Thứ bảy, 21/07/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay619
mod_vvisit_counterHôm trước2038
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA ( XVII) E-mail
04/07/2018

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XVII

Sau triều vua Hùng Vương,
con của Hùng Dực Công(1)
tên là Nguyễn Cẩn (Triệu Đà, vũ Đế)(2)

Chú thích:
(1) Theo tài liệu khác là Hùng Duệ Vương.

(2) Trước kia sử sách thường gọi Triệu Đà là người Hán. Triệu Đà sinh năm 256 trước CN, mất năm 136 trước CN, ở ngôi vua 71 năm, thọ 121 tuổi. Nhà Triệu tồn tại 97 năm (năm 207 đến năm 111 trước CN). Quốc hiệu là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung, gần Quảng Châu, Trung Quốc ngày nay. Tên hiệu của Triệu Đà là Triệu Võ (Vũ) đế (207 T-136T), đối chiếu triều đại với Trung Quốc là thời Tần Nhị Thế, năm thứ 3. Theo nhiều nhà nghiên cứu hiệnnay thì Triệu Đà là người Việt con cháu nhà Hùng, làm con nuôi người Hán (Đ.T).

__________
Vũ Đế, húy Cẩn, cháu của Hùng Hy(?) Vương, là con của Hùng Duệ Vương. Mẹ đẻ là Trần Thị Quý mất sớm. Hùng Dực công lấy vợ hai tên là Nguyễn Thị Sinh, mụ là người tâm địa gian ác, hành hạ Nguyễn Cẩn là con chồng. Chàng phải đến nương nhờ nhà ông bà ngoại, loà cả đôi mắt. Ngày hôm sau ra bãi Tự Nhiên ở Khúc Giang cùng với Chử Đồng Tử đánh cá. Một hôm, trong khi đánh cá, nghe một người gọi lại, đó là Vương Hiệu người Bắc quốc, là tướng dưới trướng của Hùng Dực Công bảo Nguyễn Cẩn: “Người còn ít tuổi, không hiểu việc đời. Nay 20 Hoàng tử và 6 công chúa chỉ còn lại 2 công chúa. Người gần nhất chính là ngươi. Không sớm đi tha hương lập nghiệp, sau cứu giang sơn, ắt gặp hoạ lớn”. Nguyễn Cẩn hiểu ra, bèn giao lại bà nội cho Chử Đồng Tử nuôi nấng. Vương Hiệu cho 5 nén vàng để Đồng Tử nuôi bà ở Đại Đình, thành Châu Định.
Lại nói, khi Vương Hiệu ở trong phủ của Hùng Dực Công, thường xem tướng Nguyễn Cẩn, biết chàng về sau có tài trí phi thường, bèn lập mưu để Nguyễn Cẩn sang Bắc Quốc. Nhân Đại Tô lấy Triệu Cao không có con, nên Triệu Cao nhận Nguyễn Cẩn làm con nuôi, đổi tên là Triệu Đà. Đến khi trưởng thành, thiên tài xuất chúng, sức có thể dâng đỉnh, thế có thể xô núi. Tần Thủy Hoàng phong làm Đô Uý. Đến khi Vương Hiệu ốm chết, giao binh quyền cho Nguyễn Cẩn, tự xưng là Triệu Vũ đế, lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung, chiêu tập binh mã trở về quê cũ hỏi tội Phán, khiến Phán và Cao Nỗ (có sách chép là Cao Lỗ) phải tự tử.
Cũng có sách nói Nguyễn Cẩn còn gọi là Lý Cẩn. Lý là ghép 3 từ (thập, bát, tử) cho nên gọi là Lý Cẩn. Bởi, Hùng Dực Công có húy là Lý Trọng, cho nên con của Hùng Dực là Nguyễn Cẩn có húy là Lý Ông Trọng. Vì nhà nghèo, mẹ mất sớm, cha và bác thì đam mê tửu sắc. Thuở nhỏ ông làm nghề đánh cá, phụng dưỡng bà ngoại. Tự bán mình cho Vương Hiệu lấy vàng bạc để cho Đồng Tử phụng dưỡng bà ngoại, vì thế Đồng Tử mới có cơ sở để học hành, bà ngoại cũng có người phụng dưỡng. Khi mà Nguyễn Cẩn trở về quê lên ngôi thiên tử, ông đến bãi Tự Nhiên, sông Khúc Giang (bây giờ là sông Khúc, huyện Thanh Oai), lễ tạ.
Đồng Tử trông thấy ông, hiển linh bảo Nguyễn Cẩn rằng: “Năm trước ta bị bọn gian là Thục Phán, Cao Nỗ giết hại, hỏa thiêu ở khu này. Công chúa Ba là Tiên Dung (?) về Triều không chịu lấy Cao Nỗ nên xuất giá đi tu hành ở chùa Hương Tích. Cao Nỗ mưu với Thục Phán đốt chùa giết hại, lại vu cáo vợ chồng ta tạo phản, vì ta học được phép tiên, pháp lực lớn cùng với Sơn Thánh Tản Viên, Cao Sơn đại vương Quý Minh Hữu thần. Vợ chồng ta chỉ trị bệnh cứu dân, một lòng giúp xã tắc. Nay Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy ta tận trung mà bất đắc kỳ tử gọi về Thiên Tào hội cùng với các tiên. Nay biết đệ trở về đến thăm, nên ta mới hiển linh để gặp. Nói xong thì biến mất.
Nguyễn Công Trọng (Sử ký gọi là Trọng Thủy) con của Vũ Đế Nguyễn Cẩn, lấy con gái Thục Phán là Mỵ Châu, húy Phong Châu, là hậu duệ của họ Hồng Bàng.
Lại nói, Thục Phán là Lạc Tướng đất Ba Thục mưu với Cao Nỗ tạo phản, tự xưng là An Dương Vương, đổi quốc hiệu Văn Lang thành Âu Lạc, xây thành ở Phong Khê gọi là Loa Thành ở Khả Lãm (nay là Bác Lãm hạ). Thành hễ xây lại sụp đổ, Vua khấn trời đất, núi sông, bỗng thấy Cao từ đằng đông lại. Vua hỏi cớ sao thành bị sụt? Thần núi trả lời: “Tản Viên Nguyễn Tuấn cùng với con vua trước vì nước báo thù, âm hồn nghĩa binh ẩn trong núi Thất Diệu, đó là những người bị giam cầm, tù tội của đời trước hoá ra hay quấy phá thành, nếu trừ được chúng thì thành vững ngay. Phán đưa Cao Nỗ về quán, đêm nghe có người gõ cửa, Cao Nỗ quát to, họ không dám vào, có tiếng gà gáy, họ chạy tan tác. Cao Nỗ xin với Phán đuổi theo, đến núi Thất Diệu, sai người đào được nhạc khí cổ và hài cốt, cho đốt thành than, vượng khí của các vua triều trước mất hết. Thành xây nửa tháng thì xong. Phán nói với Cao Nỗ: May có ngài giúp, thành vững chắc, nếu có ngoại xâm thì lấy gì chống đỡ? Nỗ cởi móng đưa cho Vua: Dùng cái này làm lẫy nỏ, tên gọi là nỏ thần Linh Quang.
Theo như trước, Phong Khê, Đông Ngàn, sông Bạch Kê (ở Đông Bắc thành thuộc Khả Lãm, Bác Lãm) đã thuộc cai trị của nước Tần. Tần Thủy Hoàng thấy nước ta nhiều châu báu, bèn sai quân đến chở về. Đồ Thư đem thủy quân đến cướp đất Lĩnh Nam, đặt Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận cho Vương Hiệu làm Nam Hải uý, Nguyễn Cẩn làm Long Xuyên lệnh. Hai người cùng mưu trừ Thục Phán. Nguyễn Cẩn đóng binh ở Tiên Sơn, Hiệu đóng quân thủy ở Tiểu Giang, đánh nhau với Phán. Phán có nỏ thần, mỗi phát giết chết hàng vạn người. Hiệu bị ốm chết, Nguyễn Cẩn biết là không địch nổi, sai sứ giảng hoà, chia phía bắc sông Bính do Nguyễn Cẩn cai trị, phía nam do Phán cai trị. Nguyễn sai Nguyễn Công Trọng cầu hôn Mỵ Châu, con gái Thục Phán. Nguyễn Công Trọng lấy cắp cái nỏ thần thay vào bằng cái khác. Khi về thăm nhà, nói với vợ: “Nếu hai nước thất hoà, Bắc Nam đôi ngả làm thế nào để gặp nhau?”. Vợ trả lời: “Thiếp có áo lông ngỗng ở bên người, chạy đến chỗ nào có đường rẽ sẽ nhổ lông ngỗng rắc làm dấu”. Trọng về báo cho Nguyễn Cẩn cất quân sang đánh. Nhà Vua không biết nỏ thần đã bị thay lẫy, đang đánh cờ, cười rằng: “Cẩn không sợ nỏ của ta hay sao?” Quân Cẩn tiến đến gần, Vua dương nỏ, nỏ đã hỏng, Vua thua chạy. Mỵ Châu ngồi sau ngựa chạy về phía Nam, Nguyễn Công Trọng nhận ra lông ngỗng, cứ vết mà đuổi theo. Phán chạy đến Cao Bộ, tìm Cao Nỗ chẳng thấy. Nguyễn Cẩn đuổi đến Bình Kiều, Bảo Đà, Thanh Oai, dừng chân bảo Nguyễn Công Trọng: “Ta không có ý giết Phán, chỉ làm cho ông ta sợ mà thôi. Nay ta đã chiếm lại giang sơn nối nghiệp của Tổ tông, đã diệt được nỗi lo trong lòng. Phán cũng cùng một dòng Hồng Bàng với ta, cùng họ Hùng không nên giết nhau. Trọng đem theo 15 gia nhân đuổi theo để gọi Phán về. Nhận được vết lông ngỗng đến Diễn Châu, huyện Chu Diên, quân đuổi theo vừa đi vừa gọi. Lê Phán tưởng là Công Trọng đem quân đuổi bắt. Chạy đến Quy thôn, hô: “Cao Nỗ đến cứu ta.” Nỗ ra quát: “Giặc ở đằng sau ngựa đó, hãy giết đi!”. Mỵ Châu khấn rằng: “Một lòng trung tín, bị người ta lừa, xin hoá làm châu ngọc”. Phán giết con, giết hết 15 người vâng mệnh Nguyễn Cẩn đi đón, xong cầm sừng tê giác 7 tấc đi xuống biển (giữ kín địa danh).
Theo sách, Quế Lâm tức Quảng Tây ngày nay, Minh Quý đội Nam Hải tức Quảng Đông, Tượng Quận là An Nam ngày nay. Tiểu giang tức là Đông Hồ, Tân Bình là Đông Ngàn ngày nay. Sông Thiên Đức, Hải Tân là Diễn Châu ngày nay. Cao Xá là Dạ Sơn, Từ Châu.
Nguyễn Cẩn đổi theo họ Triệu (vì hoạn quan Triệu Cao là cha nuôi) ở ngôi 71 năm, thọ 121 tuổi. Triệu Vũ Đế tên chữ là Phúc Thịnh (mộ tại Bình Phán, huyện Thạch Linh. Sau cải táng về Thạch Thành, Văn Nội). Kỵ ở nhiều chùa, miếu.
Nguyễn Công Trọng (mộ tại Lãng Sơn, Nhân Mỹ, Nhân Trạch, mạn bắc Loa Thành).
Mỵ Châu (mộ ở Tang điền, Nhân Trạch) tên húy là Phong Châu.
Tản Viên Sơn Thánh cùng Ngọc Hoa công chúa (mộ phía bắc Loa Thành, Khả Lãm, Phong Khê, trại Bác Lãm) nay thuộc huyện Thanh Oai.
Cao Sơn, Hiển công Quý Minh cùng an táng ở Liên Trì ( Cũng có nghĩa là ao sen) núi Trầm, trước đền thần Long Môn.
Đông Hải Đại vương (con của Nguyễn Phục và Bạch Tước công chúa, thứ thất) sinh Tiểu Điểu vực Hạ thôn, lấy Xích Vân công chúa, sinh mất ở đây. Hoá ở Động Lãm, châu Quang Lãm (châu nghĩa là bãi).
Đồng Tử hoá ở bãi Khúc Giang (mộ ở núi Thần Đồng, bãi Tự Nhiên, Khúc Thủy, Thanh Oai). Khi mất thiêu ở khu này.
Công chúa thứ Ba là Tiên Dung khi mất thiêu tại chùa Hương Tích (mộ để ở Ngã Ba Văn Nội, Văn La, Văn Phú).
Hồ Đô Thống tướng và Hồ Đô Thống soái cùng táng ở Đống Bác, Đống Chú, khu Đa Sĩ, trại Hà Hào.
Văn Vương húy Nguyễn Hồ (CT:Triệu Văn Vương (136T – 124T), đối chiếu với Trung Quốc là triều đại Hán Vũ Đế, niên hiệu Kiến Nguyên 3), con cả của Nguyễn Công Trọng, cháu của Triệu Vũ Đế ở ngôi 12 năm, mộ ở thành Thạch Linh, Thạch Bích, Thanh Oai.
Bấy giờ vua nước Mân Việt là Sính xâm phạm biên cương, nhà vua sai sứ báo với nhà Hán. Hán triều cất quân đánh Mân Việt. Sính chống lại.Người em là Dư Thiện giết Sính rồi sai sứ mang đầu đến nộp cho Vương Khôi. Vương lại sai người báo với vua Hán. Vua Hán sai Trang Trợ sang dụ. Vua cúi đầu nói: “Công đức này đến chết cũng không báo được.” Liền sai Thái tử Anh Tề sang làm con tin, và bảo Trợ rằng: “Nước mới bị cướp phá, sứ giả hãy về đi, quả nhân đang ngày đêm sắm sửa hành trang để vào triều kiến Thiên tử.” Quần thần bèn can nói là bị bệnh không đi.
Minh Vương, húy Nguyễn Anh Tề (CT:Triệu Minh Vương (124T-11T) Hán Võ Đế. Nguyên Sóc 6) là con trưởng của Văn Vương, ở ngôi 12 năm. Trước đây, vua vào làm con tin cho nhà Hán ở Trường An, lấy vợ người Hàm Đan là Cù thị, sinh con là Hưng, lập mẹ làm Hoàng thái hậu, con là Thái tử. Nhà Hán mấy lần nhắc vào chầu, Vương không vào, sai con thứ vào làm con tin. Minh Vương băng hà ở Cổ Bắc, chôn theo 114 ấn ngọc truyền quốc do các vua Hùng truyền lại (chứng minh từ ngày khai quốc đến nay đã có 114 đế vương).
Ai Vương, húy là Nguyễn Hưng (CT: Triệu Ai Vương (112T), Hán Võ Đế, Nguyên Đỉnh 5), con Minh Vương ở ngôi 1 năm. Vương tuổi còn nhỏ, Thái hậu là người Hán, trước kia đã tư thông với An Thiếu Quý, nay Thiếu Quý lại làm sứ nhà Hán sang nhắc vua vào chầu. Họ gặp nhau, lại tư thông với nhau. Bởi thế, Thái hậu xin dâng biểu vào chầu. Thừa tướng Lữ Gia can ngăn không nghe. Cù Thái hậu muốn dựa vào sứ Hán để giết Lữ Gia, bèn đặt tiệc rượu để thết sứ giả. Thái hậu bảo Gia: “Làm thuộc quốc thì có lợi, sao tướng quân lại không nghe để sứ giả tức giận. Gia đứng lên. Thái hậu định dùng giáo để đâm Gia, vua ngăn lại. Gia bỏ ra ngoài chia quân cho em, mưu làm loạn. Nhà Hán sai Hàn Thiên Thu dùng lửa đốt thành Lộ Bác Đức đóng quân, rồi chiêu hàng. Dân trong thành đều hàng. Vua và Gia ban đêm chạy ra biển, bị quân đuổi theo bắt. Nhà Triệu mất. Hán chia đất ra làm Nam Hải, Thượng Hải, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đam Nhĩ Nam Hải (tức Quảng Đông ngày nay), Thượng Ngô, nhà Đường gọi là ích Châu, Uất Lâm (tức huyện Quế Lâm nhà Tần). Hợp Phố nhà Tần gọi là Tượng Quận. Châu Nhai, Đam Nhĩ đều ở Hải Trung (tức Đại Bồng Lai, Đái Phượng) gồm 9 quận, từ đó mới đặt Thái thú.
Triệu Vũ Đế lên ngôi năm Giáp Ngọ (năm 207 trước công nguyên), đến Vệ Dương Vương năm Canh Ngọ (năm 111 trước công nguyên), cộng 5 đời, 97 năm.
Tích Quang người Hán Trung đến đất Giao Chỉ dạy dân lễ nghĩa, Nhâm Diên Thái thú Cửu Chân, dân ở đây vốn sống bằng chài lưới săn bắn. Nhâm Diên bắt đầu dạy dân trồng lúa (?). Dân nghèo quá không có gì làm lễ cưới hỏi bèn lệnh cho các quan cai trị lấy lương thảo ra để giúp dân. Các quận khác cũng làm theo, bắt đầu từ hai vị Thái thú này (?).
Bấy giờ họ Nguyễn có con cả là Nguyễn Chính muốn đuổi giặc phương Bắc, khi về nước đến Xa Lũy sai con thứ đắp thành Tây Vu giống như Loa Thành để chống giặc Hán, tự xưng là Tây Vu Vương kéo dài được 24 năm.
Lại nói, Vệ Dương Vương (CT:Vệ (Thuật) Dương Vương (111T) Triều đại T.Q là Hán Võ Đế, Nguyên Đỉnh 6) húy Nguyễn Kiến Đức, con trưởng của Minh Vương, con của người vợ Việt, ở ngôi 1 năm.
Khi vua lên ngôi, Hàn Thiên Thu đã nhập cảnh, bị Lữ Gia đánh tan. Vua Hán tức giận, điều 5 thuyền binh đến đánh Dương Mỹ, phóng lửa đốt thành. Lộ Bác Đức làm trại chiêu hàng, dân trong thành đều hàng. Vua và Lữ Gia đang đêm chạy ra biển, bị quân đuổi theo bắt.
Hậu Vệ Vương- còn có Tây Vu Vương, chắt của Vệ Vương, ở ngôi 24 năm đóng đô ở thành Tây Vu (hoá ở khu này) sinh Nguyễn Lang Tề.
Linh Lang, húy Tề, tên chữ là Phúc Hiền, hậu duệ của vua Tây Vu, lấy Đào Thị Dực lập làm chính thất sinh ra: Nguyễn Đỗ Ban, Nguyễn Đỗ Bảng, Nguyễn Thị Chiêu. Sau ông lại lấy vợ hai là Tạ Cẩn Nương, đồng mưu với các Lạc tướng khởi binh đánh giặc. Ông với bà vợ hai cùng với con cháu bí mật gom quân được nhiều người biết. Nguyễn Thị Lý cùng một số thiếu niên xin theo ông, ông không nhận, vì các cháu nam nữ chưa đến tuổi thành niên, không thể vội vã.
Nguyễn Lang Tề (Phúc Hiền), hoá ở đống Ma Trạch, khu Văn Nội, kỵ ngày 16 tháng Mười, hậu ở đền Sùng Nghiêm. Vợ cả là Đào Thị Dực, hoá ở Phượng Dực, làm thành hoàng làng ngoại. Vợ thứ Tạ Cẩn Nương, hoá ở Cấm Khê (CT:Có tài liệu về sau viết Cấm Khê là thuộc vùng Thạch Thất, Hà Tây ngày nay) khu Văn Nội; Kỵ ngày 16 tháng Mười. Hậu (CT: Hậu: tức để lại ruộng và tiền, để nhà chùa hoặc nhà thờ hằng năm lo cúng giỗ cho mình. Ruộng loại này gọi là ruộng hậu, ai cấy thì phải sắm lễ (xôi, thịt) làm giỗ người để lại “hậu”) vào chùa.
Nguyễn Lang Tề, là con thứ vua Tây Vu (do con trưởng mất sớm) ông thay trưởng làm quan huyện Chu Diên. Vua Hán thấy ông goá vợ, định đem con gái Hán gả cho. Ông không nhận và cáo quan về Phong Châu, lấy Tạ Cẩn Nương. Hai người đồng tâm khởi binh đuổi Tô Định, tạm yên 65 thành vùng Lĩnh Nam.
Tổ hiển Khảo Nguyễn Lang Tề, Phúc Hiền (mộ ở Ma Trạch, sau cải táng về xứ Điện, thờ ở Quán Cấm, đền Sùng Nghiêm, Văn Nội).
Tổ hiển tỉ Tạ Cẩn Nương, hiệu Diệu Uy Mai Hoa Công Chúa (mộ ở xứ Điện, kỵ ngày 16 tháng Mười).
Tổ Hiển Khảo Tướng công Nguyễn Trần Định tên chữ là Phúc Vị. Kỵ ngày 16 tháng Mười (mộ ở thôn Ba Đình, ấp Đường).
Chính thất Trần Quý Thị, húy Thụy, hiệu Bảo Hoa Công Chúa (hóa ở Văn Phú, mộ ở xứ Đế).
Thứ thất Hoàng Quý Thị, húy Đào, Thánh Thiện công chúa (kỵ ngày 9 tháng Ba, mộ ở Nam Nguyễn, sau là Nam An) (CT:Thuộc vùng Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Tây ngày nay.).
Con của Nguyễn Lang Tề và Đào Thị Dực là: Nguyễn Khắc Trung, Nguyễn Đỗ Quý, Chiêu Nương, Nguyễn Khắc Trung. Nguyễn Đỗ Quý, thời Trưng Nữ Vương tận trung báo quốc tại Yên Trường, Trung Thịnh, ứng Thiên. Hậu thần ở nhiều địa phương.
Nguyễn Quý thị, húy Chiêu Túc công chúa lấy Nguyễn Đăng Thành tức Đặng Thành sinh 5 con trai. Thời Trưng Vương đều tận trung báo quốc ở Ma Kỳ, châu Quang Lãm (mộ ở Phúc Lâm, Nội thôn, Quang Lãm).
Con trưởng: Đặng Xuân húy Hùng Nguyên, Nhật trực Đô dương Đăng giang lấy Nhị (Trưng Nhị).
Con thứ: Đặng Đình tên chữ là Phúc Hải, húy Thi Sách (hoá ở Long Biên, Bác Lãm, mộ ở Đống Tầm, đường Sách Yên) lấy Trưng Chắc (CT: Sách ta thường viết “Chắc “ theo vần Tr (Trắc). Tên Chắc tức là kén chắc. Còn Trưng Nhì (dấu huyền), ta thường viết là Trưng Nhị (dấu nặng)). Ba con nữa là Đặng Nghiêm, Đặng Tiến, Đặng Trần là 5 vị Tổ mở đầu cho họ Đặng. Bốn anh em (hoá ở Liên Trì, Xuân La, phủ Thường Tín).
Bà chính thất Bảo Hoa công chúa, (vợ Nguyễn Trần Định) sinh ra Nguyên soái Nguyễn Khổng Khắc, hoá ở Cầu Cơ, Thượng Thanh, Thanh Oai; an táng ở Quán Cấm, Văn Nội, sau cải táng Đống Mối, Thuần Lãm. Bình sinh, ông thường cải trang làm nữ tướng Thiều Hoa giúp em gái là Trưng Nữ vương. Khi Trưng Nữ vương về trời, ông chỉ huy quân đánh giặc cùng 72 người hy sinh. Ông húy là Lôi Chấn, lại có biệt danh Trương Mối.
Bà thứ thất Hoàng Thị Đào, công chúa Thánh Thiện (Quốc mẫu) sinh 2 gái: Nguyễn Thị Lý (tức Trưng Thánh vương), Nguyễn Thị Huệ (tức Trưng Nhị), và một trai là Nguyễn Khổng Chủng, về sau là Bình Khôi Vương (tức Hoàng Ba (Bơ) thường trong chầu văn mỗi khi xuất đồng).
Hiển tổ tỷ thứ nhất hiệu Sa Trì, thua trận ở Phương Trung, Thanh Oai, theo dòng nước, hoá ở bãi Nguyễn, Thái Đường, phủ ứng Hoà.
Trưng Thánh Vương (hoá ở Hát Môn, khu Văn Nội, chân núi Hy Sơn, tức sông Hát, bãi Trường Sa, nay là Quyết Môn, Phong Châu, kỵ ngày 6 tháng Hai).
Trưng Nhì hoá ở Ngọc Điện, Phong Châu. An táng ở bãi Đồng Nhân cùng Chắc. Hai mộ ở xứ Đế (cải táng, miếu bãi Quang Lãm).
Nguyễn Khổng Chủng kế vị (nối ngôi) là Bình Khôi Vương giữ vững Châu Định, sông Đăng. Sau cùng với 3 người anh em (em gái; Hùng Nguyên- đại tướng, chồng của bà Trưng Nhì và Lê Chân) thua trận ở Chi Lê, chạy về làng ở Phong Châu, hoá ở đây. (Nay mộ ở hậu đường Văn Nội. Hoá ngày 10 tháng Mười).
Nguyễn Viên làm Trưởng Doanh Cổ Châu (hoá ở Cổ Châu, Cổ Bản). Kỵ ngày 8 tháng Hai.
Bà Trần Thị Lâm (hoá ở thôn Cổ Nghĩa), sau cải táng ở Tân Nghĩa hạ? Sinh ra một nữ tướng quân, làm tướng Tiên Phong (nữ dũng tướng) chống Mã Viện; hoá ở Bồ Đề, Bản Mộc, khu Văn Nội, mộ ở Bồ Đề, Bản Mộc, hoá ngày 6 tháng Hai).
Nguyễn Quốc (tướng giữ kho), hoá ở khu Thị Lang, thôn Trinh Lương, kỵ ngày 6 tháng Hai.
Nguyễn Nga, (anh em với Nguyễn Viên, Nguyễn An), hoá ở Thanh Lương, thôn Nam ngày 8 tháng Hai. Nguyễn An hoá ở thôn Văn Quán (mộ ở phía Đông Bắc thôn, giỗ tại miếu tháng Hai).
Nguyễn Thị Nghĩa hiệu là Diệu Liên (chống Mã Viện), hoá ở Liên Trì thôn Trung, Nhân Nghĩa, Nhân Trạch, kỵ ngày 8 tháng Hai, sinh ra Phương Túc Công Chúa, lấy Đào Kỳ người thôn Nhân Trạch. Hai vợ chồng làm tướng Tiên phong. Mã Viện giả mở đường bộ, khiến quân ta đề phòng biên cương, trong nước quân ít. Viện đi đường biển đánh vào Lãng Bạc (nay là cửa Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm). Nguyễn Lang Tề không chống nổi, rút lui về Văn Quán. Nguyễn An hy sinh, Lang Tề định rút về Cấm Khê nhưng không kịp, hoá ở Đa Sĩ.
*
tổ tiên họ ngoại của trưng vương

Đinh Công Đạo, anh của Đinh Thị Đào, phò Trưng Vương, sau khi Vương hoá được 3 năm, giữ núi Tam Hiệp, Sơn Tây cùng các họ Đinh, Đôn, Bạch, Hoàng, Nguyễn đều hoá ở Tam Hiệp thuộc Phúc Thọ, Sơn Tây ngày nay.
Đinh Đôn Lãng tức Sa Lãng tướng quân, Thủy sư đô đốc, hoá ở Hát Giang, Mục Tinh, Trinh Lương, mộ ở Trạch Môn.
Đinh Cống (tức Cống Sơn) làm Thừa tướng, giết 400 quân địch, hoá ở Hát Môn, Phong Châu ngày 6 tháng Hai. Mộ ở Văn Chỉ Hùng Vương, đền Sơn Linh, thôn Quang Lãm.
Đinh Lượng bị Tô Định lừa giả hội nghị hoà. Đinh Lượng cùng Đặng Đình tức Thi Sách (chồng Bà Trưng) đến dự, bị Tô Định mưu sát.
Phùng Thị Chính, hiệu Chân Tiết công chúa, lấy Đinh Lượng. Khi Trưng Vương băng hà, bà lui về Đinh Châu, Xuyên Hồ, giữ trọn đạo làm vợ, trở về Phong Châu, thác ở Thuần Lãm.
ả Tú Huyền, hôn thê của Cống Sơn (thác ở Hát Giang, nay là Thiên Nga, Nhật Tỉnh, Trinh Lương, mộ ở Trạch Môn, Tiên Đào, trang Thắng Lãm).
Đào Khang Tướng quân, chết trận ở Trinh Lương (mộ ở cửa Đông bên sông Hát).
Đào Kỳ, Phương Túc chết trận ở Khả Lãm, song táng (cùng chôn) ở Tiên Đào, Nhân Trạch.
Lê Hiệp, Lê Hoàn, Lê Chân người thôn Vĩnh Linh, huyện Thanh Trì giúp Trưng Vương, cùng 4 anh em Đặng Xuân, an táng 7 người một huyệt ở Xuân La, phủ Thường Tín (trong ao sen).
Thời Trưng Vương có 12 bà mẹ sinh ra 36 tướng có công chống giặc. Đời sau truy tôn làm 12 chi thần, 12 Bà Thiện. Từ Đông, Tây Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường, qua các đời Việt xưa: Đinh, Lê, Lý, Trần đều đến lễ, phong sắc, phong thêm mỹ tự ở nhà thờ, đền thờ, như Nam Triều Thánh tổ, Đệ nhất Quảng giáo, hoặc Bản cảnh Thần hoàng Đống Xã Linh ứng đại vương. Mỗi Thần đều có một tên riêng, mỗi người lại có một số Thần từ, Phật tự ở các địa phương thờ cúng.
Ở đất Phong Châu ta, từ Đinh Tiên Hoàng đến nay đã xây 72 đền Nam Thiên: Hoả Lôi ở núi Hoa Cái có 24 tòa. Trong thành Văn Đô, khu Văn Nội, do Đường Thượng Nguyên Trưởng Quốc công Nguyễn Đức trông nom; Trạch Lôi 24 tòa gọi là đình Ba Thông, do Đường Thượng Nguyên Trưởng, cùng 3 thôn Lôi trông nom (Văn Nội, Nhân Trạch, Trinh Lương). Hạ Lôi, trại Bác Lãm, Khả Lãm 24 toà ở phía tây Loa Thành, trở thành một thắng cảnh đẹp nhất trời Nam. Đầu năm ở khu này mở hội hơn 100 ngày, từ nhà Vua cho đến thứ dân đều đến hành lễ.


 
Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi Tel: 84 - 4 - 3851 1825
27 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội Tel: 84 - 4 - 3766 5530
Hotline:0904.720667.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn