Chủ nhật, 21/10/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay305
mod_vvisit_counterHôm trước1871
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA ( XVI) E-mail
07/06/2018

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XVI
TRIỀU HÙNG VƯƠNG, NGỌC PHẢ
PHẦN GỐC CÀNH

Chép về một vị công thần, tước hiệu Đại vương (Thượng đẳng thần).

Bấy giờ là đời Hùng Vương thứ 18,...Vương đóng đô ở Việt Trì, quốc hiệu là Văn Lang, quốc đô là thành Phong Châu. Nhà vua là người đại lược hùng tài, bao gồm thánh đức, nối nghiệp tổ tiên, bồi đắp thịnh cường thêm cho 17 đời vua trước. Trong thì sửa sang văn đức, ngoài thì giữ yên bờ cõi, gắng sức mở mang và giữ yên bình cho đất nước. Thời gian trước đây, nghe nói ở Trang An (Trụ), huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương (xưa gọi là Châu Hồng) có một nhà họ Đào tên là Hiền, vợ là Nguyễn Thị Phương, nhà nghèo làm nghề chài lưới, nhưng rất cố gắng làm điều thiện. Việc thiện nhỏ mấy cũng làm, một tí ác cũng tránh. Cả vùng này đều gọi là nhà tích thiện, ắt có phúc lành. Hai vợ chồng một lòng một dạ như nhau. Ông tuổi ngoài 30, còn bà tuổi 40. Một hôm đi đánh cá ở một nhánh sông được một nén vàng. Từ đó đã thành nhà giàu có. Vợ chồng ông tuy tuổi đã cao mà đường con cái thì muộn, nên cứ bần thần không vui, thường than thở: núi vàng biển lúa nhẹ như cỏ rác, con hiếu cháu ngoan, đó mới là ngọc vàng. Thế là ông, bà đem tiền của giúp người nghèo, cứu người khổ, tất cả danh lam thắng cảnh, đền thiêng, động lớn, nơi nào ông bà cũng sửa sang, cầu cúng. Một hôm, nghe ở chùa Sài Sơn thuộc phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây có tiếng là linh ứng, cầu xin là được như ý nguyện. Vợ chồng ông chuẩn bị thuyền, chèo, cả 2 người biết nghề sông nước, sắp sẵn tiền, hương và các lễ vật, theo dòng sông Hát mà đến Sài Sơn. Đến nơi thấy cảnh núi cao vời vợi, khí tượng khác thường, vẻ u tịch thâm nghiêm không thể nào thấu nổi, là nơi cảnh lạ vào bậc nhất của trời Nam. Lúc này mặt trời chưa đứng bóng, ông ngắm cả xung quanh, trên đỉnh Sài Sơn có một nơi tục gọi là chợ Trời. Tương truyền các sơn thần thường gặp nhau ở đây. Tuy chỉ là một gia đình làm nghề chài lưới, nhưng khi lòng đã thành, miệng thốt ra mấy vần thơ:
Nghe nói các Tiên hội nơi này
Chuyện ảo hay là chuyện thật đây
Trước mắt hôm nay toàn chỉ thấy
Dưới thì là núi, trên trời mây.
Chiều đến, ông bà vào động dâng lễ, đốt hương khấn rằng: “Thần ở nơi trần thế, tiền của ruộng nương chỉ là một áng phù vân, chỉ hiềm muộn con mà lòng canh cánh. Trời, Đất, Quỷ, Thần linh thiêng chiếu ứng được tấm lòng thành, ban cho phúc lớn để cho vợ chồng thần có được người nối dõi, xin vô vàn nhờ cậy ở sự âm phù của Trời Đất và chư vị thần linh!”. Đêm hôm đó ông bà ngủ ở trước am trong động. Đến khoảng canh ba, trong giấc ngủ mơ màng, thấy một ông lão đầu râu tóc bạc, hình dung lạ lẫm, tự xưng là Thủy Thần mà rằng: “Nhà ngươi đức dày đã thấu đến Trời, Thần đã hứa là có con trai, trước sau đã định đừng nên lo lắng”. Nói xong thì không thấy nữa.
Lát sau, bà Nguyễn tỉnh giấc. Biết đó là giấc mơ, sáng ra bà kể lại với chồng. Ông bảo đó là điềm lành, rồi làm lễ tạ, xuống thuyền trở về. Thuyền về đến địa phận Huyền Nhạc, bỗng gặp trận mưa gió ầm ầm kéo đến. Hai vợ chồng chạy vào tương miếu để tránh mưa. Bỗng trong miếu có một mảng sáng bay ra chùm lên người bà Nguyễn. Bà sợ quá nằm ngất đi, phảng phất như tỉnh như mơ thấy một cậu con trai, áo mũ chỉnh tề từ trong miếu nói với Bà: “Vâng mệnh Thiên Đình đầu thai làm con”. Xong thì không thấy nữa. Tỉnh ra mới biết là mơ, bà đem kể lại cho ông nghe, biết là người trời giáng thế.
Khi về đến nhà, bà Nguyễn biết mình có thai. Đủ ngày đủ tháng, bà sinh hạ một cậu con trai, đó là ngày mồng 8 tháng Giêng. Ngày hôm đó có một áng mây vàng phủ trên nóc nhà, ba ngày sau mới tan, hào quang sáng lạn, trong nhà có mùi thơm ngào ngạt. Cậu bé có tướng mạo khác thường, thiên tư đĩnh ngộ. Ông bà rất yêu quý, đặt tên là Linh Lang. Lên 7 tuổi Linh Lang bắt đầu đi học. Đến 16 tuổi, dáng người to lớn, học lực tinh thông, thuộc lầu binh pháp, giỏi về võ nghệ. Mỗi khi cầm cái gậy dài, trăm người không đương nổi. Hễ nhắc đến chuyện vợ con đều không ưng. Ham đọc sách, thăm thú suối khe, núi non, sông biển, thành thị nông thôn, đường xá xa gần.
Khi cậu 20 tuổi, than ôi! Sự biến khôn lường, tai ương chồng chất, bố mẹ lần lượt qua đời. Sau tang trở 3 năm. Bấy giờ nghiệp lớn chưa yên, ý trời muốn tắt. Hùng Hy(?) Vương sinh ra 20 người con trai đã lần lượt về với Tiên đế. Còn lại Công chúa Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử ở trang Đa Hoà, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu và em thứ hai là Mỵ Nương, tên Ngọc Hoa công chúa, cung Thiềm (nơi ở của Hằng Nga) là ngọc còn trong, duyên phận trăm năm, ngày lành chưa định.
Vua yết bảng ngoài thành Việt Trì, truyền chiếu thiên hạ thần dân, ai là người tài trí thông minh, đức độ hơn người, đáng bậc anh tài, Vua sẽ gả công chúa và truyền ngôi.
Biết được chiếu thư, dưới sông bay phượng múa động rơi tinh đẩu sa xuống dòng sông lạnh; người thì trận võ bày ra mà vuốt hổ phải gờm, sạm ran mặt biển. Đủ mặt anh tài trong nước lần lượt ra mắt, nhưng chẳng ai là xứng với ý trông đợi của nhà Vua.
Sau cùng có vị thánh núi Tản Viên họ Nguyễn tên Tuấn (CT:Bản chữ Hán ở đây là THOA. Hầu hết các tài liệu đều ghi là TUẤN. Cấu trúc chữ Hãn thì hai chữ Thoa và Tuấn gần giống nhau nên có thể lẫn) ở động Lăng Sương (CT: Nay là đất tây nam Phú Thọ), đạo Sơn Tây, hiểu thấu đất trời, thần thông quảng đại, lấp sông dời núi. Vương cho là người tài bậc nhất trong thiên hạ, rất đẹp, ý thuận gả công chúa cho, sắp đặt ngày tốt để truyền ngôi.
Bấy giờ ở bộ Ai Lao có người tên là Thục Phán, vốn là con nhà dòng dõi được chia cho cai trị bộ Ai Lao, nay nghe tin Vương tuổi đã cao, mà 20 Hoàng tử và 6 công chúa đều lần lượt về với Tiên Tổ, không con nối dõi, đương định truyền ngôi cho con rể là Sơn Thánh (Thần núi Tản Viên). Phán muốn nhân dịp này xin thêm quân nước láng giềng, sắp xếp tinh binh trăm vạn, ngựa khoẻ 3.000 con, chia làm 5 đạo thủy bộ cùng tiến, quân thế rầm rộ. Quan biên trấn lại có thư cấp báo. Vương rất lấy làm lo lắng, gọi con rể là Sơn Thánh hỏi kế. Sơn Thánh tâu: “Đất nước đã hơn 2.000 năm, sáu bảy đời vua hiền, thánh nhân đức và ơn trạch đã thấm sâu xương tủy người dân. Nay nước giàu binh mạnh, uy đức của bệ hạ lan ra bốn biển, lại có lòng trời giúp đỡ, thường sinh ra người tài như Linh Lang công, ông ta là Bách Thần của núi sông xuất thế, để thần mời đến, phong làm Đại tướng, trước tiên lấy tiếng là đem quân đi tuần du, vừa để gây quân thế, sau là phòng bất trắc. Còn thần xin thay nhà vua kén chọn tướng tài, giặc Thục chẳng qua nổi một tuần là dẹp tan!”
Vương nghe xong cả mừng liền đòi Linh Lang đến. Khi ra mắt nhà vua, ông đối đáp trôi chảy, thử tài nghệ thì thấy quả là văn võ toàn tài, liền phong ông làm Tiền đạo Đại tướng quân, đem quân đi trước tuần hành miền Đông Bắc. Ông bái mệnh nhận quân tước, đem quân thủy bộ rầm rộ lên đường, trên đường cờ phất gió bay vạn dặm, thuyền quân chiêng trống rung động núi sông.
Vào một ngày quân tiến đến Thăng Long (xưa gọi là thành Long Biên) địa phận khu Huyền Nhạc, trại Bác Lãm, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên (sau đổi là Ứng Hoà). Ông cho dừng quân ở đây, đi xem xét bốn mặt, thấy nơi đây một vùng sông núi, có cái thế rồng ôm hổ phục, núi không cao, bãi bồi bằng phẳng, nguồn nước dồi dào, ao giếng tiện lợi, thấy đất này cũng là một nơi thắng cảnh, sáng sủa vậy. Ông truyền cho quân lính cùng với nhân dân, dựng đồn để chống lại quân Thục.
Thời gian này người dân khu Huyền Nhạc, trại Bác Lãm đương rất sợ giặc, đều xin theo. Ông hứa và chọn tuyển đinh tráng trong khu được hơn 20 người làm trưởng thủ đám gia binh. Sáng ngày hôm sau thấy sứ giả đem chiếu thư đến, sai ông đem quân đi đánh giặc. Ngay ngày hôm đó ông tiến quân đến thành quân Thục đương đóng ở đạo Kinh Bắc (xưa gọi là quận Võ Ninh) địa phận Sóc Sơn. Ông họp các tướng sĩ ở dưới chân núi, bàn cách tiến đánh.
Bỗng thấy quân Thục trùng trùng điệp điệp bốn mặt bủa vây, ông không kịp mặc áo giáp, ngựa không kịp thắng yên. Vòng vây của quân địch khép kính rất là nguy cấp. Quân sĩ bị đói khát, triều đình không hay nên không có cứu viện. Ông ôm mặt ngửa lên trời khóc mà than rằng: “Quân tướng của ta rồi chết ở đây cả”. Bỗng chốc trời mưa to gió lớn, một đám mây đen từ trời cao xà xuống, quân Thục rối ren. Ông dâng cao binh khí hô to: “Trời giúp quân tướng ta rồi”. Các tướng sĩ thừa thế xông lên đánh tan quân giặc, thu được lương thực, ngựa, khí giới nhiều không kể xiết.
Từ đó thiên hạ thanh bình, đất nước yên vui. Bấy giờ đương mùa đông tháng Mười, vào dịp thượng tuần, thấy sứ giả đem chiếu thư đến, ý là giặc đã tan, mời ông về triều. Ông vâng mệnh trở về. Nhà vua mở tiệc ăn mừng, thăng thưởng cấp bậc cho các tướng sĩ, còn hứa cho ông lập thực ấp ở thành Thăng Long. Ông bái tạ trở về nhiệm sở. Có lần, nhân được nhàn rỗi, ông lại trở về khu Huyền Nhạc, trại Bác Lãm.
Một hôm, ông bày tiệc mời các phụ lão, dân trong khu, đệ tử và các người từng làm gia thần, quan tướng chỉ huy, đến dự. Ông nói: “Ngày trước cha ta thường nói ở khu này có thờ một vị thần rất thiêng, cho nên ta đem quân đóng đồn ở đây. Nay giặc đã tan, ta trở lại hỏi cho rõ về sự việc”. Các phụ lão thưa: “Khu của chúng tôi đây, quả có thờ một vị Thủy thần, vị hiệu như thế, như thế... Cách đây hơn 10 năm có hai vợ chồng đến trú ở Miếu, từ đó không thấy linh nghiệm nữa”. Ông cười mà rằng: “Đó chính là cha mẹ ta mà ta thác sinh đấy”. Các phụ lão và mọi người nghe xong rất lấy làm sợ hãi, tất cả đều lạy và xin làm gia thần, nhân đó xin nơi này hiện nay là chỗ đóng quân, sau này là nơi thờ phụng. Ông ưng cho và nói: “Khu này hậu với ta thì phải tôn trọng di mệnh của ta. Ức vạn năm sau ở khu này, phàm lệ có các lễ vật thờ cúng, phải kính cẩn mời các Thánh phụ, Thánh mẫu của ta về cùng phối hưởng. Ta ban cho 10 nén vàng để sau này mua thêm ruộng và sửa sang nơi thờ cúng”.
Khi ông trở về nhiệm sở, trời đất tối đen, mưa to gió lớn, đá chạy cát bay, ban ngày mà như đêm tối. Mọi người trông thấy một áng mây đỏ, từ trên trời cao ập xuống thẳng sảnh đường. Ông ở trong đám mây bay thẳng lên trời. Ngoài bến sông có tiếng như là xe ngựa đón rước. Lát sau trời quang mây tạnh, thấy mặt nước sông sóng dâng lên cuồn cuộn, các loài thủy tộc quẫy lượn ầm ầm. Thế là Ông đã hoá vào ngày 15 tháng Năm.
Thời gian đó nhân dân trong vùng rất là sợ hãi, làm biểu tâu lên triều đình. Nhà vua biết được, sai người về tận nơi làm lễ và khi làm lễ cấm mặc lễ phục màu vàng, hưởng tế tự lâu dài cùng đất nước, mãi mãi thành lệ. Hãy tuân theo. Chuẩn cho nhân dân khu Huyền Nhạc, trại Bác Lãm, rước mỹ tự (chữ vua phong) để dân lập miếu thờ”.
Khi Tiền Lý Nam Đế, huý Bôn, nhân đi đánh Lâm Âp, quân tiến đến thành Thăng Long, gặp quân giặc do đường thủy tiến lên, nhà vua dừng quân ở miếu, khấn thần giúp sức. Khi giặc tan, Vua sắc phong: “Thượng đẳng Thần”.
(Sao bản chính ở bộ Lễ Quốc Triều)


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn