Thứ ba, 23/10/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay521
mod_vvisit_counterHôm trước1695
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
CÁC DÒNG HỌ NGƯỜI VIỆT THỜI HÙNG VƯƠNG E-mail
04/04/2018

Liên danh Ban lễ hội tộc Trần  thời đại Hùng Vương và Hội Đồng họ Phạm Việt Nam đã mời Ban lãnh đạo Hội Đồng họ Đỗ Việt Nam dự lễ dâng hương nhân ngày Quốc tổ Hùng Vương và hội thảo về các danh thần danh tướng các dòng họ thời Hùng Vương.

Thời gian: ngày 1-4-2018

Địa điểm 331- đường Trường Chinh Hà Nội.

Họ Đỗ (Đậu) Việt Nam là dòng họ lâu đời, có các vị Tổ là nhân vật lịch sử từ thời Hùng Vương và trước đó rất quan tâm đến Hội thảo về các danh thần danh tướng các dòng họ thời Hùng Vương. Rất tiếc thời gian tổ chức hội thảo trùng với ngày họp mặt truyền thống họ Đỗ (Đậu) Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh nên chúng tôi không bố trí cử người tham dự được.

Xin trân trọng cám ơn Ban lễ hội tộc Trần  thời đại Hùng Vương và Hội Đồng họ Phạm Việt Nam Ban đã tổ chức cuộc hội thảo rất ý nghĩ này.

Nhân dịp này xin trân trọng giới thiệu một bản tham luận của NNC Đỗ Quang Hòa- nguyên PCT Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam đã được in trong Kỷ yếu của hội thảo.

CÁC DÒNG HỌ NGƯỜI VIỆT THỜI HÙNG VƯƠNG

                             NNC Đỗ Quang Hòa- PCT Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam

Có nhiều định nghĩa về dòng họ, ở đây chúng tôi trích dẫn định nghĩa của Bách khoa toàn thư: “Dòng họ được hình thành như một tổ chức của những người có chung huyết thống, cùng một ông tổ sinh ra theo thời gian”.

Quan hệ dòng họ là nét đẹp văn hóa của người Việt được duy trì qua hàng ngàn năm lịch sử, đã đi vào tiềm thức của mỗi người:         

“Cây có gốc mới trổ nhành xanh ngọn,

Nước có nguồn mới biển rộng, sông sâu.

Người ta nguồn gốc từ đâu ?

Tổ tiên có trước, rồi sau có mình”.

Mỗi dòng họ có Từ Đường riêng, phần mộ tổ tiên, có gia phả ghi chép thế thứ các đời từ cụ cao tổ đến các chi, ngành con cháu. Nhiều dòng họ còn có sổ đinh, tộc ước, gia phong, gia phạm, gia lễ, gia quy. Mỗi dòng họ có trưởng tộc, trưởng chi, có cụ đốc họ là người cao tuổi được họ suy tôn, có hội đồng gia tộc do các chi, ngành chọn ra…Mỗi dòng họ lại có cơ sở vật chất riêng bao gồmcác quĩ họ, ruộng họ, ao họ, vườn họlà tài sản chung của cả dòng họ. Hoa lợi từ đó sẽ dùng làm hương hỏa.

Các dòng họ Việt Nam có tính cộng đồng và tính tự quản rất cao, có nề nếp, thuận hòa trên kính dưới nhường. Sự phân chia thứ bậc trong dòng họ rất chặt chẽ có trên có dưới, có trưởng có thứ, có nội có ngoại, có gần có xa. Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt vì thế khá phức tạp để chỉ đúng vị trí thứ bậc của người thân trong quan hệ họ hàng.

Một câu hỏi lớn đặt ra là: các dòng họ của người Việt có từ từ bao giờ ?

Quan điểm khá phổ biến hiện nay cho rằng Đế hiệu Hùng Vương là do người sau đặt cho các vị lãnh đạo ban đầu của nước ta, nên không thể nói Việt Nam đã có tên họ từ thời Hùng Vương, tức cách đây hơn 4000 năm. Giai đoạn này, dân ta chưa có ý niệm về dòng họ theo lối phụ hệ như kiểu Trung Quốc.

Đến thời Hai Bà Trưng, xã hội Việt Nam vẫn còn trong thời kỳ mẫu hệ. Theo các nhà tính danh học, tên họ xuất hiện đồng thời với sự ra đời của chế độ phụ hệ.

Chỉ khi xã hội Việt Nam đã tiến hóa, cộng với ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, và có những cuộc hôn nhân dị chủng Hán Việt, thì lúc đó Việt Nam mới chính thức có tên họ và các tên họ này giống với tên họ Trung Quốc.

Tuy nhiên theo nghiên cứu của chúng tôi sự hình thành và phát triển các dòng họ ở Việt Nam không đơn giản như vậy:

Quá trình hình thành các dòng họ ở Việt Nam bắt đầu phát sinh và phát triển khi có đủ các yêu cầu và các yếu tố bản địa chủ. Tác động bên ngoài là yếu tố phụ không có tính quyết định.

Có thể liệt kê ít nhất 04 yêu cầu và yếu tố bản địa đó là:

- Các gia đình đã hình thành và phát triển ổn định, không còn chế độ quần hôn.

-  Kinh tế và xã hội phát triển cao. Xã hội và gia đình có tích lũy của cải vật chất, có nhu cầu chuyển giao tài sản, kỹ năng lao động sản xuất cho các thế hệ sau.

- Nhiều gia đình cận huyết thống có nhu cầu tập hợp, liên kết để tương tác, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, sinh hoạt cộng đồng, cùng nhau phát huy các thế mạnh chung, giải quyết các mâu nhuẫn nội tại và chống lại tác động tiêu cực từ bên ngoài. Nhu cầu này càng trở nên cấp thiết khi con người đã định cư thành những cộng đồng lớn.

- Có cùng tín ngưỡng, tâm linh, sùng bái thờ một vật tổ chung là nhân thần hoặc nhiên thần.

Qua các nghiên cứu về xã hội thời Hùng Vương và các tài liệu khác chúng tôi thấy các yếu tố trên đã đầy đủ  và cơ đáp ứng được các đòi hỏi trên.

1-  Gia đình người Việt hình thành từ rất sớm. Vào thời kì đồ đá cũ(cách ngày nay từ 10.000 => 3000 năm). Ở thời kì đá mới (cách 6000 năm) đã tìm thấy các công cụ lao động bằng đá: cuốc đá có cán, rìu đá có cán, kĩ thuật khoan, cưa, mài bằng đá và dấu tích gia đình người Việt.. Ở thời kì đó, họ chỉ biết trồng trọt và hái lượm. Do vậy vai trò của người phụ nữ rất quan trọng. Cơ cấu gia đình nhỏ: 3 – 5 thành viên, gia đình mẫu quyền (Chỉ biết đến mẹ).

Thời Hùng Vương, Sách Lĩnh Nam chích quái mô tả những nét chính của phong tục hôn nhân như sau: “Khi chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam và nữ thì trước lấy gói muối (hay nắm đất) làm đầu, sau đó mới giết trâu, giết dê để làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân”.

2- Thời đại Hùng Vương cách nay chừng 4.000 năm, người Việt đã định canh, định cư. Sản phẩm  nông nghiệp từ nông nghiệp đã có thừa để nuôi sống nhiều ngành nghề khác. Các ngành thủ công nghiệp như nghề luyện kim, nghề làm đồ đá. Nghề làm đồ gốm đã hình thành và phát triển. Thương mại thời kỳ này chủ yếu là trao đổi sản phẩm với sản phẩm. Các nhà nghiên cứu tìm thấy quả cân bằng đá hoặc bằng đồng sử dụng trong trao đổi hàng hóa. Đặc biệt trống đồng Việt Nam đã có mặt ở nhiều quốc gia như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Lào, Campuchia

Các hình khắc trên trống đồng còn ghi lại nhiều hoạt động của xã hội thời Hùng Vương. Cảnh lao động sản xuất như giã gạo. Cảnh chiến đấu của các chiến thuyền. Cảnh sinh hoạt văn hóa cộng đồng như múa hát. Cảnh trò chơi dân gian “Trồng nụ trồng hoa” dưới mái nhà sàn. Truyện bánh trưng bánh dày, Truyện Mai An Tiêm, Sơn Tinh Thủy Tinh cho thấy sản xuất phát triển, sản phẩm dồi dào,có  giao thương hàng hóa. Đã có sự phân biệt con nuôi với con đẻ, lựa chọn người thừa kế.Việc cho và nhận thừa kế, biếu tặng đã có lệ.

3- Nhờ phát minh ra lúa nước, quá trình hình thành của làng xã người Việt diễn ra rất sớm: Làng xã người Việt xuất hiện vào trung và hậu kì đá mới (trên 5000 năm). Làng xã hình thành đầu tiên ở vùng trung du Bắc Bộ - Vùng Tây Bắc: Ở các di chỉ khảo cổ các nhà khoa học phát hiện ra loại gốm hoa văn hình chữ S, lưới, lưỡi câu, những hạt thóc cháy, lưỡi cầy và vũ khí và các mộ táng…

Làng của người Việt ở đồng bằng sông Hồng là làng Việt cổ truyền chứa đựng nhiều giá trị văn hóa đặc sắc tiêu biểu được lưu truyền mãi đến ngày nay.

Qua mấy ngàn năm lịch sử vai trò dòng họ ở Việt Nam luôn gắn liền với sự tiến hóa của xã hội, với quan niệm “Trong họ, ngoài làng”, “Trong làng, ngoài nước”.

Nhờ dòng họ mà các cá nhân đã cư trú xung quanh một địa vực nhất định. Các dòng họ khai khẩn, quy tụ nên các các điểm cư trú của những người cùng huyết thống gọi là xá như Đỗ Xá, Lê Xá, Lưu Xá, Phùng Xá …Những cộng đồng như vậy hỗ trợ nhau rất hiệu quả trong một nền kinh tế tiểu nông, khẳng định và tổ chức các nghi lễ trong việc tang, việc hôn.

4-  Người nguyên thủy quan niệm rằng mọi vật đều có linh hồn. Do  vậy, đã xuất hiện hình thái ý thức hệ đặc biệt của tôn giáo nguyên thủy sơ khai – đó là tín ngưỡngTô tem. Tô tem có thể là cây, là đá, là động vật hoặc thực vật, là một hiện tượng tự nhiên nào đó được cả thị tộc sùng bái.

Tô tem dùng làm tượng trưng cho thị tộc, để che chở phù hộ cho thị tộc, giúp đỡ cho thị tộc về chăn nuôi, săn bắn hay trồng trọt, về sau, do nhu cầu tâm linh mà từ vật tổ, Tô tem đã trở thành tín ngưỡng Tô tem (hay còn gọi là Tô tem giáo). Cũng vậy, từ lòng kính trọng biết ơn những người già có công lao với thị tộc, khi chết linh hồn của họ được tôn sùng và thờ cúng lâu dần trở thành tục thờ cúng tổ tiên ở một số tộc người. Vì người ta cho rằng, linh hồn của tổ tiên có thể phù hộ cho con cháu của thị tộc trong việc mưu sinh, tồn tại và phát triển.

Người Việt làm nông nghiệp có su hướng chọn các các thế lực thiên nhiên gắn với nông nghiệp như mưa gió, nguồn nước, đất đai, cây trồng (cây lúa, cây đỗ, cây đào, cây lê…) làm tô tem. Khi đã có tín ngưỡng thì người Việt có tục thờ tứ pháp, gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp hay thờ Thần lúa, thờ Mẫu…Khi hình thành các dòng họ thì Các Tô tem như: Lúa, đỗ, đào, lê, nguồn sông, mạch núi, …thành tên các dòng họ họ Đỗ, họ Đào, họ Lê, họ Vũ (mưa), họ Thạch (đá), họ Hà (sông), họ Hòa (lúa), …

Ngọc Phả Truyền Thư và Bách Việt Tộc Phả hiện lưu giữ ở Từ đường họ Nguyễn Vân làng Vân Nội, Hà Đông, Hà Nội là các sách được biên soạn từ thời Đinh có ghi chép về các vị Tổ của dân tộc Việt và thế thứ các vua Hùng. Các Phả đó cho biếtvị Tổ đầu tiên là Đế Hoà, tức Hoà Hy hay còn gọi là Hy Thúc, Hy Hoà. Cụ là nhà thiên văn thuyết âm dương, làm ra lịch âm Việt Nam.

Họ Hy Hòa có công tìm ra và thuần dưỡng cây lúa nước. Lịch âm Việt Nam là căn cứ giúp người làm nông nghiệp trồng trọt đúng thờ vụ. Đến nay dân gian vẫn lưu truyền câu “Ai về nhắn họ Hy Hoà/ Nhuận năm sao chẳng nhuận một và trống canh” chính là nói đến việc họ Hy Hòa làm ra âm lịch.

Cũng theo các Phả trên, người họ Nguyễn đầu tiên là Nguyễn Minh Khiết, hiệu Thái Khương Công hay Khương Thái Công, tức là Đế Minh (cháu 7 đời của Đế Hòa), hiện nay đình Nghi Tàm Hà Nội đang thờ cụ. Cụ bà là người họ Đỗ, tên huý là Ngoan, còn gọi là công chúa Đoan Trang, thường gọi là Đỗ Quí Thị (quí bà họ Đỗ). Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch vùng Nghi Tàm. Cụ tu theo đạo Sa Bà (Đạo Phật nguyên thủy của Việt Nam, Đạo Mẫu Việt Nam cũng bắt nguồn từ đây), đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Kinh DươngVương là con trai trưởng của Nguyễn Minh Khiết và Đỗ Quí Thị, đã lập ra nhà nước Xích Quỉ, tiền thân của nhà nước Văn Lang sau này.

Cụ Đỗ Quý thị có 8 người em traithường được gọi là Bát Bộ Kim Cương và mang Phật hiệu, gồm:

1-Đỗ Xương, hiệu Thanh Trừ Tai Kim Cương;

2- Đỗ Tiêu, hiệu là Tịch Độc Thần Kim Cương;

3- Đỗ Kỷ, hiệu là Hoàn Tuỳ Cầu Kim Cương;

4- Đỗ Cương, hiệu là Bạch Tịnh Thuỷ Kim Cương;

5-Đỗ Chương, hiệu là Xích Thanh Hoả Kim Cương;

6-Đỗ Dũng, hiệu là Định Trừ Tai Kim Cương;

7- Đỗ Bích, hiệu là Tử Hiền Thần Kim Cương;

8- Đỗ Trọng, hiệu là Đại Thần Lục Kim Cương.

Cụ Đỗ Quí Thị được thờ nhiều nơi ở Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Yên…và ghi dấu tích trên bia đá cổ. Bia “Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh” có nói đến phần đất ở đây do Mẹ của đất nước (Cái Tiên Tổ) tên là Đỗ Thị khởi dựng. Bia còn ghi lại bằng thơ việc xây chùa dựng tượng Mẫu Thiên (Đỗ Thị), tại cung chính thờ tám người em Bát Bộ Kim Cương. Các chùa ở Việt Nam đều có tượng Bát Bộ Kim Cương.

Mộ Bát Bộ Kim Cương ở gò Thiềm Thừ (nghĩa là gò Cóc Thần) và Miếu Mộ cụ Đỗ Quí Thị phường Phú La, quận Hà Đông, Hà Nội gần đây đã được nhà nước cấp bằng công nhận là di tích lịch sử. Thông qua dòng họ Đỗ Nhà nước đã công nhận rằng từ thời Hùng Vương và trước đó người Việt đã có họ.

Thật vậy sách Bách Việt Triệu Tổ Cổ Lục lưu giữ ở Từ đường họ Nguyễn Vân làng Vân Nội, Hà Đông, Hà Nội còn ghi lại: 
Cuối thời Cực Lạc (cách nay khoảng 6.000 năm), tổ tiên ta bắt đầu chia họ. Ban đầu có 9 họ gồm 5 họ Việt và 4 họ vừa Việt vừa Mường, sau nay đến giai đoạn sử dụng chữ nhho thì gọi chung là Cửu tộc.

Tất nhiên họ người Việt lúc đó cho đến thời thời Hùng Vương chưa bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và cũng như du nhập của nhiều dòng họ có nguồn gốc Trung Hoa, như theo chế độ phụ hệ, lấy họ của con theo họ cha, nên chắc chắn có nhiều điểm khác với ngày nay, cần tiếp tục nghiên cứu thêm.

Có tài liệu nghiên cứu cho rằng, dòng họ của người Việt từ xa xưa có khoảng 30 họ thuần Việt hoàn toàn: Nguyễn, Phạm, Vũ, Hoàng, Trương, Ngô,  Đỗ, Trần, Lê, Phan. Họ Nguyễn đông nhất chiếm khoảng 38,4%.

Hiện nay theo chúng tôi được biết còn nhiều đền, đình, chùa thờ các vị có tiên hiền đất Việt như đền thờ thầy giáo thời Hùng VươngVũ Thê Lang ở Việt Trì, Phú Thọ, đền thờ ba vị Tướng họ Phạm, họ Nguyễn, họ Trần thời vua Hùng Vương thứ 6 ở Đông Anh Hà Nội… Chỉ tính riêng dòng họ Đỗ, qua các thế hệ thời Hùng đã để lại nhiều di tích về những nhân vật lịch sử họ Đỗ tiêu biểu như:

Thời Hùng Vương thứ 06 có Đỗ Phụng Chân ở trang Khê Kiều, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình ngày nay, đã có công đánh giặc Ân, được dân làng tôn làm Thành Hoàng.

    Thời Hùng Nghị Vương (Hùng Vương thứ 17) ở trang Nhân Lý, nay là làng Tiểu Quan (Châu Giang, Hưng Yên) có một gia đình họ Đỗ (Đỗ Quang) gồm 3 người con đã có công giúp nước, trong đó có một con gái.

Thời Hùng Vương thứ 18: Số nhân vật lịch sử họ Đỗ xuất hiện không còn là cá biệt, như ở trang Cổ Tiết (Thái Bình) có gia đình Đỗ Công Điềm và ba con trai Đỗ Quân Tấu , Đỗ Lục Lang, Điền Khánh và con gái là Liên Nương đã có công chống giặc, giúp dân, được suy tôn làm Thành Hoàng làng, hiện vẫn tiếp tục được thờ phụng.

Việc nghiên cứu sâu hơn và có hệ thống sẽ làm sáng tỏ thêm nhiều về các dòng họ thời Hùng Vương. Đó đó là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhưng rất cần thiết cho các dòng họ Việt Nam. Chúng tôi rất mong được sự giúp đỡ, chung tay các nhà nghiên cứu, các dòng họ bạn.

Với qua trình hình thành phát triển lâu dài, phức tạp, bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước có dòng họ sớm nhất thế giới. Ngày nay dòng họ vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, kết nối tình thân đồng tộc “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.Góp phần bảo tồn, truyền thống các giá trị văn hóa và phát huy truyền thống tự hào dân tộc.

HẾT

 

Những tài liệu tham khảo chính:

1- Hùng Vương dựng nước Tập I (1970), Tập II (1972), Tập III (1973), Tập IV (1974).

2- Thời đại Hùng Vương, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 1979.

4- Họ Đỗ Việt Nam tập 1, Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin Hà Nội năm 2001.

5- Việt Nam và Cội nguồn trăm họ, Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội Hà Nội năm 2001.

6- Những khám phá mới, nhận thức mới về nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh Việt cổ của PGS Đỗ Tòng và những người khác – Năm 2009.

7- Đạo thờ Tổ tiên dân tộc Việt, Nhà Xuất bản Hồng Đức năm 2016.

 

hoi_thao_hung_vuong
 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn