Thứ ba, 23/10/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay499
mod_vvisit_counterHôm trước1695
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XII) E-mail
24/12/2017

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng

TIẾP PHẦN MỘT
XII

THIỆU TỔ BÁCH VIỆT

(Tài liệu thư tịch này hiện ở từ đường họ Nguyễn làng Vân Nội)

Bách Việt khởi đầu từ họ Việt Thường ở Bắc Việt, Hoa Nam; Người nhiều, đất rộng, văn minh hùng cường, trồng lúa nước, đánh đồ sắt làm khí cụ làm ruộng và vũ khí, biết dệt vải, ăn đủ mặc ấm. Các dân tộc khác chủ yếu là hái nhặt hoa quả hái luợm sống đời lao khổ? Người Việt càng ngày càng tăng, ruộng đất ít đi, bèn tiến công đi các nơi có đồng điền hoang hóa,khai sơn phá thạch, lập ấp định cư, cấy trồng ngũ cốc. Khiến các dân tộc vui theo, cùng người Việt sinh sống. Lấy vợ lấy chồng xen kẽ các dân tộc, người Việt ít nhiều đều có huyết thống cùng bách tộc, xưa nay gọi là Bách Việt. Tuy có nước Văn Lang dẫu bị đô hộ nhưng dân nhiều, giữ được huyết thống Việt thường là chín tộc người Kinh.
Người Việt cùng bách tộc cộng sinh
Việt thường thị cùng các tộc nội ngoại quan hệ cùng sinh sống, cùng huyết thống, cùng bách tộc từ cổ xưa…
Bách Việt từ xưa lập Quốc tự chủ, Văn hóa tự phát; nhưng có Quốc Đạo là Sa Môn Phật giáo, phụng sự Tổ tiên, tôn hiệu là: trời - đất – phật – thánh – thần – tiên – Ngọc hoàng – vương mẫu.
Từ vạn cổ Bách Việt đã có Đạo. Sau ba ngàn năm, Thái tử ấn Độ mới đến lợi giã (?) Việt tu hành đắc đạo; về nước sáng lập Ấn Độ giáo theo Sa Môn Phật giáo thờ phụng thiên địa sơn thủy bách thần; thỉnh Lôi Âm chân kinh ở bảo sái Tây phương cực lạc nước Văn Lang thờ phụng từ Bách Việt thiệu Tổ về trước, đến Hùng Duệ Vương gọi là Bách danh chân kinh tôn xưng Phật hiệu.
Từ Bách Việt Thiệu tổ đến triều đại Lý Thái Tổ (1010 – 1028) gọi là Ngũ Bách danh chân kinh, các vị Bách Việt Đường thượng nguyên trưởng đều được tôn xưng Phật hiệu.
Thời đại Ngô, Đinh (968-980), Đường thượng nguyên trưởng Nguyễn Quang Huy cùng em làm thái giám của Ngô Vương là Nguyễn Huy Hoàng phụng sự Nam thiên bảy Mươi hai đền thờ, dùng cỏ bồng lai làm đền thờ. Ngay từ lúc đó cũng đã có một ít đền thờ là nhà ngói nhưng không nhiều.
Đến thời Lý, Trần không dùng bồng lai cung khuyết mà làm nhà ngói, thực là hình ảnh cột trụ đệ nhất Nam thiên.
Từ đó Non sông tặng sắc, cấp ruộng hương hỏa hai ngàn bốn trăm mẫu.
Con gái họ Nguyễn gả cho Đế Vương như Hoàng hậu Đan gia Nguyễn Thị Ngọc Hằng, Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Thị Ngọc Diễm, Nguyễn Thị Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Nguyễn Thị Ngọc Hoan, Nguyễn Thị Ngọc Khoan, Nguyễn Thị Ngọc Tấu...công đức hai trăm mẫu, tất cả là công điền, không có một tấc ruộng tư.
Hương hỏa từ đường Đường thượng Nguyên trưởng phụng sự.
*
Bảng các bộ tộc bách việt

1. Lạc Việt 51. Ô đề Việt ( Ô Lôi)
2. Âu Việt 52. Man đà Việt
3. Đông Âu Việt 53. Thương Ô Việt
4. Tây Âu Việt (Quý Châu T.Q) 54. Yết Việt
5. Việt Thường (Nhục Chi Việt) 55. Lục hồn Việt
6. Mân Việt (vùng Phúc Kiến, Trung Quốc) 56. Lục Hoa Việt
7. Mân Trung Việt 57. Dao Việt (họ Diêu)
8. Cửu Lê 58. Đản Việt (họ Diêu)
9. Bách Bộc 59. Tích Chi Việt (Chi Việt)
10. Bách Lão 60. Cừu Sưu Việt
11. Chủ Lão 61. Nam Việt
12. Cưu Lão 62. Tuấn Việt
13. Di Lão 63. Quý Việt
14. Sở Việt 64. Quế Việt
14. Sở Việt 64. Quế Việtệt (Tây Nhung)
16. Sở Việt họ Mỵ (đất Sở cũ) 66. Da lang Việt
17. Sở Việt họ Thiên (thuộc Châu kinh, đất Sở cũ)
67. Vân Nam Việt (Nam Chiếu)
18. Ngô Việt 68. Chữ Đồng Việt
19. Khương Việt 69. Lão Nhai Việt
20. Cối Kê Việt 70. Quỳnh Nhai Việt
21. Hồi Kê Việt 71. Hải Nam Việt (người Hẹ)
22. Thích Việt 72. Thiềm Nhĩ Việt
23. Phiêu Việt 73. Lục Lương Việt (vùng Quế Lâm, Nam Hải (TQ) ngày nay)
24. Diêu Việt 74. Thạch Lệnh Ông Việt (Yết Việt)
25. Cưu Việt 75. Hoạt Bộc Việt
26. Cưu Sảng Việt 76. Mang Việt(vùng Yên Châu ngày nay)
27. Khoả Việt (Khoả Lão) 77. Mãnh Việt (Mạnh Việt)
28. Phù Bồ Việt (La Phù-Phù Nam) (Bồn Man) 78. Thái Việt
29. Đông Việt 79. Mường Việt
30. Tây Việt 80. Yên Việt (Mộ Dung Tiên Ty)
31. Bộc Việt 81. Môn Việt
32. Bặc Việt 82. Mên Việt
33. Bân Việt 83. Khả Việt (Khả lá vàng)
34. Hồ Việt (Hồ Công Mân) 84. Long thị Lão qua (Nam Long)
35. Miêu Việt 85. Bách Lộc (Hán nhân Việt)
36. Lạo Việt (Lão Việt) 86. Kinh Cức Hoạn thị
37. Linh Việt 87. Kinh Man Ngạc thị (Ngao thị)
38. Cật Việt (Cát Việt) 88. Việt Tỉnh (Ân Việt Bộc Lão hoá)
39. Tần Hồ Việt 89. Việt Tây
40. Tây Nhung Việt 90. Việt Đông
41. Liêu Việt 91. Âu Lạc Việt
42. Kinh Man Việt (Kinh Dương) 92. Giao Chỉ Diêu Đề (Trung cổ Việt)
43. Dương Việt 93. Man Di Việt (Man Nam)
44. Phiên Dương Việt 94. Nam Chiếu ((Bộc lão hoá) vùng tây nam TQ và tây VN ngày nay)
45. Man tru Việt (Đại Man) 95. Nam Cương (Nam Khang)
46. Hoàng Di Việt 96. Hoài Hoan Việt
47. Phong Di Việt 97. Cửu Chân Việt ( Hồ Tôn, Lâm ấp
48. Vu Việt 98. Mông Việt (Lục Lương Việt)
49. U Việt 99. Thục Việt – Thiều Việt
50. Ư Việt 100. Hùng Việt (Hoàng Việt)
---------------------------------------------
Chú giải (Đ.T.): Nói chung các sử sách đều nói là nước Văn Lang được phân chia thành 15 bộ (cụ thể có sự khác nhau về tên của 15 bộ và chỉ giới hạn trong lãnh địa nước Việt Nam và rộng hơn là 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, thuộc Trung Quốc hiện nay). Như vậy chưa phù hợp với địa giới bản đồ nước Văn Lang và những nơi mà Đế Nghi, Kinh Dương Vương... từng có mặt làm chủ ở đó. Phân chia và tên 15 bộ nước Văn Lang của Trần Trọng Kim trong Viêt Nam sử lược chỉ nằm gọn trong phạm vi phía Bắc nước Việt Nam và Quảng Đông, Quảng Tây. Bảng các bộ tộc Bách Việt trên, không chỉ gói gọn trong một số ít bộ tộc mà sử sách xưa nay thường nói đến mà có thể đây là những bộ tộc của nước Văn Lang rộng lớn xa xưa.
Trong sách Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu (NXB Văn hoá-Thông tin 2001 trong mục Địa chí loại, tr.14 có nói rõ.. bộ lạc rất nhiều, nên gọi tổng quát là "bách"... chứ không phải nghĩa đen là con số tuyệt đối một trăm (100). Theo sách Thơ Văn Trúc Khê - Ngô Văn Triện (tập I, NXB Văn học Việt Nam, năm 1997), trong tác phẩm Hùng Vương diễn nghĩa xuất bản năm 1930 (lịch sử tiểu thuyết) trình bày một thời huyền sử của dân tộc thời Hùng, kéo dài từ 2.879 năm trước công nguyên, đã phân chia 15 bộ thời Văn Lang, cũng trong phạm vi từ đất Quảng Đông, Quảng Tây (TQ ngày nay) đến Quảng Bình, chỉ có một số điểm khác với Trần Trọng Kim, cụ thể như:
01. Bộ Văn Lang- hiện nay là vùng Bạch Hạc, Vĩnh Yên, Lâm Thao (Phú Thọ).
02. Bộ Giao Chỉ- gồm các tỉnh Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình.
03. Bộ Chu Diên- Vĩnh Tường, Yên Lạc.
04. Bộ Vũ Ninh- Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên.
05. Bộ Phúc Lộc- Sơn Tây.
06. Bộ Tân Hưng- Phú Thọ, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình.
07. Bộ Ninh Hải- Quảng Yên, Hải Ninh, Quảng Đông.
08. Bộ Dương Tuyền- Hải Dương, Kiến An.
09. Bộ Lạc Hải- Lạng Sơn, Quảng Tây.
10. Bộ Bình Văn- Hà Nam.
11. Bộ Vũ Linh- Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng.
12. Bộ Cửu Chân- Thanh Hoá.
13. Bộ Hoài Nam- Nghệ An.
14. Bộ Cửu Đức- Hà Tĩnh.
15. Bộ Việt Thường- Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.
Tên gọi và thứ tự của 15 bộ thuộc nước Văn Lang, các sách cổ và hiện nay ghi chép không giống nhau và trong một địa giới hẹp hơn nước Văn Lang xưa. Chẳng hạn danh sách và thứ tự 15 bộ ở Việt sử lược là: Giao Chỉ, Việt Thường Thị, Vũ Ninh, Luận Ninh, Gia Ninh, Ninh Hải, Lục Hải Thanh Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Hoan và Cửu Đức. Danh sách và thứ tự 15 bộ ở Dư địa chí (của Nguyễn Trãi) là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng và Cửu Đức. (Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép giống như Dư địa chí nhưng còn thêm bộ Văn Lang nữa mới đủ con số 15).
Ngay trong phạm vi các bản Lĩnh Nam chích quái nội truyện danh sách cũng không ăn khớp. Sở dĩ như vậy, là vì tác giả các sách trên đã theo ý riêng của mình từ trong địa bàn nước - Văn Lang - chọn ra 15 tên đất, thế nào cho đủ với con số -15 bộ - như truyền thuyết để lại. Tất cả đều còn rất hạn hẹp so với địa giới nước Văn Lang xưa.
* * *

Giới thiệu một số bản đồ cổ nước ta
(Từ nhiều nguồn - để tham khảo)

Tối cao ngoại tổ

Ngoại Tổ người Họ Đỗ, từ nơi theo địa danh về sau và hiện nay là đất Sơn Tây, huyện Thạch Thất, xã Bình Yên, ấp Vân Lôi, hạ sơn đến khu vực hồ Dâm Đàm lập nghiệp: Anh chị em gồm tám trai một gái, bị mồ côi sớm, được A di Vụ Tiên Nương nuôi dạy:

* Chị cả tên Đạo hiệu là: Hương Vân Cái
Tám em trai: Bát Bộ Kim Cương
- Thanh trừ tai Kim cương Đỗ Xương
- Tịch độc thần Kim cương Đỗ Tiêu ?
- Hoàng tuỳ lai Kim cương Đỗ Hiệu
- Bạch tịnh thuỷ Kim cương Đỗ Cường
- Xích thanh hoả Kim cương Đỗ Chương
- Định trừ tai Kim cương Đỗ Dũng
- Tử Hiền thần Kim cương Đỗ Bích
- Đại thần lực Kim cương Đỗ Trọng

* Kim cương quyến thuộc:
- Kim cương Quyết Bồ tát
- Kim cương Ao Bồ tát ( áo Bồ tát)
- Kim cương Sách Bồ tát
- Kim cương Ngữ Bồ tát
Bát bộ Kim cương người họ Đỗ như trên có mộ phần táng tại tỉnh Hà Nội, huyện Thanh Oai, tổng Phú Lãm, thôn Văn La, miếu Thiềm Thừ tức Quán La; Trước miếu có hai trụ đá, đỉnh trụ đá có con cóc, bốn mặt bên của trụ ghi 4 câu chữ Hán:
Nguyên văn chữ Hán:
Phương phần bảo vật
Van cổ nghiễm nhiên
Chi hạng lưu hương
Thiên thu trường tại Dịch: năm 1789 do La Sơn phu tử Nguyễn Thiệp
Cây to báu vật
Lối cũ dấu thơm
Nghìn xưa vẫn đó
Muôn thuở còn đây
*
Thế thứ Bách Việt Nguyễn tộc trưởng
từ thời Trần Duệ Tông (1372-1377) cho đến nay:

Tiên tổ Nguyễn Minh Xương sinh 03 trai; Trưởng Nguyễn Mnh Du, thứ Nguyễn Tử Hữu, thứ ba là Nguyễn Biểu.
Tiên tổ Nguyễn Minh Du sinh sáu trai: Trưởng Nguyễn Thực; thứ Nguyễn Phi Khanh; thứ ba Nguyễn Dư.
Thứ thất sinh: Nguyễn Văn Đạt; Nguyễn Văn Hựu; Nguyễn Quý Ly.
Tiên Tổ Nguyễn Thúc sinh năm trai: Trưởng Nguyễn Hoằng Tín; thứ Nguyễn Hoàng Lệ; Nguyễn Hoằng Trí; Nguyễn
Tiểu thiếp sinh: Nguyễn Quang Lưu.
Tiên Tổ Nguyễn Hoằng Tín sinh ba trai: Trưởng Nguyễn Hồng; thứ Nguyễn Yến; Nguyễn Bính.
Tiên Tổ Nguyễn Hồng sinh bốn trai: Trưởng Nguyễn Quang Nhuận; thứ Nguyễn Hành Song (sinh Nguyễn Quang Trạch); Nguyễn Văn Trạch.
Tiểu thiếp sinh: Nguyễn Thế Nho.
Tiên Tổ Nguyễn Quang Nhuận sinh ba trai: Trưởng La sơn Nguyễn Thiệp; thứ La sơn Nguyễn Khải; La sơn Nguyễn Chuyên.
Tiên Tổ La sơn Nguyễn Thiệp sinh năm trai: Trưởng Nguyễn Vân Long; thứ Nguyễn Vân Hổ.
Thứ thất sinh: Nguyễn Vân Nhẫn.
Tiểu thiếp sinh : Nguyễn Vân Lộc; Nguyễn Vân Tuyết.
(Trưởng Nguyễn Vân Long; thứ Nguyễn Văn Hổ; Nguyễn Vân Lộc; Nguyễn Vân Tuyết vì Nước hy sinh; cho nên Nguyễn Vân Nhẫn trở thành trưởng tộc).
Hiển Tổ Khảo Nguyễn Vân Nhẫn sinh bốn trai: Trưởng Nguyễn Vân Chí; Nguyễn Vân Bình; Nguyễn Vân Thao; Nguyễn Vân Khiết.
Tổ Khảo Nguyễn Vân Chí sinh hai trai: Trưởng Nguyễn Vân ý; thứ Nguyễn Vân Bồi.
Nguyễn Vân ý sinh một trai: Nguyễn Hoặc Thọ.
* Các con nuôi của Nguyễn Vân ý:
- Nguyễn Vân Mẫn (tức Ngô Gia Tự)
- Nguyễn Vân Lý (tức Hoàng Văn Thụ)
Nguyễn Hoặc Thọ sinh hai trai: trưởng là Nguyễn Vân Tằng, sinh năm 1931, hiện nay (2006) 75 tuổi là trưởng tộc họ Nguyễn ở Vân Nội, phụng sự nhà thờ Thiệu Tổ Bách Việt ở đây Nguyễn Vân Diễn

* * *


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn