Thứ năm, 15/11/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1595
mod_vvisit_counterHôm trước1545
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA ( XVIII) E-mail
29/07/2018

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XVIII

Sự tích Trưng Vương

(Sách chép bên ngoài sử ký vùng Lĩnh Nam)
Trích trong Ngọc Phả truyền thư của
từ đường họ Nguyễn

Lại nói quận Giao Chỉ về sau bị Bắc quốc đưa các quan Thái thú sang cai trị gồm 119 năm. Lúc đó Tô Định làm Thái thú tham ác, tàn hại, nhân dân khổ cực vô cùng. May có chị em nhà họ Trưng là dòng dõi đời Vua Hùng thứ 18, (Trưng chị tên là Chắc, Trưng em tên là Nhì) phối hợp với Thi Sách, bầy mưu giết Tô Định. Thi Sách cũng dòng dõi Hùng Vương, sinh tại thành Chu Diên, huyện Vũ Giang. Trưng chị nói Thi Sách về bản quán dấy binh, lập thành trì, thu phục hào kiệt, chờ thời cơ đánh Tô Định. Mặt khác, chị em họ Trưng chiếm giữ vùng Hát Môn 3 cửa sông, đắp lũy mộ quân, cùng nhau phối hợp, Không may Thi Sách canh phòng lỏng lẻo để cho Tô Định tập kết giết mất. Tô Định tìm chị em họ Trưng không thấy, đem quân về Lạng Giang, Trường Khánh, Vũ Ninh để đánh Giao Chỉ. Lại nói: Tô Định sáng sau đứng trước hàng quân, thấy hai chị em họ Trưng nhan sắc tuyệt vời, một người cười nghiêng trời lệch đất, tưởng như cung Nguyệt á Hằng, liền xông thẳng tới. Chị em họ Trưng thừa dịp xông lên, đúng là Tô Định một mình hai thế trận, thấy nguy cấp bỏ chạy. Chị em họ Trưng hợp sức đuổi đánh, giết. Đúng là nghiệm với lời đồng ca: Trời mưa nước chảy sông Đoài (Bà Trưng dấy binh ở Hát Môn thuộc tây Hà Thủy). Cỏ lên đè lúa cá trôi lềnh đềnh. Chữ Hán thảo là cỏ đè lúa (chữ Hán: hoà là lúa, chữ Hán ngư là cá. Ghép ba chữ Hán đó lại là chữ Tô), có ý là Tô Định phải chết. Chị em họ Trưng nghe biết, bàn rằng: “Chúng ta lập 3 đồn, mưu tính 3 việc: một là thủ hiểm là gốc, hai là dùng nữ sắc để mê hoặc, ba là trá hàng rồi thừa cơ địch trễ nải sẽ tiến công. Nếu mà hàng thực, hứa sẽ thần phục để cho Nam Bắc được yên ổn vô sự. Kế mưu định xong, quân họ Trưng nghinh chiến giáp Man thành, đánh nhau 4,5 lần, không phân thắng bại, sau trở về đồn. Quân Mã Viện đến, thấy treo cờ trắng viết 2 chữ “Thỉnh Hàng”. Viện thấy cờ hàng, vẫy quân dừng lại. Trưng sai sứ đưa thư nói: “Vì Tô Định tham tàn, dân chúng ghét mà nổi dậy. Trưng tôi không dám chống lại, xin đem vàng lụa cống vật để tránh khỏi nạn chiến tranh, nhà Vua an tâm cai trị”. Mã Viện nhận hàng thư, nghe theo, đem quân về Man thành. Trưng Vương cùng Mã Viện cắt đất lập ranh giới, dựng đồng trụ để Nam Bắc ức vạn năm được bình yên. Trưng Vương có câu thần nguyện rằng: “Nếu không ỷ trời dành cho Hán ở phương Bắc, quyết đem đồng trụ lập vững chãi đất phương Nam.”
Lại nói Trưng Vương lên ngôi Thiên tử từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần 3 năm (CT: Năm 40-43 đầu Công nguyên.), ở chiến trường 26 năm, nay mới thanh bình, xa giá đi chơi vùng Hy Sơn, trời bỗng nổi mây mù, không biết đã đi đâu? Quân sĩ về thành Hát Môn sức dân lập miếu thờ phụng, mọi người thương cảm, có làm bài thơ để thờ như sau (phỏng dịch):
Vụ Tiên (?) di tích bậc hồng nhan
Dũng lược thiên tư vượt thế gian,
Nửa khoé mày ngài, tân khách họp,
Một thanh gươm báu, giáp binh yên,
Tam chi giang khẩu muôn dòng rửa,
Bách Việt phong cương một sớm an.
ơn đức đương thời dân phụng tự
An linh nhuần toả khắp giang san!
Xét sử ghi: Thời Lý Anh Tông, Đại Định năm đầu bị hạn nặng, cầu các Sơn thần chưa ứng, mới lập đàn trước điện cầu mưa. Đêm mơ thấy hai người con gái xinh đẹp kỳ tú cưỡi ngựa sắt tới đàn, Vua kinh dị hỏi tên. Trả lời: Là chị em Trưng Vương theo khí trời làm mưa. Tỉnh mộng mới biết chị em Trưng Vương rất linh thiêng, nhân đó cung ứng dầu hương và tặng ban cúng tế. (... Mờ vài cột chữ, không dịch được).
Lại nói Tô Định giết người trong quận là Thi Sách, chị em họ Trưng chiếm cứ cửa sông Hát Giang, phía sau có rừng núi, phía trước có 3 nhánh sông hiểm trở, có thể dùng binh, bèn lập đàn tế trời đất, tuyển tướng mộ binh tại đó. Quân sĩ tôn Trưng chị làm Minh Chủ. Minh Chủ đăng đàn, cắt ngón tay lấy máu, trông Trời lạy Đất, thề 4 câu: Một là khôi phục nghiệp lớn Hùng Vương, hai là rửa hận cho chồng, ba là chém đầu Tô Định, bốn là ai tài giúp yên đất nước sẽ gả Trưng em và cho làm phò mã. Thề xong, thiên hạ hưởng ứng, mộ được trên 3 vạn quân, định ngày đuổi đánh Tô Định. Tô Định nghe tin cũng gấp rút tiến binh. Đi được nửa đường, chợt gặp đứa trẻ hát rằng: “Trời mưa nước chảy sông Đoài, cỏ lên đè lúa cá trôi lềnh đềnh.” (....đoạn này chữ mờ quá, không dịch được...). Trưng Vương nói: “Ta lấy nhan sắc dụ giặc, giặc bị sơ hở. Ta đánh mặt trước, em úp mặt sau, Tô Định ở giữa, một mình chịu 2 trận, thế tất nguy, chị em ta hết lòng hợp sức giết hắn.”
Lại nói chị em Trưng giết được Tô Định, thu phục 60 thành, xây dựng sơn hà, khao thưởng quân sĩ, lên ngôi thiên tử, hiệu nước An Nam. Tàn quân Tô Định về tâu Hán Vũ Đế. Hán Vũ Đế (CT:Hai Bà Trưng khởi nghĩa, năm 40-43. Triều đại Trung Quốc là Hán Quang Võ, niên hiệu Kiến Võ 16 chứ không phải là Hán Võ Đế, niên hiệu cuối cùng Nguyên Đình 6, thời Hậu Hán.) cả giận, sai Mã Viện đem binh mã .... (mất trang).
Thơ được mưa (phỏng dịch)
Trưng Vương thần nữ rất anh minh
Ngựa sắt giáng lâm xét tấc thành,
Một trận gió đưa, mưa thuận xuống,
Tiếp liền ba đợt nước mông mênh.
Mây lành đưa xuống hơi man mát,
Đồng hạn vươn lên lúa tốt lành,
Hiển ứng nổi tài danh bậc nhất
Công ơn Trưng thánh cứu sinh linh.
Lại nói hai vị Trưng Vương hoá thành tượng đá, nhan sắc tuyệt vời, thực do tay tạo hoá, không phải người làm được. Nguyên ở đáy sông Nhị Hà, bãi Đồng Nhân, đêm đêm thường có ánh lửa sáng xuyên suốt đến trời, mọi người cho là quái khí, thuyền bản không dám tới gần, thuyền nào neo đỗ, bỗng gió lớn nổi lên, làm bật cả neo. Sau đó có thuyền chài, một đêm đỗ ở bờ sông, thanh vắng, chợt nghe tiếng nói: “Thuyền ngươi nhiều cứt đái trẻ, nên đỗ ở hạ lưu, nếu đỗ ở thượng lưu, cứt đái trẻ rớt xuống, ta sẽ diệt mất giống”. Các thuyền chài lưới sợ hãi, hôm sau thưa lên, trên nghe biết, cho quân lính phụng nghinh không được. Sau người dân Đồng Nhân lấy vải đỏ rước lên thì được. Thấy tượng đá cao 7 thước, nặng ước trên 100 người mới khiêng được. Tượng đá đầu đội mũ chiến, mình mặc áo giáp, hai tay chỉ lên trời, một chân quỳ, một chân ngồi lên bông hoa sen bằng đá. Vua sức cho mệnh quan lập đền thờ ở xã trên sông đó thờ cúng.
Có bài thơ để thờ như sau (phỏng dịch):
Cũng là Nghiêu, Thuấn, đấng Trưng Vương
Cái thế anh hùng vạn cổ hương
Gươm báu giơ cao kinh Bắc tướng
Cờ hàng dụ khéo ổn Nam bang.
Nước Tàu từ đó chia đồng trụ,
Nghiệp đế từ đây vững thạch bàn.
Linh khí Nhị Hà ôm tượng đá
Đất Trời mãi mãi tiếng Trưng Vương.
Lại nói, Vua sai dựng tượng hai bà Trưng Vương thờ phụng ở đầu sông. Thuyền bè qua lại nếu không vào cầu khấn, gặp mưa gió bão đều rất kinh sợ. (…) Mọi người qua lại xuống ngựa, cúi đầu, rảo bước không dám trông càn. (…) Thuyền mảng đi lại đường nước có câu rằng: “... Ghềnh Tranh chẳng đanh như ghềnh Bà Đá.”(…) Miếu Trưng Vương oai linh trấn động tới Trời Đất.
Các vua Lê Chính Hoà, Chiêu Thống và sau này tặng phong là Trưng Vương Phật. Sắc tặng mỹ tự là: “Trưng Vương lưỡng vị, Quảng giáo viên minh, đại từ chí thiện, linh hựu điên hy, từ bi huyền diệu.”(…) Đổi điền bạ bãi Đồng Nhân thành hai xứ: Đại Từ, An Sinh, lấy 30 mẫu ruộng hậu ban xứ này làm xứ Viên Tịch. Trước đây phần bãi Đồng Nhân ngoài 800 mẫu, nội bạ Trung Hà xa kỵ và xa kỵ các xứ, cộng với Đại Từ, An Sinh, Viên Tịch các xứ.
*
sắc của các triều vua phong cho
hai bà trưng (bản dịch)

1) Sắc cho huyện Thanh Trì, xã bãi Đồng Nhân, các viên mục chức sắc là: Cái Đình Thứ, Hoàng Văn Cự, Nguyễn Tất Phương cùng toàn xã. Vì xã các ngươi phụng sự hai vị Trưng Vương chính là liệt nữ ở Lĩnh Nam, chân dung đã hoá đá, oai thần giúp đỡ cơ đồ, công lao đáng ban ân huệ. Nay tham chước lời bàn của triều thần, chuẩn cho xã các ngươi được phân chia các tạo lệ dân cùng hương binh thay nhau phụng tự linh từ. Và chuẩn cấp cho xã tiền mươi sáu mẫu đất Bãi Công để làm tiền dầu hương. Từ nay về sau thành lệ, để hàng năm thờ cúng, ngõ hầu làm cho quốc mạch được dài lâu. Hãy vâng theo.
Nay sắc.
Vĩnh Thịnh năm thứ 6, tháng Tám, ngày Mồng Mười.
2) Một sắc khác, nguyên văn chữ Hán là: “Đệ nhị Quảng giáo Viên Minh hộ quốc phúc dân diễn khánh linh thạch Trưng Vương Phật biến hoá vô cùng cảnh trưng mạc trắc, cứu dân độ thế, từ bi chi đức thịnh nguy nguy: ngự hoạn trừ tai tướng hựu chi công hoằng đãng đãng. Mạc phù Việt tô tăng long, hiển tặng chu quy tái cử. Vị tự vương tiến phong vương vị, lâm cư chính phủ, tôn phủ tôn xã, củng cố hùng đồ. Lễ hữu đăng trật, ưng gia phong, khả gia phong: “Đệ nhị Quảng giáo viên minh hộ quốc phúc dân diễn khánh phu hoá bảo thế thùy hoá linh thạch Trưng Vương Phật”. Cố sắc.
Vĩnh Thịnh lục niên, bát nguyệt, sơ thập nhật.
Dịch nghĩa sắc thứ hai trên đây:
Sắc: “Đệ nhị Quảng giáo Viên Minh hộ Quốc phúc dân diễn khánh, linh thạch Trưng Vương Phật”. Biến hoá không cùng, linh thiêng khó biết, cứu dân độ thế, đức từ bi rộng mênh mông. Chống nạn trừ tai, công giúp rập cao vời vợi. Phù trì nước Việt thịnh hưng, tiếp nối nhà Chu rực rỡ. Nay Tự Vương được phong Vua, lên ngôi báu, tôn phủ xã tắc, củng cố cơ đồ. Trong Lễ có việc thăng trật nên gia phong. Nay gia phong là: “Đệ nhị Quảng giáo Viên Minh hộ quốc, phúc dân diễn khánh, phu hoá bảo thê thùy hoá Linh thạch Trưng Vương Phật”. Nay sắc.
Vĩnh Thịnh năm thứ 6, tháng Tám, ngày mồng Mười.

Tổng cộng có 28 đạo sắc phong cho
Hai Bà Trưng qua các triều đại, niên đại như sau

(Từ sắc phong thứ 3, nội dung cơ bản tương tự như hai sắc trên, nên không dịch)

1. Năm Vĩnh Thịnh thứ 6, tháng Tám, ngày Mồng Mười (Sắc cho dân binh và thuế để thờ).
2. Năm Vĩnh Thịnh thứ 6, tháng Tám, ngày Mồng Mười (Sắc phong Đệ nhị Quảng giáo).
3. Năm Chính Hoà thứ 1, tháng Chạp, ngày Mồng Năm (Sắc phong Đệ nhất Quảng giáo).
4. Năm Chính Hoà thứ 5, tháng Hai, ngày Mười Hai (Sắc phong Đệ nhất Quảng giáo).
5. Năm Chính Hoà thứ 5, tháng Hai, ngày Mười Hai (Sắc phong Đệ nhị Quảng giáo).
6. Năm Vĩnh Khánh thứ 2, tháng Chạp, ngày Mồng Mười (Sắc phong Đệ nhất ?
7. Năm Vĩnh Khánh thứ 2, tháng Chạp, ngày Mồng Mười (Sắc phong Đệ nhị ?
8. Năm Cảnh Hưng thứ 1, tháng Bảy, ngày Hai bốn (Sắc phong Đệ nhất?
9. Năm Cảnh Hưng thứ 1, tháng Bảy , ngày Hai bốn (Sắc phong Đệ nhị?
10. Năm Cảnh Hưng thứ 28, tháng Tám, ngày Mồng Tám (Sắc phong Đệ nhất?
11. Năm Cảnh Hưng thứ 28, tháng Tám, ngày Mồng Tám (Sắc phong Đệ nhị?
12. Năm Cảnh Hưng thứ 44, tháng Năm, ngày Mười sáu (Sắc phong Đệ nhất?
13. Năm Cảnh Hưng thứ 44, tháng Năm, ngày Mười sáu (Sắc phong Đệ nhị?
14. Năm Cảnh Thịnh thứ 2, tháng Giêng, ngày Hai tám (Sắc phong Đệ nhất? viết trùng).
15. Năm Cảnh Thịnh thứ 2, tháng Giêng, ngày Hai tám (Sắc phong Đệ nhị?
16. Năm Chiêu Thống thứ 1, tháng Ba, ngày Hai hai (Sắc phong Đệ nhất?
17. Năm Chiêu Thống thứ 1, tháng Ba, ngày Hai hai (Sắc phong Đệ nhị ?
18. Năm Quang Trung thứ 4, tháng Tư, ngày Hai mốt (Sắc phong Đệ nhất?
19. Năm Quang Trung thứ 4, tháng Tư, ngày Hai mốt (Sắc phong Đệ nhị?
20. Năm Gia Long thứ 9, tháng Tám, ngày Hai mốt (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị).
21. Năm Minh Mệnh thứ 2, tháng Bảy, ngày Rằm (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị).
22. Năm Thiệu Trị thứ 2, tháng Tám, ngày Mồng Bảy (Sắc phong Nhân Hoàng Đế ngũ tuần đại khánh).
23. Năm Thiệu Trị thứ 2, tháng Chín, ngày Mồng Chín (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị).
24. Năm Tự Đức thứ 3, tháng Bảy, ngày Mồng Ba (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị).
25. Năm Tự Đức thứ 33, tháng Một, ngày Hai bốn (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị).
26. Năm Đồng Khánh thứ 2, tháng Bảy , Mồng Một (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị).
27. Năm Duy Tân thứ 3, tháng Tám, ngày Mười một (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị, Hà Nội thành phố đệ ngũ hộ Đồng Nhân phố).
28. Năm Duy Tân thứ 3, tháng Tám, ngày Mười một (Sắc phong Trưng Nữ Vương nhị vị, Hà Nội thành phố đệ ngũ hộ Đồng Nhân phố).


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn