Thứ ba, 11/12/2018
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay528
mod_vvisit_counterHôm trước1310
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XX) E-mail
28/11/2018

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XX

Cổ LÔI NGỌC PHỔ TRUYỀN THƯ, BáCH VIỆT NGUYÊN TRƯỞNG

(Phần lớn tập này là tự thuật và
ký của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp
ở đây, chỉ trích một số đoạn có liên quan
đến thời các Vua Hùng)

Ngoài bìa ghi:
Xích Quỷ quốc, Giao Chỉ bộ,
Mê Linh huyện, Văn Lang trang, Văn Nội khu.
Nay là: Khu Vân Lôi, trang Thắng Lãm,
Thanh Oai huyện, Hà Nội tỉnh, Việt Nam nước
Bốn câu chữ Hán ở bốn mặt bia trụ đá (xưa thờ ở khu mộ Bát bộ Kim Cương ở Ba la):
Phương phần bảo vật
Vạn cổ nghiễm nhiên.
Chi hạng lưu hương,
Thiên thu trường tại
(CT:Đây là 4 câu chữ Hán khắc trên 4 mặt bia đá hình trụ vuông (chưa thấy ở đâu có loại bia này) trên đỉnh trụ có một con cóc. Xưa kia 2 bia này đặt ở khu mộ Bát bộ Kim cương trên gò Thiềm Thừ (tức là con cóc tía). Theo truyền lại là để tránh bị bọn Pháp lấy mang đi nên bia đá được chuyển đi dấu ở ven sông Nhuệ, làng Cự Khê, Cự Đà, nay vẫn còn ở đây.)
Dịch của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp (năm 1789):
Lối cũ dấu thơm, Nghìn xưa vẫn đó,
Cây to báu vật, Muôn thuở còn đây.
*
Nguyễn tộc từ đường phổ ký chính bản

Quảng Oai hầu La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp phụng soạn năm Quang Trung nguyên niên.

ơn nhờ đức lớn của Tiên tổ, họ Nguyễn, thôn Vân Lôi, được các triều đại ban ơn huệ lớn, đời này nối truyền đời nọ, con trưởng trăm họ được phong tước Thiếu Bảo Hương Quận công; Thay mặt nhà Vua và trăm họ thờ phụng Đống Xã Đại Vương. (Đó là tên chung của Lê Đại Hành đặt mỹ tự cho Bách thần). Hùng Vương triều, “Làng Vân Lôi được hưởng lộc nước 200 mẫu cấy lúa nếp trắng đóng oản, đủ xôi oản cho cả làng, lại có giếng mát để sẵn ngày dân làng làm lễ xong thời chia nhau cùng hưởng. ăn không hết thời bán cho Cự Triều (nay gọi là Cự Đà), để bà con làm tương bán.
Họ ta là dòng trưởng của trăm họ, giữ lăng mộ Tổ tiên của các triều đại ta được quang sáng như ngày nay là nhờ đức lớn của tiền nhân, kế tiếp đời đời làm Quận công từ đời Đinh đến nay, cho nên được hưởng đặc ân một lôi đùi gà; ăn mãi cũng chán, không ai đem lộc nước đi bán, cho nên những ngày nhiều lễ, ta tha cho bà con không phải biếu hoặc nhận xong chia đều cho họ đường.
*

Các ngày lễ trong năm
(do Nguyễn Thiệp ghi lại cho hậu duệ )
• Ngày 12 tháng Hai giỗ Tổ hiệu Thái Khương công Nguyễn Minh Khiết, mộ tại Khương Thượng, cùng cả em trai là Nguyễn Nghi Nhân nước Sở, Nguyễn Long Cảnh làng Nguyệt. Người trong nước tôn xưng danh hiệu là Ba toà đức Chúa ông, và gọi là Tam phủ Thiên chúa.
• Ngày 8 tháng Tư là ngày sinh của Tổ bà và ngày 15 tháng Bảy là ngày hoá của Tổ bà Đỗ Quý Thị, húy Ngoan tức Đoan Trang Công chúa, hiệu Tín Thiền sư, Hương Vân Cái Bồ Tát, mộ tại Ba Lôi. Bà sinh con trưởng là Nguyễn Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương, tự Phúc Lộc, mộ tại Chùa Hương, mất ngày 25 tháng Chạp.
• Ngày 3 tháng Ba giỗ Bà tổ Chân Tĩnh Bồ Tát, con gái Động Đình Quân. Mọi người gọi là Mẫu Thượng Ngàn hay Đăng Ngàn, mộ tại Xích Hậu Văn La thôn, vợ Kinh Dương Vương.
• Ngày 28 tháng Hai giỗ Đức ông Hùng Nghiêm.
Đức ông Hùng Quyền, Vân Nội.
Đức ông Hùng Lâm, mộ tại Bình Đà (Lạc Long Quân).
Đức ông Hùng Huệ Tây Quả (Bình Đà).
• Đức ông Hùng Lâm lấy Căn Kỷ công chúa hay Ngô Thị Căn, giỗ ngày 5 tháng Năm, mộ tại chùa Thượng Mạo.
• Ngày 28 tháng Năm, giỗ Hùng Quốc Vương, tự Phúc Tâm, mộ tại miếu Văn Nội.
• Ngày 26 tháng Giêng, giỗ Bà Hoàng hậu, hiệu Từ Diệu, mộ tại Đồng Trúc.
• Trong hết tháng Tám, hội các Thánh Cha, đặt tên chung là Hùng Nghiêm Kinh, hiệu là Sùng Nghiêm, tự Phúc Nghiêm.
• Tháng Ba hội các Thánh Mẫu, có tên đặt chung hiệu là Diệu Đức.
• Ngày 4 tháng Tư giỗ chung các Ôn hầu, Lạc hầu, Bộ tướng, Đạo tướng, Lộ tướng, Triều quan.
• Ngày 4 tháng Bảy, giỗ chung các vị Ôn Bộ, Đạo lộ, Thần quan.
• Ngày 10 tháng Mười, ngày hoá của Kinh Dương Vương và Đinh Tiên Hoàng.
• Ngày 9 tháng Ba, giỗ ông Nguyễn Hùng Định (Hùng Vương thứ 17) và Bà Hoàng Thị Đào, giỗ Hậu chủ họ ta.
• Ngày 16 tháng Mười giỗ ông Tổ Nguyễn, Đỗ Long Tế (Năng Tế) tự Phúc Hiền và bà Tạ Quý Thị, hiệu Diệu Uý, húy Tạ Cẩn Nương.
Mối lái là Sương Thị Long, giỗ tại Quán Cấm cửa đền.
• Ngày 16 tháng Hai giỗ hai Bà: Trần Thị Lý, hiệu là Lý Hoàng Công chúa; Trần Thị Huệ, hiệu là Hằng Thanh Công chúa, theo như trong Quốc sử ta goị là Hai Bà Trưng. Ngày ấy còn gọi là giỗ trận.
• Ngày 19 tháng Hai tốt khải cấm?
• Ngày 15 tháng Tám, hội tại Hát Môn, nay là cửa đền phía ba cây đa chợ. Hàng năm cứ đến ngày này, ta biện lễ bái suốt ngày tại 72 đền chùa.
ơn Tổ tiên, ơn Vua lộc nước không thể lấy gì báo đáp được, lộc như thế, nhưng truyền đến ta là 45 đời Quận Công mà nhà vẫn nghèo, tuy Vua có cấp cho một toà phủ Quận Công để gia đình ở, nhưng họ hàng con cháu ngày một đông. Để một thời giàu, chia nhau thời khó. Lộc nước, lộc Tổ chỉ đủ cho cái miệng ăn sung sướng và tiếp khách họ hàng bốn phương.
Ruộng là ruộng công, đất là đất công, dân làng sử dụng chung, không ai có của riêng. Bởi lẽ đó không ai biết làm giàu và ai cũng chỉ đủ ăn.


 
Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn