- Tản Viên Sơn quốc chúa Đại Vương Dực bảo Trung Hưng thượng đẳng thần.
Sắc chỉ về trang Quang Diệu, cho xã trùng tu miếu điện để phụng sự.
Từ đó trải qua triều Đinh, Lê, Lý, Trần cùng triều hoàng gia ta khai sáng cơ nghiệp lớn thường giúp dân. Mọi việc cầu mưa, cầu tạnh đều được ứng. Cho nên nhiều đời đế vương gia phong mỹ tự, để ức vạn năm hương hỏa dài lâu mãi mãi.
Người dịch: Nguyễn Xuân Diên;
Hiệu đính: Nguyễn Hữu Tường
Viện nghiên cứu Hán Nôm


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn