Thứ hai, 25/06/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1120
mod_vvisit_counterHôm trước1478
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XIII-XIV) E-mail
26/01/2018

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng

TIẾP PHẦN MỘT
XIII & XIV

Một số tài liệu cũ phê phán một số người cho nước ta chỉ là phiên bang, làm chư hầu phương Bắc

Trích đại việt sử ký toàn thư
do Ngô Sĩ Liên ghi lại thời vua Lê Thánh Tông
Bản kỷ, quyển 12, trang 397
Bản dịch in lần thứ 1 (1968)

Vua dụ bảo Đô Ngự Sử Đài là Ngô Sĩ Liên và Nghiêm Nhân Thọ rằng:
“Ta mới coi chính sự, sửa mới đức tính, tuân theo điều cũ của Thánh Tổ (chỉ Lê Lợi), Thần Tông, nên mới đầu xuân Tế Giao. Người lại bảo: Tổ tông đặt ra Tế Giao cũng không đúng theo. Người lại bảo: Nước ta là hàng phiên bang (tức ý nói: Làm chư hầu phương Bắc).
“Thế là người theo đạo chết, mang lòng không vua (tức chỉ trọng vua Bắc, mà không thấy vua Nam).
“Vả lại, khi Lê Đức Hầu (CT: Chỉ Nghi Dân lên ngôi vua năm 1459 và chỉ được một năm) cướp ngôi, Sĩ Liên không giữ chức Ngự Sử đấy sao? Ưu đãi long trọng lắm.
“Nghiêm Nhân Thọ không dự trong triều chính đấy sao?
“Chức nhiệm cao lắm, nay Lê Đức Hầu bị tay ta mà mất nước, các ngươi không biết vì ăn lộc mà chết theo, lại đi thờ ta. Nếu ta không nói ra, trong lòng ngươi (chỉ Sĩ Liên) không tự xấu hổ mà chết ư?”
*
Trích bút ký Ngọc Phả của Quan Thái sư Đinh Liệt ở triều từ đời vua Lê Thái Tổ đến vua Lê Thánh Tông (4 triều, 1428-1497)
“Lê Thánh Tông hồi tưởng lại việc: Khi diệt xong Nghi Dân, Nguyễn Xí và Lê Lăng bắt giam nhà sử gia Ngô Sĩ Liên và một số người có liên quan đến việc sửa ngầm sử văn và nhiều văn kiện tài liệu khác, sắp đưa ra triều đình xét xử. Lúc bấy giờ, mình tranh thủ nhiều ý kiến của các vị huân cựu đại thần, nhưng không ai phát biểu cao thượng và hay như Đinh Liệt: “Họ phải sửa chữa lại sử văn và các văn kiện là do Thị Anh và Nghi Dân ép họ phải làm mà thôi! Thánh thượng nên lấy đức mà hoá họ, dùng chế văn mà răn họ, rồi tiếp tục dùng họ là thượng sách! Mình đã biết nghe theo và làm theo ý kiến của Đinh Liệt thì công việc tiến triển càng tốt đẹp. Còn việc xử với Lê Lăng, ta không nghe theo ý kiến đúng đắn của Đinh Liệt, vì trong đầu óc đã có ấn tượng xấu về Lê Lăng, nên mất sáng suốt”. Lê Thánh Tông nhận thức sâu sắc rằng: “Đinh Liệt quả là một trung thần số một của triều Lê, trong thuở bình Ngô cứu quốc đã tận tụy hy sinh vì Thái Tổ, đã tận tình giúp đỡ Thái Tông, khi bị triều trước hạ ngục cả gia đình, không những chẳng hề oán hận, vẫn ung dung một lòng một dạ vạch ra diệu kế cứu vãn Lê triều, đề xuất nhiều ý kiến xuất sắc và thực thi nhiều biện pháp đúng đắn tài giỏi, không bị sai lệch. Nước nhà - triều đình và trăm họ có sự phồn vinh thịnh trị như ngày nay, ta không thể tách rời được Đinh Liệt”.
Ngược trở lại, Đinh Liệt thì lại luôn luôn suy nghĩ rằng: “Thánh Tông quả là một anh quân, giao cho mình trọng trách đối với việc nước, việc triều, phải phát huy hết tài năng trí tuệ và sức lực ra để chỉnh đốn kỷ cương, kinh bang tế thế, hoạch định đường lối đối nội, đối ngoại và kế sách thực thi về văn, về võ, về kinh, về pháp... mới có thể tiến vững vàng trên con đường thái bình thịnh trị phồn vinh phú cường được.
Hai ý nghĩ của vua và tôi tuy trên hai cương vị khác nhau, nhưng đều tập trung vào một hội điểm thống nhất - tin tưởng cùng chung lo việc nước, việc triều. Đó là đầu mối của muôn ngàn thắng lợi”.
*
Trích: bách việt tộc phả cổ lục
Sau khi chiến thắng quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung gặp La Sơn Phu Tử (Nguyễn Thiệp), Trưởng tộc Bách Việt đã nói về việc bảo vệ di tích tổ tiên:

Sau khi chiến thắng quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung gặp mặt ta bảo rằng Ngô Sĩ Liên tức là Ngô Thừa Liên người đại diện cho đất nước biên soạn lịch sử, nội dung sự việc xem thường coi rẻ không có lợi cho đất nước mà có lợi cho nước Trung Hoa. Lại nói Ngô Thừa Liên là loài giặc chó dê, con cháu của Ngô Thừa Ân là người nước ngoài, như vậy ắt có mưu đồ đen tối, lương tâm không trong trắng, từ thời Lê Thái Tổ chiến thắng quân Minh, nhân dân ta ở Cổ Lôi trục xuất người ngoại bang tại Phong Đô. Trong số dân bị trục xuất có loài giặc chó dê Ngô Thừa Liên, sau thay đổi chỗ ở làng Trúc Lý nghĩ tới hối hận xấu hổ nhục nhã.
Tự mình lựa chọn sử nước không phải như chuyện cũ việc xưa, tìm kiếm mọi quan lại giúp việc tin cậy có lợi cho mình, nói chung là những người vô dụng. Ngô Thừa Ân nhân đốt thư tịch ở Văn Miếu, làng Đa Sĩ, làng Cổ Lôi có thể không đầy đủ rõ ràng sự việc phản quốc vậy. Hoàng đế Quang Trung lấy làm hổ thẹn bèn sai ta một lần nữa chọn người thay mặt cho nước. Ta tự ý riêng, tài buổi đầu không như tiên tổ Nguyễn Bặc có tước công cao nhất trong triều đình, đức to lớn không thể kịp tiên tổ Nguyễn ứng Long, học lực không thể đạt như ông nội Hoàng Tín Hầu tên chữ Phúc Tín, Thám hoa Nguyễn Ban. Tôi nghĩ cái đức lớn của tiên tổ là trưởng của Bách Việt phải có sách quý báu được trao phó cho ngàn vạn năm, ắt phải giữ gìn thận trọng sách kín để truyền lâu dài muôn đời vạn năm về sau. Nhà có phả như nước có sử trên đời, một số người tìm tới gia phả của ta như văn học dân gian, từ đó tưởng tượng suy nghĩ sự vật mà sáng tác vậy.
Sự thật là gia phả chia làm hai: phả kín nói rõ ràng cho mọi người trong nhà biết, không dùng cho người khác; quyển thứ hai dùng như văn học dân gian chỉ có nhớ tới giữ gìn trọn vẹn hương thơm kín đáo của nước nhà, cho nên tiên tổ ta lấy tên đất, học sáng tác dân gian rộng lớn lâu đời, ấy là không thể thay đổi đất xưa ở trong lịch sử mà thôi.
*
Bách việt tộc phả cổ lục “ngoại phả”
(Trích dịch theo gia phả họ Nguyễn ở Văn Nội)
Bọn theo Tây học, được ân sủng liền sinh ra kiêu ngạo, tự miệng nói ra. Thậm chí bọn bán nước cầu vinh cũng thành sử gia.
Từ vua đến thứ dân ai là người không biết việc ấy? Hữu thư vô truyền, bất học vô thuật, thần từ, ngọc phả, không còn gì linh thiêng, há không phải do học thuyết bọn tân học chiếm lĩnh không còn đất nào dung những kiểu sinh hoạt chó má của bọn Đông Dương Bác Cổ.
Thời vua Khải Định, hương của chúng ta biến thành ấp. Hơn 200 phường ấp, hương xã, 72 nhà thờ tan nát như thế nào? Con cháu trong họ ta phải rời quê hương đi kiếm ăn phương xa. Dân sống không nhà cửa, thần không có miếu phụng thờ, kỷ cương phép nước đồi trụy, trừ phi dùng binh không gì tốt đẹp hơn.
Một khi quan Pháp đến, quận nhỏ thay thế bằng phủ, phàm cái gì có thể lấy được, người của đều không từ. Con cháu hậu sinh dòng họ ai làm sao có thể biết hết được?
Như vậy, nước mất, xóm làng tan nát; kế cùng thế lực đương mạnh chuyển thành yếu, đương bình yên thành nguy nan. Một khu bên tả ngạn không giữ được - rời nương bát đao mất thời gian mà phân tán làm nghìn vạn chi, Tổ không từ vũ để phụng sự. Trong những từ đường ấy dân chúng thực khổ vô cùng. Trên đây là vì muốn lập kế để cho miếu đường được an toàn, bí mật biến to thành nhỏ, phân tán ra để tồn tại. Nếu không nhận rõ thời thế, trong ngoài không thống nhất, nghe không được rõ ràng, trong lòng không được minh bạch thì thực đắc tội với quỷ thần.
Tại sao dân làng ta lại phải bí mật cất dấu? Bởi vì từ thời Hồng Bàng dựng nước, tất cả bà con hương ta từ già trẻ, anh em, cô dì chú bác, hấp thụ được khí thiêng của đất nước nên thông minh tuấn tú, đời đời làm vương làm đế, đời đời đỗ đạt, rạng rỡ giống nòi, thật khó mà nói hết được.
Há chẳng phải do lăng mộ tổ tiên kế phát mà ra, cho nên ta lấy việc bảo tồn mộ Tổ làm trọng, làm trọn đạo của con cháu vậy.
Năm Canh Ngọ (1930) triều vua Bảo Đại, Đông Dương Bác Cổ gọi ta hỏi: “Phong Đô là xứ sở nào, tên cũ của hương này là gì vậy? Ta trả lời: “Không biết”. Người Pháp lại hỏi: “Tại sao vậy?” Ta trả lời: “Vì tôi không phải là người bản địa, hương của tôi mới thành lập gọi là thôn Văn Nội, tôi là người ngụ cư, không rõ đầu đuôi”. Người Pháp kia hỏi việc gì ta cũng không nói thực.
Ta cùng các vị Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đều một lòng bảo toàn di sản tiên cổ tại Phong Đô, há lại không biết Phong Đô Nghĩa Lĩnh ở đâu sao?
Từ to làm ra bé, từ ít làm ra nhiều, đấy là thượng sách.
Lấy hơn hai nghìn mẫu quan điền ở Châu Phong để chia làm nghìn vạn cho họ, được quyền tự do bán đi lấy tiền ấy trở về, tự mua lấy ruộng khúc điền mới ở các địa phương để lập miếu từ mới mà thờ phụng.
Hùng Vương 18 đời đổi làm 18 Long Thần, 18 La Hán, nhà thờ chuyển đi nơi khác, cố để bảo toàn tổ miếu. Từ đó biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành nhiều, một thành mười, mười thành trăm, thành nghìn, thành vạn. Bọn giặc Pháp và bọn quan đồn, giáo sĩ không có kế gì phá.
Bọn quan Pháp đến Việt Nam, thu hồi sử cũ đưa về nước Pháp. Đấy là kế sách đại gian, đại ác, lời nói dối trá.
Dòng họ chúng ta, hậu sinh biết đâu được chuyện này.

Cuối năm 1996
Lược dịch: Lê Hữu Hoài
*

Bách Việt Tộc Phả Cổ lục
(Trích dịch theo Ngọc phả họ Nguyễn (Văn Nội) - (Ngoại Phả)
Không biết em lưu lạc xứ nào - Tôi hỏi: “Lâu nay, em ở đâu? Dư nói: Từ khi thân phụ em đi ở xa tại tỉnh Hải Dương, xã Hàn Thương, thôn Phương Độ, đổi là họ Đinh, về sau biết em ở thôn Nguyệt, huyện Thanh Trì”.
Lại nói Lý Dư ở nhà ta, tức là Nguyễn Văn Đôn, con của cụ Phúc Hậu, nhận làm con nuôi. Anh ta học hành khá giả, hiếu hạnh, nhân ái nên nhân dân quý mến. Sau đỗ tú tài, thường gọi Tú Dư. Cụ Tổ nhà ta và bà con trong họ coi anh như ruột thịt.
Dư có hai con trai do vợ là Tưởng Quý Thị sinh ra, cũng đều ham học, nhưng không gặp thì, đều làm pháp sư tại Ngọc Thanh động. Ta có 3 quyển Thiên Thư truyền cho làm pháp sư ở động Ngọc Thanh, tên sách là Thái Bình Thiên Quốc pháp thuật.
Tổ phụ nói: “Các người được truyền sách này thay trời giáo hoá mọi người, cứu nhân độ thế, nếu sinh lòng khác, sẽ chịu quả báo”. Hai pháp sư cảm ơn lạy tạ.
Từ khi được sách trên, hai vị pháp sư cùng hai cha con Phạm Bá Vinh người thôn Trinh Lương ngày đêm ra công học tập, có thể hô phong hoán vũ, đều hiệu là Ngọc Thanh Đại Động pháp sư.
Khi giặp Pháp đến xâm lược nước ta, lương giáo bất hoà với nhau. Cậy có giặc Pháp ủng hộ, giáo dân tàn phá đất Cổ Lôi chúng ta, tiêu hủy 72 Thần từ, Phật tự. ý của dân ta muốn chuyển những Thần từ, Phật tự đi nơi khác để truyền lại hậu thế được lâu dài. Suy nghĩ như vậy, đứng ngồi không yên, chống gậy đi ra sau vườn, đứng cạnh nhà em Hưng, ngửa mặt tuôn lệ. Bỗng nghe có người ở trong vườn, ta liền hỏi: “Nay Hoàng Cao Khải bội miếu xã tắc, ý con như thế nào?” Dư nói: “Em từ khi thụ công ân, họ hàng cứu sống, ân sâu nghĩa trọng chưa báo đáp được phần nào. Gần đây thấy huynh trưởng mặt ủ mày chau, đất nước nhà có việc trọng đại, nhưng chưa dám hỏi. Đêm nay lại thấy huynh đứng ngồi không yên, than vắn thở dài, không ngờ đại huynh liếc thấy em. Nếu có việc gì cần đến, dẫu chết em cũng không từ nan”. Ta nói: “Báu vật ở trong đền, 72 ngôi, đều vô cùng quý trọng, ý của quốc dân ta muốn di đi phương xa, việc này ở trong tầm tay của hiền đệ. Đêm nay theo ta đến phòng sách”. Hưng theo tôi đến gác sách. Tôi bảo Hưng: “Hiền đệ nên giữ gìn sách này cẩn thận, đến tỉnh Phú Thọ, tại ba thôn Cổ Sâm, cũng nên giảm miễn cho”. Hưng hứa với tôi: “Nếu có sứ mệnh thì chết cũng không từ”. Ngày hôm sau, Hưng đi theo đường cái lên Phú Thọ. ở đây anh ta dựng một ngôi nhà mới, rào vây chung quanh. Sau đó về báo cho tôi biết việc đã xong.
ý của Hưng muốn cử con thứ lên Phú Thọ để báo ơn nội tộc. Nhưng người con thấy việc ngại khó nên rút lui. Bất đắc dĩ Hưng phải cho người con trưởng lên Phú Thọ. ở đây được độ hai năm. Con trưởng tên là Chi, từ quê về tỉnh, rủ nhau về lấy vợ là Nguyễn Đăng Thị, đều về làng mới an cự lạc nghiệp.
Người con trưởng ở Phú Thọ sinh bốn con trai, trưởng là Quế, thứ là Chiêu, thứ ba là Thiệu, thứ tư là Phượng. Người con thứ hai ở nhà ta sinh bốn con trai (trưởng tên là Tuy, thứ là Hy, thứ ba là Tốt, thứ tư là Liệt). Hai vợ chồng cụ Phúc Hậu quy tiên, người con trai mất sớm, còn hai người con gái gả cho hai người họ Phan, gọi là Cố Lương, Cố Chu.
Trưởng tộc Nguyễn Vân Ghi (Nghi)
* * *

XIV
Một Gia đình họ Đỗ thời Hùng Vương thứ 17 Và 18)

(Thánh tích ở miếu làng Tiểu Quan, Châu Giang, Hưng Yên)
(CT: Theo sách “Lịch sử xã Dị Nậu, Thạch Thất, Hà Tây (in năm 1997), có ghi ngôi miếu cổ ở đây (miếu Tiền) thờ ả Lã, Nương Đê (Chi). Miếu này nay không còn nữa)

Nhân Lý Trang vốn là một làng Việt cổ. Từ thời xa xưa, trước thời Hùng Vương thứ 17 đã có dân cư sinh sống. Theo các cụ già ở địa phương, có thể làng này có trước đời các vua Hùng. Đến thời Hậu Lê, vua Lê Nhân Tông đổi là Tiều Lan Trang, về sau đổi tên là làng Tiểu Quan; nay thuộc xã Phùng Hưng, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên.
Hình dáng làng này vẫn còn nguyên các vết tích xưa như trong thánh tích đã viết: Sông Kim Ngưu; hồ bán nguyệt; vực xóm Chõ; đường Cà (đường giữa làng); đường cây Oản; ba giếng trong (khu vực gần miếu), v.v...
Theo truyền lại, đầu thế kỷ 20, các cụ bô lão trong làng cho xây lại miếu gọi tên là miếu Bà, chính là để thờ hai vị con gái ông họ Đỗ - Đỗ Quang - định cư ở đây, tên là A Lã và Nương (nàng) Chi (CT: Theo sách “Lịch sử xã Dị Nậu, Thạch Thất, Hà Tây (in năm 1997), có ghi ngôi miếu cổ ở đây (miếu Tiền) thờ ả Lã, Nương Đê (Chi). Miếu này nay không còn nữa) lấy Ngũ Lang (CT:Từ Lang không phải tên, mà chỉ ai là con cháu dòng của người đứng đầu bộ tộc, chủ trưởng thời nhà Hùng xưa) con thứ 5 của Hùng Nghị Vương (vua Hùng thứ 17). Nơi đây cũng là nơi thờ Ngũ Lang, Mẫn Công (Từ Công ở đây không phải là tên riêng mà là từ biểu thị sự tôn kính với nghĩa là ông tiên sinh, ngài. Từ quý công cũng vậy, nghĩa là quý ông, quý bà...), con trai Đỗ Quang và là em trai ả Lã và Nương Chi. Các vị này đã hoá thân sau khi vua Hùng thứ 18 truyền ngôi cho Thục Phán để giữ tiết nghĩa trung quân ái quốc (người trung không thờ hai vua).
Bản thánh tích cất giữ ở miếu làng Tiểu Quan viết bằng chữ Hán. Không rõ niên đại. Tháng 9 năm 1990, ông Bùi Quang Mên dịch và ông Bùi Quang Biên soạn lời văn, dày 15 trang in, khổ giấy A4; ở đây, chúng tôi chỉ tóm tắt nhằm chứng minh thêm cho lịch sử xa xưa thời nhà Hùng. Dưới đây là nội dung được biên tập gọn lại dựa theo bản thánh tích trên.
Nước Việt Thường, họ Hồng Bàng, đời Hùng Nghị Vương (vua Hùng Vương thứ 17), ở làng Nhân Lý (vùng Sơn Nam, Đông An) có ông họ Đỗ, tên huý là Quang, vợ người họ Lê. Gia đình hai họ Đỗ và Lê đều ở cùng xóm, sống chất phác với công việc làm ruộng, phúc hậu có thừa. Người trong làng như các họ: Trần, Nguyễn, Lê, Bùi...đều đến nhờ cậy và được sự giúp đỡ nhiệt tình của ông họ Đỗ.
Nhưng, ông họ Đỗ tuổi đã cao mà đường con cái lại chậm. Ông thường than thở: mình sống có phúc có nhân với mọi người, sao lại như vậy, hay có điều gì trái đạo mà lòng trời chưa thấu, nên ông cầu mong bằng chăm lo làm lễ cầu trời khấn phật phù hộ cho?
Cũng trong thời gian này, có ông họ Vũ, tên húy là Thành cùng vợ, quê ở tận ái Châu (Nghệ An) đưa nhau ra cư trú ở trang Nhân Lý, xin được giữ và trông nom chùa ở đây, dựng nhà cạnh chùa, để mong cầu tự (cầu xin con). Sau, gia đình ông xin nhập tịch coi đây là quê quán.
Ông Vũ Thành biết về địa lý (tìm đất đặt mộ phần) và đã giúp ông Đỗ Quang tìm đất tốt để mộ phần của tổ tiên. Ông Vũ Thành và ông Đỗ Quang luôn đến nhà nhau tâm sự, ý hợp tâm đồng, kết làm bạn thân và coi nhau như anh em.
Khoảng ba năm sau, vợ ông Vũ Thành nằm chiêm bao báo mộng...rồi có mang, sinh hạ một con gái (đúng theo nguyện vọng) có diện mạo phương phi, lớn lên nhan sắc tuyệt trần, đặt tên là Vũ Thị Ngọc – Ngọc Nương… Khi Ngọc Nương lên 9 tuổi thì bố mẹ mất (thọ 70 tuổi). Ngọc Nương ra kinh thành ở với người cậu, buôn bán vóc nhiễu. Đến 17 tuổi là tuổi đào hoa nở đẹp, hương thơm ngào ngạt, như bóng trăng tròn, ví tựa Tiên Nữ - Hằng Nga giáng trần.
Một hôm Vua Hùng Vương thứ 17 đi chơi ngoài thành, dân đi xem rất đông, có cả Ngọc Nương. Hùng Nghị Vương thấy nàng nhan sắc tuyệt vời, thế gian ít có, bèn vời lại và đưa về làm cung phi thứ 9, được vua rất yêu...
Sau một năm, Ngọc Nương về thăm quê cũ ở ái Châu và cả nơi quê sinh ra mình ở Nhân Lý, theo lời bố dặn lại.
Ngọc Nương có thai, sinh con trai đúng giờ Thìn, ngày mồng Mười, mùa xuân, năm Giáp Thìn, đặt tên là Hoàng Lang thứ 5 – Ngũ Lang. Khi Ngũ Lang 5 tuổi thì Ngọc Nương mất ngày 1 tháng Chạp.
Còn ông Đỗ Quang, bà vợ họ Lê mất, thì lấy bà vợ hai, người họ Trần. Ngày 15 tháng Hai, mùa xuân năm Mậu Thân, sinh hai cô con gái, môi đỏ, mặt hoa da phấn, mày ngài, mắt sáng như ngọc, sắc đẹp như hoa, giống tựa tiên nữ, đặt tên là ả Lã và Nương Chi.
Sau đấy, đến năm Canh Tuất, ngày 12 tháng Chín, lại sinh một con trai, diện mạo khôi ngô, thần uy lẫm liệt, tay dài quá gối, đặt tên là Đỗ Mẫn. Lớn lên Mẫn công thông minh dũng lược, sức khoẻ hơn người, vă n võ kiêm toàn, nhân dân ca ngợi anh em nhà họ Đỗ.
Ngũ Lang khi về thăm quê mẹ ở Nhân Lý, đến chơi nhà họ Đỗ, thấy ả Lã và Nương Chi, tỏ ý muốn lấy hai vị nữ làm vợ. Sau đó ít ngày, đón hai nàng vào cung, cả Mẫn công cùng đi. Từ đây, Mẫn công và Ngũ Lang trở thành người thân tín và là những người đắc lực phò vua.
Thời Hùng Vương thứ 18, ở Man Châu (vùng Tuyên Quang ngày nay) có một thổ quan địa phương tên là Mộc, họ Thổ, mưu đồ hùng cứ một phương, lại mang quân đi đánh chiếm châu khác (vùng Bảo Lộc,...). Vua Hùng sai Ngũ Lang và Mẫn công đem quân dẹp loạn.
Hai vị đem quân đến vùng Dương Châu, huyện Phúc An, lập đàn cầu trời và bách thần phù hộ đánh thắng. Đêm nằm được báo mộng cho biết: "Mộc công là bậc thiên quân, dáng trần, vốn là người cùng gốc, bạn hữu, là người phù giúp cho xã tắc. Nay nhà Hùng đã đến thời cuối vận, đạo trời xui nên... (!), không nên đối đầu, khỏi hại đến sinh linh trăm họ...".
Hai vị tâu lại nhà vua, Vua nghe theo, hạ lệnh cởi giáp bãi binh, dụ Mộc công kết nghĩa, làm bạn chí tình, thề sống chết ngọt đắng có nhau, không phản bội nhau, cùng nhau phù vua giúp nước.
Ba vị được phong chức:
- Ngũ Lang (Lang công) thống lĩnh quận Cửu Chân.
- Mẫn công làm thống lĩnh Hoan Châu.
- Mộc công làm chủ U Châu, hiệu là U Thổ Mộc đại vương.
Sau đó, ba vị còn dẹp yên cuộc nổi loạn ở U Châu do tướng tên là Hàn Quân cầm đầu. Và tiếp là, cùng Sơn Tinh (Sơn Thánh Tản Viên) đánh quân Thục.
Mộc công cùng Mẫn công trực chiến tại Bố Chính. Ngũ Lang tiến thẳng đến Hoan Châu bằng đạo quân thủy tinh binh, đại chiến với Thục binh, thắng lợi.
Mộc công bị cảm nặng đã chết ở Bố Chính, được Sơn Thánh và Mẫn công mai táng tại đây ngày 19 tháng Giêng.
Lang công cùng hai Nương về lại trang Nhân Lý ở cùng với dân. Nhân dân rất mừng rỡ. Một hôm, ngày 15 tháng Chạp, các vị rủ nhau đi dạo trên sông Kim Ngưu, rồi xuống sông tắm. Tự nhiên, trời mưa to gió lớn, sóng nước ầm ầm, Lang công biến mất. Hai Nương cũng hoá theo cùng ngày.
Đỗ Mẫn trở về quê trang Nhân Lý. Tại đây ông lấy nhân nghĩa để cố kết nhân tâm, lấy hoà mục để tạo nên mỹ tục, tỏ rõ lòng với dân xã. Khi Hùng Vương thứ 18 theo lời khuyên của Sơn Tinh, nhường ngôi cho Thục Phán, Mẫn công đang ở Nhân Lý thấy vậy bèn than rằng: “Đất nước Hùng đã về tay người khác!”.
Sau đó, mở tiệc cùng nhân dân, nhớ lại việc Ngũ Lang và hai Nương đã hoá ở sông Kim Ngưu. Xong, Mẫn công xuống thuyền rồi trẫm mình tại dòng sông quê hương, hoá theo ba vị trên vào ngày mồng Hai tháng Năm. Nhân dân rất thương tiếc.
Nghĩ đến công đức của các vị, Duệ Vương lệnh cho quan quân làm lễ tế, giao cho dân làng Nhân Lý là hộ ấp sở tại thờ cúng, bốn mùa hương khói, phụng sự nghiêm trang.
Qua nhiều triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê... đều có sắc phong thần của nhà vua về các vị, nhưng cuối thế kỷ 19 đã bị cháy thiêu đốt, chỉ còn giữ lại được một số sắc phong của triều Nguyễn đến ngày nay.
* * *


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn