Website dong Ho Do Viet Nam - Thư trao đổi với BBT website Họ Đỗ Việt Nam-P1
Thứ năm, 16/08/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Sức khỏe
Văn, thơ, nhạc, hoạ
Góc giải trí
Văn hóa trà
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay215
mod_vvisit_counterHôm trước1788
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Thư trao đổi với BBT website Họ Đỗ Việt Nam-P1 E-mail
20/07/2018

                    Thư trao đổi với BBT website Họ Đỗ Việt Nam

                                             Kính gửi ông Hòa,

       Mấy hôm nay trên diễn đàn Quốc hội đang thảo luận về Luật GD sửa đổi và Luật GD đại học sửa đổi.  Hầu như mọi người dân đều quan tâm và chú ý theo dõi các nội dung thảo luận, vì đó cũng là chuyện của tất cả mọi nhà. Nhưng thật ra thì trước đó, từ cuối năm 2017 và đầu năm 2018, trên nhiều diễn đàn xã hội và diễn đàn GD đã có khá nhiều cuộc bàn thảo và góp ý về chủ đề này, sau khi Bộ GD&ĐT công bố bản dự thảo sửa đổi lần này. Cùng góp sức với cả nước, cộng đồng HĐVN chúng ta cũng đã và đang cố gắng để được góp một phần nhỏ trong đó, tuy lặng lẽ và còn khiêm tốn. Chúng tôi được biết có nhiều Ban Khuyến học dòng họ đã tập hợp được một số bà con hội viên Khuyến học của dòng họ, nguyên là cựu giáo chức hoặc cán bộ khoa học nghỉ hưu, để nêu lên yêu cầu thảo luận góp ý này. Sự hưởng ứng sốt sắng của bà con đã đem lại một số kết quả ban đầu, các nội dung góp ý đã được chuyển lên cấp trên. Chúng tôi may mắn được tiếp cận với một số góp ý này của bà con ta, và thấy nhiều nội dung khá tốt.

   Nhân dịp QH đang tiếp tục thảo luận về chủ đề trên, chúng tôi xin trích một vài nội dung góp ý nói trên của bà con HĐVN, và đề nghị BBT thẩm định để có thể chuyển vào nội dung website của chúng ta (và có thể cả Bản tin hoạt động thường kỳ). Mục tiêu của việc làm này là để cộng hưởng với tiếng nói chung của xã hội, của toàn dân trước một vấn đề Quốc sách, thể hiện rõ hơn trách nhiệm công dân của cộng đồng HĐVN chúng ta. Ngoài ra, đây cũng là dịp để bà con được củng cố lại, được suy ngẫm thêm những hiểu biết cơ bản về GD&ĐT, một lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, liên quan đến mọi gia đình, mọi dòng họ, không có ai có thể bàng quan. Và từ đó còn có thể gợi ra nhiều ý tưởng mới khác nữa có ích cho GD&ĐT, cho GD gia đình, cho Khuyến học dòng họ, mà bà con ta có thể tiếp tục đóng góp thêm, có thể kiểm nghiệm và vận dụng vào thực tiễn. (Tất nhiên là phải đi từ sự khởi động của lãnh đạo Hội đồng dòng họ và sự hướng dẫn của BBT).

   Những nội dung chúng tôi tập hợp trong bài viết gửi kèm tất nhiên là chưa đầy đủ, chưa toàn diện và chưa đủ độ sâu sắc cần thiết, nhưng đều thể hiện tâm huyết của bà con ta. Nếu đề xuất này được các ông chấp nhận thì mong các ông biên tập lại và chia thành nhiều kỳ, hoặc chỉ dùng phần nào thích hợp, để đăng tải cho trang mạng.

                                  Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc sức khỏe ! 

                                                    12/6/2018 – Hữu Minh    

 

      Cộng đồng Họ Đỗ Việt Nam đồng hành

     với GIÁO DỤC đổi mới   !

 

          

    Phần 1- Cùng thảo luận vê Luật Giáo Dục sửa đổi.   


                                                                        
  Hữu Minh                                    

                                                         (Dòng họ Đỗ Hữu – Hậu Lộc, TH)

 

                        1- Về Mục tiêu Giáo dục.

 

       Dự thảo luật giáo dục sửa đổi nêu : “Mục tiêu GD là phát triển toàn diện con người Việt Nam, về đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; phát huy tốt nhát tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu hội nhập quốc tế”.

   Có lẽ đây là một phác thảo mẫu hình Con Người Việt Nam Mới mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế của đất nước đòi hỏi từ sự đáp ứng của nền giáo dục (GD), và đối tượng trực tiếp đầu tiên phải hướng tới là đông đảo người học.

  Nội dung mục tiêu GD được nêu thành 3 phần (cách nhau bởi dấu ;)  nhằm xác định một cách đầy đủ các đòi hỏi với Con Người Việt Nam Mới. Phần trước tiên là nêu ra những đòi hỏi chung nhất và toàn diện nhất (... là phát triển toàn diện con người Việt Nam, về đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội). Đó là những điều kiện hợp thành (thành tố) tối thiểu và cơ bản nhất tạo nên Con Người Mới, để chủ thể GD (người học) sau quá trình được GD có thể lập thân, lập nghiệp và phục vụ cộng đồng. Hai phần tiếp theo là sự nhấn mạnh thêm những điểm cốt lõi và bổ sung của các đòi hỏi chung (thành tố) đã nói trên (nhân cách, phẩm chât, năng lực, khả năng sáng tạo,...) để các chủ thể có thể  tiếp tục nâng cao và phát huy tốt đồng bộ các thành tố đó.

    Song : Một số khái niệm được sử dụng ở đây chưa được cân nhắc chuẩn xác nên có thể gây ra nhiều cách hiểu lan man, không giống nhau, chưa qui tụ về một tiêu điểm. Cụ thể là có nhiều khái niệm thành phần mà nội hàm lại không độc lập tương đối, có sự trùng lặp một phần, hoặc bao hàm trong nhau, và lại có cả một số khái niệm đang được hiểu khác nhau,....

           Do đó xin đề nghị thay đổi lại cho hợp lý hơn như sau :

1.1-         Nên thay khái niệm tri thức bằng khái niệm trí tuệ (trong diễn đạt

mục tiêu GD)  thì đúng hơn, và diễn đạt thành : Mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện con người Việt Nam, về đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, ...

  Vì cái lẽ sau đây : Tri thức (những hiểu biết) đúng là một nhu cầu, một điều kiện để con người có thể sống, lập thân, lập nghiệp, mà tri thức thì mênh mông vô hạn, bao chứa nhiều lĩnh vực. Nhưng muốn có được tri thức thì trước hết con người phải có công cụ tư duy, đó là trí tuệ (khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định). Có thể ví trí tuệ là cái “cần câu” để “câu” được tri thức. Có được trí tuệ thì ắt sẽ tìm được tri thức, về bất cứ lĩnh vực nào mà con người cần đến.

  Nhưng không rõ vì lý do gì mà trong các phần sau, văn bản luật lại dùng khái niệm trí tuệ thay cho tri thức, như tôi vừa đề nghị trong phần mục tiêu GD ?

2.1- Nên thay khái niệm lý tưởng chủ nghĩa xã hội bằng khái niệm mục tiêu tiến bộ xã hội, và diễn đạt thành ... , trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, ... Vì cái lẽ sau đây :

  Lý thuyết chủ nghĩa xã hội (CNXH) ra đời đã gần 2 thế kỷ (1848, từ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản), qua các biến động kinh tế - xã hội – chính trị  trên phạm vi toàn cầu thì đến nay nó không còn được coi là một lý thuyết phát triển duy nhất có sức thuyết phục mạnh mẽ và rộng khắp như trước đây nữa, và càng không được chấp nhận là Lý tưởng, tức là mục đích cao nhất và tốt đẹp nhất nữa  ! Khái niệm CNXH đang được hiểu khác nhau và được hiện thực hóa không giống nhau, không đúng như lý thuyết ban đầu nữa, kể cả ở Việt Nam. Cái lý thuyết phổ quát hiện nay là Tiến bộ xã hội (giầu, dân chủ, công bằng, văn minh, phát triển bền vững, ...) đang có sức cổ vũ và điều chỉnh định hướng phát triển cho hầu hết các quốc gia, kể cả Việt Nam, chứ không phải là lý tưởng CNXH mà chúng ta nói. Thêm nữa, gọi là mục tiêu thay cho lý tưởng thì thực tế và khả thi hơn, dễ nghe hơn chứ không gượng gạo. Chúng ta nêu lý tưởng CNXH trong mục tiêu GD Việt Nam là chưa phù hợp với xu thế chung trong hội nhập quốc tế về GD. Ngay người dân Việt Nam cũng chưa hiểu được thấu đáo, chưa thể đồng tình, huống chi bạn bè thế giới khi họ cần tìm hiểu, nghiên cứu về GD Việt Nam !

3.1- Nên sắp xếp lại các khái niệm được nêu tiếp theo để chỉ các thành tố khác và các thành tố bộ phận của con người mới mà mục tiêu GD đang xác định : nhân cách, phẩm chất, năng lực, tiềm năng, khả năng sáng tạo.

 Ở đây đang có một sự lẫn lộn nội hàm các khái niệm nêu trên, chưa phân biệt được khái niệm nào là bao trùm, khái niệm nào là bộ phận.

  Chúng ta cần thống nhất lại cách hiểu phổ thông về các khái niệm này trong văn bản luật như sau :

 Phẩm chất : là cái làm nên giá trị (có ích, có ý nghĩa, đáng quý), ở đây là  về mặt GD đối với một con người. Ví dụ phẩm chất về trí tuệ, phẩm chất về đạo đức,... Đây không phải là một khái niệm chỉ thuộc phạm trù đạo đức, như nhiều người đang hiểu nhầm lẫn. Ở các phần sau của văn bản luật chúng ta vẫn bắt gặp lại khái niệm phẩm chất, nhưng không được sử dụng đúng như nội hàm nêu trên ?

 Nhân cách : là tư cách cá nhân của con người, tức là cách ăn ở, cách cư xử, biểu hiện phẩm chất đạo đức của con người. Theo cách hiểu này thì  nhân cách là thuộc phạm trù đạo đức, nhưng đó không phải là nét nổi trội tiêu biểu cho đạo đức, nên không cần phải nhấn mạnh thêm như văn bản.

 Nhưng còn có một cách hiểu khác nữa về Nhân cách mà nhiều nhà giáo dục cũng đã có bàn đến và sử dụng. Đó là cách hiểu và vận dụng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người bàn về GD. Theo đó thì nhân cách là sự tổng hòa, gắn kết giữa Đức (đạo đức) và Tài (năng lực) trong mỗi con người, và đó mới chính là sản phẩm cơ bản và tổng thể của GD. Với cách hiểu này thì Nhân cách có nội hàm cơ bản hơn, bao trùm hơn so với cách hiểu thứ 1, nó giữ vai trò trung tâm trong mục tiêu GD, và mới đáng nhấn mạnh thêm.

  Vậy thì trong văn bản luật này khái niệm Nhân cách được hiểu và sử dụng theo nội hàm nào ? vì ở các phần sau chúng ta vẫn gặp lại khái niệm trên, trong văn cảnh không giống hoàn toàn như ở phần mục tiêu GD.

  Năng lực : là khả năng thực hiện tốt một loại hoạt động nào đó, tức là có đủ điều kiện về phẩm chất tấm - sinh lý, về trình độ chuyên môn (kiến thức, kỹ năng ...) để đáp ứng tốt được đòi hỏi của hoạt động đó.

  Tiềm năng : là năng lực còn tiềm ẩn, chưa bộc lộ ra, ...

  Năng lực sáng tạo (không nên gọi là khả năng sáng tạo vì sẽ gây nhiễu  khái niệm) : là năng lực tạo ra dược những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần. Đây là loại năng lực đặc biệt, nổi trội, đáng quý nhất.

  Hai khái niệm Tiềm năng và Năng lực sáng tạo nên coi là khái niệm bộ phận của khái niệm Năng lực, và có thể không cần phải nhấn mạnh thêm về tiềm năng. Nhưng mặt khác, chúng ta lại nên bổ sung kèm theo khái niệm năng lực sáng tạo là năng lực tự học, vì năng lực tự học mới là cái gốc đẻ ra năng lực sáng tạo và các năng lực khác (như trong NQ 29/TW về Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT cũng đã nêu như vậy) .

   Không chỉ riêng trong phần mục tiêu GD, trong các phần khác cũng có hiện tượng tương tự về khái niệm và thuật ngữ. Vì vậy trong văn bản luật nên có (nếu chưa có) phụ lục giải thích thuật ngữ đã được sử dụng. Và quan trọng là chỉ được dùng những khái niệm có nội hàm chuẩn xác và đã được hiểu thống nhất.

     Ở đây xin đề nghị sắp xếp lại sự diễn đạt phần Mục tiêu GD. Tôi đề nghị 2 cách diễn đạt lại như sau : 

  Cách thứ nhất, nếu chỉ coi Nhân cách là một đòi hỏi bình thường (tư cách cá nhân, như cách hiểu dân gian) thì diễn đạt lại MTGD là :

  Mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện con người Việt Nam, về đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với mục tiêu chung độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; hình thành và bồi dưỡng năng lực và một số phẩm chất cơ bản; phát huy tốt nhất năng lực tự học suốt đời và năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quóc và yêu cầu hội nhập quốc tế. 

   Cách thứ hai, coi Nhân cách là một đòi hỏi căn cốt nhất, là một thành tố trung tâm của MTGD (là sự tổng hòa, gắn kết chặt chẽ giữa Đạo đức và Năng lực, như cách hiểu của chủ tịch HCM) thì diễn đạt lại MTGD là :

   Mục tiêu GD là tạo dựng Nhân cách cho con người Việt Nam, trung thành với mục tiêu chung độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; được phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; hình thành và bồi dưỡng một số phẩm chất cơ bản, và đặc biệt là phát huy được tốt nhất năng lực tự học suốt đời và năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu hội nhập quóc tế.

  

  Mục tiêu GD đã luôn được coi là nội dung cốt lõi nhất, chủ yếu nhất, quan trọng nhất của Luật GD. Đây là cơ sở lý luận, là điẻm xuất phát để xác định các yếu tố khác của nền GD : nội dung, phương pháp, cơ cấu hệ thống, đội ngũ, quản lý nhà nước, đánh gía, …Đây cũng là căn cứ chính yếu để soi xét lại, đối chiếu lại những nội dung then chốt của Nghi quyết 29/TW về đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT mà chúng ta đang triển khai. Vì vậy chúng tôi coi đây là một nội dung trọng  tâm trong thảo luận góp ý về Luật GD sửa đổi lần này.

 

 

2-    Về hệ thống giáo dục quốc dân.

Văn bản luật đã trình bày hệ thống giáo dục quốc dân từ GD mầm

non lên đến GD đại học là theo tiêu chí trình độ (trình độ GD, trình độ đào tạo). Nhìn tổng thể thì có thể xem là hợp lý, nhưng đó là về mặt hình thức. Còn nếu xem xét bản chất hơn, tức là nhìn vào tính chất, vào mục tiêu đào tạo của các ngành/bậc/cấp học thì cần phân biệt hai mảng với hai mục tiêu khác nhau : GD phổ thông (dân trí) và GD nghề nghiệp (nhân lực). Nếu nhìn thêm vào hai ngành/bậc học cao nhất (GD nghề nghiệp và GD đại học) thì lại càng thấy rõ tính hình thức của sự phân bậc này, vì đã làm lu mờ hẳn tính chất nghề nghiệp của GD đại học. Thực tế là cả hai ngành học này đều có mục tiêu  đào tạo là nguồn nhân lực, tức đào tạo nghề nghiệp, nội dung đào tạo đều mang đậm tính chất nghề nghiệp.  Nếu tách ra như vậy thì buộc phải hiẻu GD đại học không phải là GD nghề nghiệp, rất vô lý !  Nội dung đào tạo của trường đại học nào về bản chất mà chả là đào tạo nghề nghiệp, dù trường đó có thiên về nội dung hàn lâm để ra làm nghề nghiên cứu khoa học. Sự phân tách ra thành hai ngành học riêng nhưng lại cùng có một mục tiêu đào tạo nghề nghiệp còn gây ra khó khăn lớn trong chỉ đạo, quản lý chuyên môn, nhất là khi tính đến yêu cầu liên thông giữa các trình độ.

  Đừng vì trót phân công trách nhiệm quản lý nhà nước với mảng các trường nghề cho Bộ LĐ,TB&XH mà lại cố tách riêng thành hai ngành đào tạo biệt lập là GD nghề nghiệp và GD đại học, rất hình thức như trong văn bản luật ! Đó là chưa kể đến những rắc rối khác từ sự phân công này, ví dụ đưa trình độ cao đẳng vào GD nghề nghiệp, khác với thông lệ quốc tế là coi CĐ là một bậc đào tạo đại học.

2.2- Nên chăng, vận dụng lại kinh nghiệm của Việt Nam trước đây và tham khảo mô hình GD của các quốc gia khác để cơ cấu lại hệ thống GD quốc dân sao cho hợp lý hơn. Chẳng hạn : GD mầm non & phổ thông - ứng với Bộ GD, và GD chuyên nghiệp & đại học - ứng với Bộ GD chuyên nghiệp (hoặc Bộ GD nghề nghiệp). Hoặc ghép tất tật thành GD&ĐT, có các bộ phận như đã nêu trên, và quy chức năng quản lý tất tật về một mối là Bộ GD&ĐT.

  Đối với mảng GD phổ thông có thể học theo Australia : vẫn để hai bậc học là Tiểu học và Trung học, ứng với giai đoạn GD cơ bản, từ lớp 1 đến hết lớp 6 hoặc 7, và giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp, từ lớp 7 hoặc lớp 8 đến hết lớp 12

.

3-    Quản lý nhà nước về GD.

 

  1.3-  Tuy quy định khá chặt chẽ và có vẻ toàn diện các nội dung quản lý

nhà nước về GD, nhưng chưa nêu rõ và hình như cố ý né tránh nội dung quản lý về các điều kiện phát triển của GD, đặc biệt là Tài chính và Nhân lực, nhất là với mảng GD phổ thông trở xuống ! Tại sao vậy ?  Nhà nước lập ra các cơ quan quản lý GD các cấp, từ Bộ GD&ĐT trở xuống là để thay mặt Nhà nước thực thi chức năng quản lý này. Nhưng trên thực tế thì quyền hạn của các cơ quan QLGD các cấp này rất hạn chế, nhất là về tài chính và nhân sự. Không nói đến mảng GD đại học đã có những quy định khá rõ theo hướng tích cực trong luật GD đại học sửa đổi. Còn với diện đại trà khá rộng lớn thì chỉ trừ mặt chuyên môn, còn mọi thứ đều bị chính quyền, có khi còn cả cấp ủy Đảng nữa, thâu tóm, quyết định. Thử hỏi, hoạt động GD, hay bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào, muốn phát triển tốt mà các cấp QL chỉ có được trong tay các đường hướng, chủ trương, chính sách,… còn các điều kiện thì hoàn toàn bị động, phải trông chờ, xin xỏ, nhất là về hai nguồn lực cơ bản là nhân lực và tài chính ?

  Thêm nữa, không kể các cơ sở GD ngoài công lập, tuy luật có nêu yêu cầu tăng cường quyền tự chủ trong QLGD (nói chung, chứ không riêng với GD đại học), nhưng làm sao mà thực hiện cho được khi trong tay các cấp QL chỉ có các giấy tờ văn bản ?!  

   Do đó cần đề nghị phải quy định rõ quyền hạn của cơ quan QLGD các cấp, phải trao cho họ thực quyền thì mới mong làm chuyển biến được công tác QLGD theo đòi hỏi đổi mới GD (còn chuyện chống tham nhũng quyền lực và tiền tài trong QLGD lại là chuyện khác - chuyện cơ chê QL lạc hậu, chuyện lựa chọn cán bộ QL cẩu thả, …!). Cần phải luật hóa quy trình sử dụng tài chính và quản lý nhân sự theo hướng chính quy, bài bản, chống tùy tiện theo từng địa phương.

   Cũng cần phải nói thêm về điểm mới vừa nêu ở trên : Tăng cường quyền tự chủ trong QLGD (mà hình như ở luật cũ chưa có ?).

   Ai cũng hiểu quản lý nhà nước là phải quản lý bằng pháp  luật, ở đây là các luật (và các văn bản dưới luật) về lĩnh vực GD (luật GD, luật GD đại học, luật GD nghề nghiệp). Nhưng hình như chúng ta chỉ hiểu và nhấn mạnh một mặt là thực thi luật, tức nặng về áp đặt từ trên xuống. Còn mặt thứ hai là thực hiện Dân chủ trong GD và QLGD, nhằm tạo ra động lực bền vững từ bên trong (nội lực) cho mặt thứ nhất thì chúng ta lại coi nhẹ hẳn hoặc quên mất ! Hai mặt này phải đi đôi với nhau thì mới mang lại thành công cho các chính sách GD mà các luật GD đã định hướng, mới nâng được chất lượng và hiệu quả GD lên một cách thực chất nhằm mang lại lợi ích thiết thực về GD cho người dân. Đây là một quy luật của mọi hoạt động thực tiễn, chứ không riêng gì với GD, vì ở đó con người bao giờ cũng là chủ thể của hoạt động, nội lực của chủ thể mới là yếu tố quyết định sự thành bại của hoạt động. Chủ thể trong hoạt động GD bao gồm một lực lượng đông đảo người học, người dạy, người QL, … và nhiều đối tượng liên quan.

   Luật GD sửa đổi lần này đề cao Quyền Tự Chủ chính là nhằm đáp ứng mặt thứ hai nói trên. Tăng cường quyền tự chủ phải được hiểu là với toàn bộ hoạt động GD, với toàn ngành GD, nhưng quan trọng nhất và chủ yếu là phải bắt đầu từ các cơ sở nhà trường, và từ hoạt động QL của các cơ quan QLGD. Đề nghị cần mở rộng Quyền tự chủ cho toàn ngành, chứ không phải chỉ với GD đại học, nhưng có mức độ thích hợp với từng cấp/bậc học. Đương nhiên Quyền tự chủ phải đi liền với Tự chịu trách nhiệm.

 2.3- Phải thay đổi cơ bản cách QL chất lượng GD – khâu trung tâm và cũng là công việc khó nhất trong hoạt động QLGD. Cách QL chất lượng GD như hiện nay còn nặng tính hình thức, chưa đi sâu được vào bản chất của việc dạy và học. Trong đó điểm tắc nghẽn lớn nhất là đánh giá chất lượng “đầu ra”, do chưa biết cách đánh giá đúng thực chất, ngoài lý do chưa trung thực, bệnh thành tích !

3.3- Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến yếu kém trong QLGD là chất lượng đội ngũ cán bộ QLGD rất bất cập về cả năng lực và đạo đức, do sự tuyển chọn không nghiêm ngặt, tiêu cực ! Đề nghị luật GD phải luật hóa cả tiêu chuẩn và quy trình tuyển chọn này, kể từ  những người đứng đầu ngành GD ở cấp TW (Bộ trưởng, các Thứ trưởng) và cấp tỉnh, huyện !

4.3- Nếu xác định nhiệm vụ trung tâm của hoạt động QLGD là quản lý chất lượng GD thì cần phải tăng cường hệ thống Thanh tra GD các cấp, coi thanh tra chuyên môn là công việc chủ yếu. Cần đầu tư cho bộ phận này những chuyên gia giỏi về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, coi họ là lực lượng nòng cốt ở các cơ quan QLGD (như lâu nay là chưa được).

 

 

                4- Về Nhà giáo và cán bộ QLGD.

 

1.4-   Nhà giáo có sứ mệnh cao cả là tổ chức hiện thực hóa Mục tiêu GD đối với các thế hệ người học (hiểu rộng ra là với toàn dân, toàn xã hội). Vì vậy trước hết nhà giáo phải là những con người hội đủ được những tố chât cơ bản của mẫu hình Con Người Việt Nam Mới mà mục tiêu GD đã xác định, nổi lên trên hết là đạo đức và trí tuệ, với những phẩm chất vượt trội hẳn (ít ra là không kém) so với người không làm nhà giáo. Ngoài ra, ở nhà giáo phải có thêm những phẩm chất và năng lực đặc thù, đáp ứng tốt nhất cho việc thực thi sứ mệnh cao cả nói trên.

  Hơn bất cứ nghề nào, với nghề dạy học thì hai tiêu chí cơ bản đầu tiên là đạo đức và trí tuệ phải tốt thực sự, đó cũng là 2 tiêu chí cốt lõi nhất và đặc trưng nhất của nghề dạy học, ai không đạt thì dứt khoát loại bỏ. Về tiêu chí đạo đức nhà giáo thì nổi lên trước hết là lòng nhân ái sâu đậm, đặc biệt là lòng yêu thương với lớp trẻ, và tiếp ngay sau đó phải là sự mẫu mực về lối sống. Về tiêu chí trí tuệ, biểu hiện ra ở năng lực, thì biểu hiện đặc trưng nhất là năng lực sư phạm (ở mức cao là tài năng sư phạm). Đó là sự gắn kết giữa tri thức và kỹ năng sư phạm, trong đó đòi hỏi cốt lõi nhất là phải biết tạo dựng cho học trò năng lực tự học, tự giáo dục. Đương nhiên bản thân nhà giáo đã và đang phải sở hữu được một năng lực tự học, tự giáo dục ở bậc “siêu” hơn rồi (thể hiện dễ thấy nhất là ở tầm trí tuệ và vốn tri thức chuyên môn – nghiệp vụ cao hơn hẳn trình độ được đào tạo ban đầu từ trường Sư phạm, và liên tục được nâng cao). Ngày nay, nếu một người thầy mà không biết tự học (tự giáo dục) và không biết dạy cách tự học (tự giáo dục) cho học trò thì không nên và không thể tiếp tục làm nhà giáo được nữa ! Đây phải được coi là một tiêu chí cứng, không được châm chước. Phải quán triệt tiêu chí này trong đào tạo sư phạm, trong bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, trong đánh giá chất lượng nhà giáo, trong tuyển dụng và sàng lọc đội ngũ nhà giáo. Hiện nay trong cả 4 khâu trên đều đang không thật sự coi trọng đòi hỏi cứng nói trên, với đầy đủ các lý do khách quan và chủ quan, nên tất yếu dẫn đến sự bất cập toàn diện theo chiều hướng đi xuống về chất lượng đội ngũ nhà giáo !

2.4- Việc đánh giá chất lượng chuyên môn của đội ngũ nhà giáo (cùng với việc đánh giá chất lượng GD) là một khâu quan trọng nhất trong hoạt động QLGD. Nhưng cũng là khâu đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng nhất, mà chưa có cách tháo gỡ hiệu quả và đáng tin cậy. Chất lượng và hiệu quả chuyên môn (giáo dục và giảng dạy) là nội dung trọng tâm trong việc đánh giá chất lượng nhà giáo nói chung. Muốn đánh giá chất lượng chuyên môn nói trên thì tất yếu phải hướng vào sản phẩm “đầu ra” mà soi xét.  Con người mới do GD đào tạo ra thường được coi là sản phẩm (“đầu ra”) của GD, nhưng thực ra thì chính các tố chất của con người mới đó, như  đã nêu trong MTGD, mới là sản phẩm đích thực và trực tiếp của GD (mà Chủ tịch HCM vẫn nói gọn lại : Sản phẩm của GD là Nhân cách). Nhưng sản phẩm này (các thành tố của con người mới) đa phần lại tồn tại chủ yếu ở dạng phi vật chất, và hơn nữa nó lại là kết quả từ lao động nghiệp vụ của cả một tập thể, chứ không phải chỉ một người. Hiện nay việc đánh giá “đầu ra” này của GD đang nặng về hình thức, chưa đi vào thực chất (như thi đua, thao giảng, sáng kiến kinh nghệm, tỷ lệ ngụy tạo về điểm số, về các giải thưởng, về học sinh lên lớp, …), có khi chỉ là cảm tính, do chưa có cách vượt qua được nhiều lúng túng, chẳng hạn :

- Làm thế nào để vật chất hóa được sản phẩm GD mà đánh giá ? Lâu nay thì mới là các bài kiểm tra (viết, miệng, công trình nghiên cứu, động tác, vật phẩm lao động, hành vi đạo đức, …). Như vậy có phiến diện và đơn điệu chăng, và còn có thể là gì nữa ?

- Làm thế nào để cá thể hóa được sản phẩm GD đúng với từng địa chỉ tác giả có công sinh ra nó, tức là tách bạch được phần đóng góp của từng nhà giáo ? (với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên tiểu học thì có vẻ như là có  phần thuận lợi hơn, vì mỗi người đều đã được gắn với 1 lớp ?).

- Làm thế nào để đối chiếu, so sánh được trình độ “đầu ra”  với trình độ “đầu vào”, khi mà lâu nay chưa hề có nề nếp khảo sát đầu năm học và đánh giá cuối năm học, thật khoa học và thuận tiện ? …

 Vì vậy luật GD (và các văn bản hướng dẫn thi hành luật) cần xác định rõ nội dung và hình thức đánh giá chất lượng nhà giáo (và chất lượng GD) ?

3.4- Bên cạnh những quy định về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo, thì trong luật cũng rất nên có (nếu chưa có) những điều cấm không được làm đối với nhà giáo, những quyền hạn của nhà giáo trong thực thi trách nhiệm, chẳng hạn :

- Nhà giáo có quyền được nhận chỉ những học sinh đúng trình độ “đầu vào”, có toàn quyền đánh giá chất lượng học sinh theo đúng tiêu chuẩn, không bị bất cứ áp lực nào.

- Nhà giáo phải có trách nhiệm đầy đủ về sản phẩm đào tạo của mình, nếu chưa đạt chất lượng thì phải làm lại, làm bù (dưới hình thức phụ đạo, kèm cặp thêm, …). Và do đó nhà giáo không được tổ chức dạy thêm thu tiền dưới bất cứ hình thức nào. Nhà trường phải có trách nhiệm tổ chức việc khắc phục này để nhà giáo được thực thi trọn vẹn trách nhiệm chuyên môn của họ. Về điểm này, tôi và nhiều nhà giáo không đồng tình với thông tư 17 của Bộ GD&ĐT về việc dạy thêm, thậm chí có ý kiến đề nghị xóa bỏ thông tư này !

- Nhà giáo không được ứng xử thô bạo, phản sư phạm, trước hết là trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn, như mắng nhiếc, ăn nói thô lỗ, tục tằn, bạo hành với học trò.   …

4.4- Cán bộ QLGD các cấp phải thực sự có năng lực chuyên môn và năng lực QL cái chuyên môn đó, gọi nôm na là năng lực kép. Năng lực quản lý GD vẫn được hiểu là biết  tổ chức và điều khiển các hoạt động GD. Do đó cán bộ QLGD phải là những nhà giáo trưởng thành lên từ cơ sở. Đặc biệt đối với cán bộ chỉ đạo chuyên môn, cán bộ thanh tra chuyên môn thì nhất thiết phải là những nhà giáo giỏi đã kinh qua chuyên môn giáo dục và giảng dạy từ các nhà trường. Thực trạng hiện nay là ở nhiều nơi còn rất bất cập về trình độ, thậm chí có cán bộ QLGD chưa hề làm nhà giáo, chưa hề đi dạy !...

Cần có cơ chế chặt chẽ trong việc tuyển chọn đội ngũ này. Riêng đối với vị trí người đứng đầu (hiệu trưởng, trưởng phòng, giám đốc Sở, Bộ trưởng) thì nên áp dụng cơ chế thi tuyển, tranh cử, lấy phiếu tín nhiệm để thay thế và bổ sung cho qui định bổ nhiệm có tính áp đặt, không dân chủ, nên thường là không chuẩn xác, không chọn đúng được người tài !

 

4-    Một vài nội dung khác.

 

1.4-         Về lương của nhà giáo.

Hoan nghênh qui định của luật về điều này : lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống lương hành chính, sự nghiệp. Đó là một quy định hoàn toàn phù hợp với vị trí  Quốc Sách Hàng Đầu của GD, xứng đáng với vai trò quyết định của nhà giáo trong việc bảo đảm chất lượng GD. Qui định này nếu được thực hiện thì sẽ tạo thêm động lực làm việc tốt hơn cho đội ngũ đông đảo nhà giáo các cấp, sẽ góp phần quan trọng cải thiện mức sống của số đông nhà giáo hiện nay. Nhưng để triển khai được suôn sẻ quy định này thì cần có giai đoạn quá độ, với các bước đi thích hợp, chứ không thể làm đồng loạt ngay một lúc được. Vì cái lẽ sau đây : hiện nay chất lượng GD và trình độ đội ngũ nhà giáo đang còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với sự ưu đãi đó của xã hội, nên có thể chưa được sự đồng thuận của nhân dân và cán bộ các ngành khác. Chúng ta phải phấn đấu nâng dần chất lượng GD và trình độ nhà giáo lên một cách thực chất để có cơ sở đưa dần từng bộ phận nhà giáo vào khung lương ưu đãi đó. Chẳng hạn lần lượt theo các đối tượng sau : trước hết là bộ phận tinh hoa, tiếp đến là bộ phận đạt trình độ trên chuẩn, rồi đạt chuẩn, ... và sau đó mới là đại trà.

2.4- Về giáo sư (GS), phó giáo sư  (PGS).

   Luật quy định : GS, PGS là chức danh của các nhà giáo đang giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở cơ sở GD đại học. Đây là một quy định chuẩn xác, phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển GD đại học Việt Nam và xu hướng của thế giới. Nội dung quy định là rất rõ ràng, nhưng cũng cần phải hiểu cho thống nhất thì mới chống được tệ nạn lách luật để cố ý thực hiện không đúng. Ví dụ văn bản hướng dẫn thực hiện cần nêu ra những trường hợp không đúng đối tượng, như không phải là nhà giáo, không còn là nhà giáo, ngụy tạo các điều kiện, ..., hoặc cần giải thích rõ Thế nào là có bài nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí khoa học quốc tế đủ uy tín,  Hình như đã có trường hợp vin vào nhiều lý do bất khả kháng (như bảo vệ bí mật quốc gia chẳng hạn với các chuyên ngành an ninh, quân sự, xây dựng Đảng, ...) để né tránh đòi hỏi này, được không ?...

   Qui định nói trên rất cần được ban bố và thực hiện ngay để góp phần chấn chỉnh tình trạng quá lỏng lẻo và khá tùy tiện trong việc xét và công nhận các học hàm nói trên. Hậu quả để lại cho đất nước là đã tạo ra đội ngũ trí thức cấp cao giả, quá non yếu, không đúng tầm, không đúng với chuẩn chất lượng cần có. Trình độ của khá nhiều người trong đó quả là không xứng đáng với ngôi vị khoa học được phong, vì phần đóng góp của họ, trước hết là trong khoa học, quá ít ỏi hoặc chưa có gì  đáng ghi nhận, và hơn thế chưa được thế giới công nhận và nể phục ! Nhân dân rất coi thường, giới khoa học cũng rất không tín nhiệm thật lòng trước hiện tượng giả dối này. Vì vậy Nhà nước đang yêu cầu ngành GD phải rà soát và chấn chỉnh lại việc này.  Chúng ta hoan nghênh thái độ đó của Chính phủ.      Nhân đây chúng ta kiến nghị :

 - Các ứng viên hiện nay và sau này hãy nghiêm túc xem lại mình trước khi đăng ký, nếu ai đã trót đăng ký thì nên tự giác rút lui, không đăng ký nữa, khi tự thấy mình chưa đúng tầm và chưa đủ chuẩn.

– Các đối tượng đã trót được công nhận cũng nên làm tương tự. Nếu không đúng đối tượng, hoặc không đủ tiêu chuẩn, hoặc không còn làm nhà giáo nữa thì hãy trả lại học hàm cho xã hội (mà Hội đồng chức danh được là đại diện). Và từ sau đó cũng tự giác không sử dụng chức danh này trong giao dịch dân sự, công vụ.

– Nếu các loại đối tượng nói trên không tự giác thực hiện thì  Hội đồng chức danh phải áp dụng biện pháp cứng rắn để xóa tên trong danh sách hoặc thu hồi Bằng chứng nhận, không thể nhân nhượng hữu khuynh.

– Hệ thống báo chí cần hậu thuẫn cho việc thực thi quy định này, đấu tranh mạnh mẽ với tệ gian dối, háo danh, cơ hội trong khoa học,...

 

    Do quỹ thời gian quá hạn hẹp, và do không có văn bản gốc (tức luật cũ cần sửa đổi) nên chúng tôi đã gặp khó khăn lớn trong nghiên cứu để có thể đóng góp nhiều hơn. Và do vậy trong các nội dung góp ý có thể có sai sót, tôi mong được thông cảm và trao đổi lại trên các diễn đàn !

 

                                                            Ngày 6 tháng 5 năm 2018

                                                                         H M

               

 

    Phần 2-    Cùng góp ý về Luật Giáo dục đại học sửa đổi (Đăng tiếp kỳ sau)      

                                                           


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn