Thứ năm, 12/12/2019
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay15
mod_vvisit_counterHôm trước559
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XXI) E-mail
23/04/2019

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XXI (Tiếp theo)

Bản dịch nghĩa văn thỉnh tổ
Họ Nguyễn Quang, thôn Văn Nội, trang Thắng Lãm

Hương khói vờn quanh, tàn lọng chen,
Tầng tầng hóa vãng chín đài sen
Nơi nơi chầu vọng Di Đà Phật,
Chỉ nẻo Đài Sơn, Mẹ chiếu đèn (CT:Đài Sơn: Ngũ Đài Sơn, một trung tâm Phật Giáo lớn ở huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, tượng trưng cho Phật giáo Trung Quốc. Mẹ Phật từ cõi Đức A Di Đà và Quan Âm Bồ Tát là người mẹ hiền. Chiếu đèn : soi sáng , hướng dẫn.)
Nam Mô Hương Vân Cát Bồ Tát Ma Ha Tát.! (CT:) Nam mô là tôi xin quy y(tuân theo); Hương Vân Cái Bồ Tát là đạo hiệu của cụ bà Đỗ Đoan Trang (thường gọi là Đỗ Quý Thị); Ma Ha là đại , lớn; Tát là Bồ Tát (Ma Ha Tát là đại thánh Bồ Tát. Mỗi lần Khai Kinh Kệ trước tiên phải đọc (niệm) câu này.)
Hương hoa la liệt, đèn nến giao quang,
Ai nấy lòng thành, chí tâm kính lễ.
Tâm địa trong sáng như ngọc Lưu Ly.
Mặt trời soi rạng vẻ nghiêm trang.
Khi đó, nghĩ nhớ, tưởng mộ đến Phật, đến Tổ như lòng con nhớ Mẹ.
Dung nhan chư Phật như đúc bằng vàng ròng. Chất ngọc kỳ diệu như hoa bay.
Y vào nguyện lực từng người,
Tam Thánh trên chín đài sen sẽ đón về Tây Phương.
Phút giây chớp mắt từ cái sống sang cái chết,
Thương thay biên tế bao la kia.
Nam Mô Độ Nhân Sư Bồ Tát, Ma Ha Tát!
Vẻ trang nghiêm trên từ - đường, đông người lễ bái trước án-kỷ, muốn đón Thiền Tổ giáng linh, nên mang nước ở Tào Khê về vẫy rảy. Nước ấy là tuyết lạnh ôm châu, sóng thanh ôm nguyệt. Khí thiêng như hoa phô bốn sắc, hoặc ở dưới bình sen Viễn Công, hoặc ở trong ao báu nơi Lạc Quốc (CT:Lạc Quốc: cõi Cực Lạc, Tịnh Thổ hay Tịnh Độ của Phật A Di Đà.)
Tình Phàm, cảnh Thánh tiêu dao,
Nước thiêng Tịnh Độ rảy vào Cung Thiên.
Nay đem vẫy khắp án tiền,
Ngàn muôn cặn bụi Giường Thiền sạch trơn.
Này đây Bí Mật Chân Ngôn(CT: Chân ngôn: âm thanh chân lý của chư Phật. Rút từ bí mật Chân Ngôn Tạng.),
Từ “Chuẩn Đề Chú” (CT:Chuẩn Đề Chú: Lời mật chú của Bồ Tát Chuẩn Đề Quan Âm) luôn luôn tụng trì.
Ngọc Như Ý đáng so bì,
Tưới phun hoa nhị không chi sánh tày...
Nước như Hoa, mà Hoa như Nước,
Nước cùng Hoa vô-trước lụy trần.
Nước thuần, Hoa túy, trong ngần,
Nhị Sen ắt nở quý trân ngạt ngào.
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát!
Kính nghe (rằng)
Muốn đón Thiền Tổ trên Chín Đài Sen,
Nên thắp pháp hương Ngũ Phần.
Hương ấy gốc nằm chìm ở Tịnh- Vực (cõi tịnh),
Lá che kín cảnh trần- lao (khó nhọc).
Vun bồi đâu chỉ một đời công,
Gìn giữ là do sức bách thần .
Thơm nức từ xưa,đường chỉ một,
Tuyệt vời tơ gấc, giá khôn thông.
Chỉ nương Bồ Tát chất chồng,
Làm sao liệu trước Thần Rồng hiện ra ?
Đời nay coi dựa đời xưa,
Khắp nơi đồng phụng không chừa nơi nao.
Chân Ngôn Hương thắp ngạt ngào,
Chuyên công truyền tụng, nhiếp vào trong tâm.
Chân Hương Ngũ Phận hiếm trên trần,
Mật Tín Từ Phong nhẹ ruổi dần.
Một Tấm Lòng Sâu ôm Trời Đất,
Chín Đài Sen Báu rõ Xa Gần.

Tấm lòng son niệm Phật,
Hoa Quế đỏ ngậm hương.
Giờ lâm – chung, chính niệm rõ ràng.
Nghe không trung, vang lừng thiên nhạc
Dẫn linh hồn siêu độ Tây Phương.
Thân thích đều bi thương,
Dâng cúng lễ chưng- thường.
(Chưng thường: lễ đơm, lễ cúng cơm)

Nam Mô Hương Cúng Dàng Bồ Tát Ma Ha Tát !
Kính nghe: nhân từ kiếp trước, quả đến đời này.
Vỏ bình giả trong giấc mộng.
Cắt ô nhiễm ở cửa chùa.
Cầu xin sắc trước, Chăm phụng Kinh này.
Rộng ban hàm thức,Cùng dự thềm Tây.
Thành Trời chợt tin báo, Bảng Sen đầy tên đề.
Cõi uế-bang, chân không đặt tới, Nơi Tịnh Độ, hồn đợi từ lâu.
Nay nhân giới tiết, . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Ngày . . . . . . . . . . . .. . . , đền tuần húy nhật,
Đen trắng vơi đầy dâng đạm bạc,
Tháng ngày bồi đắp tác chiêm hoài.
Dâng mâm lục cúng, thỉnh lễ tam thân.
(Tam thân: ba lần hương và ba lần bái)
(LND :tam thân, nếu viết cũng có thể là cha con,vợ chồng,anh em của tiên tổ)
Này trao Phụng Thỉnh Chân Ngôn,
Chú tâm tịnh ý luôn luôn tụng trì.

Nam Mô bộ bộ đế, ly già ly, đát si nga si da.
Kính thỉnh Chân Ngôn từ trên tới, đã tuyên dương rồi.
Các hàng nhân – chúng kính tin, dâng hương, dâng hoa đón mời.
Một lòng kính mời, ham sinh cảnh ảo, mở mối duyên xưa.
Mơ màng mảy bụi trong nước trần gian,
Lạ thấy trên cõi giác có bậc giác người mê.
Ruộng bi thương dễ ghi chép, bể nguyện ước khó gọi tên.
Vua, quan,sĩ, thứ, rảnh đến coi đây thuần đất quý,
Thánh, phàm, thiện, ác, noi theo từ đấy giả duyên sinh.
Dần dần nên người, rạo rực chán đời.
Rũ trần- lụy ở cửa Thiền. Buông giới - đao ở bình sen.
Thường nói sinh hoằng tì ni, tử quy an dưỡng,
(sinh ra lớn lên được Tạo Hóa giúp đỡ, thác về thì được yên nghỉ)
Há bảo thực hư đồng thể, nhân quả tương phù.
(giả và thật là một thể,nhân và quả giúp đỡ lẫn nhau)
Các Thánh đến từ phương Tây nhiễu quanh Vũ Trụ.
Chùm mây bay tới Đài Hoa trụ ở Hư Không.
Nay giờ Tuất, ngày Mười Sáu, tháng Mười, năm Canh Thân,
Nhạn bay qua khoảng vắng, bóng chìm lặng nước hàn.
Trong cõi nước Hoa Sen, không sinh không diệt.

Kính nghĩ:
Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỳ Khưu giới tự Tâm Phương, Thích Mẫn Biện thiền – sư nhục- Bồ Tát Thiền Tòa hạ, gồm đến Đức Tây Thiên Đông Độ Nam- Việt Lịch Đại Tổ – Sư (Bồ Đề Đạt Ma), chư vị hậu tiến tiền tu thanh tịnh hải chúng, các phương các cõi, giác – linh chư vị đồng nghiệp Thiền Tòa hạ...
Duy nguyện:
Luôn niệm du hành nơi Lạc – Quốc.
Hằng giờ lễ khấn đấng Từ – Tôn
Giáng phó Thiền Đường, chứng minh công đức.
Dâng hương hoa:
Một lòng kính thỉnh: Bí-điển Trúc Lâm, đức lớn để lại trần gian.
Lòng như cây đã thành tro. Thân như bùn đất đã thành không.
Thuần theo pháp-hỷ.Tùy chỗ sinh xuân. Lồng lộng thay ! Sáng sủa thay!
Mở mặt, điểm mắt, gọi tính quên tình.
Tiêu- dao bầu Trời Cực Lạc. Nhàn hưởng cõi Đất Lưu Ly.
Sướng ý vô cùng, sáng thơm không dứt.
Kính nghĩ:
Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỳ Khưu giới- tự Tâm- Phương, Thích - Mẫn - Biện thiền- sư nhục-thân Bồ Tát, gồm đến Đức Tây- Thiên Đông - Độ Nam – Việt Lịch - Đại Tổ – Sư (Bồ Đề Đạt Ma), chư vị hậu tiến tiền tu thanh tịnh hải chúng, các phương các cõi, giác – linh chư vị đồng nghiệp Thiền – Tòa trở xuống...
Duy nguyện :
Duyên đời dứt đoạn, theo mà dứt.
Tro lửa quang – trung lộn một vòng.
Giáng phó Thiền Đường chứng minh công đức. Dâng hương hoa thỉnh:
Một lòng kính thỉnh:
Đồng – nghiệp tịnh – bang
Xuất thần nghiêm thổ.
Trên thì một lòng không loạn. Dưới thì mười niệm nên công.
Ánh thiêng bừng sáng, chiếu khắp không riêng.
Con nợ, nhà oan vĩnh – biệt.
Cõi vàng, ao báu đi lên.
Hóa công huyền diệu, Thiên nhiên lạ kỳ.
Chín lớp sen phô, trần khác hẳn.
Nhất sinh giàu có, biển vô bờ.
Kính nghĩ :
Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỳ Khưu giới- tự Tâm- Phương, Thích - Mẫn - Biện thiền- sư nhục-thân Bồ Tát, Thiền Tòa hạ,
Nam Mô Linh Thông Tiểu Am, CHU tính ( Chu Văn An) Tỳ Khưu giới – tự Nguyên Thanh, Thích – Tri –Túc Thiền – Sư nhục thân Bồ-Tát, Tỳ Khưu giới- tự Thanh-Tiết, tự Thanh- Thực: sa – di giới tự Nguyên- Đào, tự Duy Sâm, trên tới Đức Tây Thiên Đông Độ Nam Việt Lịch Đại Tổ Sư (Bồ Đề Đạt Ma), chư vị hậu tiến tiền tu, thanh tịnh hải chúng, các phương các cõi, giác linh chư vị đồng nghiệp, dưới Thiền Tòa.
Nguyện xin:
Lấy bàn tay từ bi, cùng di về phía Tây (cõi Tịnh Độ), giáng xuống thiền đường chứng minh công đức. Dâng hương hoa mời.
Một lòng kính thỉnh:
Mười tháng dài mang nhau thai,
Ba buổi sớm ngồi nệm cỏ.
Cha Mẹ ơn sâu rồi cũng biệt,
Đất Trời đức nặng khó tuyên dương.
Một đoàn trung hiếu, ôi thương nhớ...
Thương nhớ muôn xưa mối cương thường.
Rạng sáng dâng lên chén rượu tịnh.
Thơm thảo cơm chiều lễ cúng dường.
Thê thiết nỗi lòng đàn cháu chắt
Đón mời Tiên Tổ, dạ ngùi thương.
Cung duy:

Hiển Tổ Khảo (ông) Nguyễn quý-công, tự Phúc – Hiền.
Tỷ(bà) họ Tạ, hiệu Diệu-Uy.
Nguyễn quý công, tự Phúc Vị.
Thứ nhất (bà hai) hiệu Diệu-Trì.
Gồm hết thảy các hương linh Gia Tiên nội ngoại xa gần.
Duy nguyện:
Phép Phật trùm phương không giới hạn.
U hồn níu náu, vụt siêu thăng.
Thiền-Đường xin hãy về tham dự,
Rồi nhận nơi đây...lễ Cúng Dàng.

Hương hoa thỉnh: (dâng hương hoa)
Nam Mô Ma Ha Đăng Tháp tỉ-khưu, giới-tự Thanh Diên, hiệu Trường Thọ, Thích-Tổng-Hòa, nhục thân Bồ Tát, xin giáng-phó Thiền đường, chứng-minh công-đức.Thỉnh đến từ trên, đã gội quang lâm, kính xin trì-tụng An Tọa Chân Ngôn.
Dòng Thiền hóa-giải, mỗi ngày tân,
Hoài-mộ ngàn thu kính tựa thần.
Giao vọng Tây-Thiên, dâng lễ thỉnh.
Giáng lâm đông thổ, chứng duy cần.
Trời xa hải chúng gieo luồng sáng,
Cõi tục hàm linh cảm ánh thần.
Phàm, Thánh giao lưu đều tán ngưỡng,
Lai thành lai hạ, báu tôn thân.(CT: LND: Phải hiểu sâu sắc về Phật học mới lý giải được ý nghĩa bí ẩn trong những câu chữ ở bài này, cũng như câu chữ trên nhiều ngữ cảnh khác trong tập “Tổng Khoa” này. Người dù đọc mỗi lời diễn giải qua nhiều trang giấy cũng không lãnh hội nổi.)
Nam Mô An Bảo Tọa Bồ Tát, Ma Ha Tát.
Dâng lên An Tọa Chân Ngôn.
Ngợi khen hết mức. Chúng đẳng kính thành. Đều dâng phụng hiến.
“Biến-tự Cam Lồ. Phổ cúng Dàng Chân Ngôn”
(niệm câu chú trên đây bảy lần)
Bữa cơm gồm Sắc, Hương và Vị,
Dâng lên thỉnh cúng Đức Vô Thượng.
Tam Quan Viên Chiếu rõ lòng thành.
Từ Đức bao la chứng thân đẳng
Đồng thể Chân Như, nguyện thấu tình.
Hoa sen Quốc độ, Suối vọt bảy loại trân.
Cơm trong bát báu, hơi bốc như vân (mây).
Ngàn điều thú vị, bữa cơm trân hưởng lúc di-Thần.
Sáng tươi tướng tốt hiện ngoài thân.
Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tất Ma Ha Tát.
Lễ hiến cúng lên TRÊN đã mãn. Nay có sớ-văn.
Kính xin đọc rõ.
(Hóa sớ rồi, sẽ tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật)
Trong nước hoa sen
Lưỡi dài mang tướng xưa nay.
Cõi trần niệm Phật, thác rày: anh hoa.
Hoa nở liền thấy Phật, nhập diệu -cải gieo kim.
Cùng khó, lời nguyền bi. Tấc đất tấc hoàng kim.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật!
Cõi sen Tụ phúc, biển vô nhai.
Khó lường Đức Phật lên Bảo -Đài.
Đồng chí cao siêu lên lạc - cảnh,
Thân tình dạo thưởng lối kim giai.
Hoa phô, quả chứng, cơ huyền diệu,
Sen nở, chân dầm, lẽ hoá hay.
Chữ giấm, tên đề, bảng rồng hổ.
Sang giàu, thân rạng, cõi trần ai.
Nam Mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Hết Bản dịch văn cúng tổ)
*
BẢN DỊCH BÀI VĂN CÚNG GIA TIÊN (CT:Khoa cúng gia tiên là bài văn cúng từ xa xưa đến nay được dùng tại tổ đường họ Nguyễn thôn Vân Nội)

Tâm hương năm thức đất hơi mây.
Gia Tổ xa gần ắt chứng đây.
Từ thân chúng đẳng dâng thành ý,
Cầu xin Chư Tổ đến nơi này.
Nam Mô Hương Vấn Cái Bồ Tát
Sớm ngày giỗ chúng con trần thiết,
Trên Thiền Toà Liêm khiết nghiêm minh.
Chúng con tấc dạ tinh thành,
Góp lời đọc kệ, cúi mình dâng lệ:
Sinh sinh, diệt diệt lại sinh sinh.
Đông hết, xuân sang chuyển vãng trình.
Kết quả theo nhân nhân gốc cũ.
Nhớ (Hai) thân nương đạo, đạo dòng minh.
Xuất hoài biết rõ quân thân nghĩa,(CT:Xuất - Hoài: ra khỏi bụng mẹ, sinh ra )
Nhập thế ơn sâu trách nhiệm tán dực (CT:Tán dực: giúp đỡ ) tình.
Biển đức non ân khôn báo đáp,
Dọn bày cúng giỗ tỏ tâm thành.
Nam Mô Hoan Hỉ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát!
Ôi! Hiếu tâm bừng dậy, tiệc lễ mới bày.
Bữa cơm chay, kính dọn ở linh tiền (bàn thờ)
Mâm cỗ khéo phô bày trên bàn tiệc.
Tấm lòng son báo gốc, tấc dạ nguyên tinh thành.
Niệm diễn Phạn - Văn gồm mật -chú,
Vâng theo thanh chúng để gia trì
Nhúng khăn một giọt, rảy khắp mười phương.
Đón mừng phúc sáng đến thiền sàng.
Chư Tổ đều về bừng thuỵ khí,
Đầy nàh lên xuống nức Thanh Lương.
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát!
Trộm nghĩ,
Lời thiền tuyên giảng, sinh linh liễu ngộ đã minh tâm.
Nhạc Pháp lừng vang, hồn phách lắng nghe mà giác ngộ.
Hiếu trung là một, dạ phật như nhiên.
Non Côn, núi Thái vút Cao,
Vùng đất vòm trời trải rộng.
Nhang khắp đầy nhà, đèn dong nhiều góc.
Tất thảy gần xa xin đoái tới,
Rộng trùm trên dưới cầu giáng lâm.
Nay có Chiêu Thỉnh Chân Ngôn, kính xin trì tụng:
Chân Ngôn Chiêu Thỉnh nhiệm cơ thần,
Tiên Tổ gần xa ắt ghé trần.
Rực sáng trời cao Tiên Tổ đến.
Đoan cung ngồi đón phút triêm ân.
Nam Mô Bộ Bộ Đề Ly Đát Si Nga Si Da.
Hương hoa thỉnh:
Một lòng phụng thỉnh
Đất trời nuôi dưỡng tinh hoa.
Nẩy sinh gốc đạo ở rừng Thiền.
Rộ nở đài sen nơi biển Phật.
Rễ sâu quả tốt. Đức dầy Sáng ngật.
Tấm lòng tìm xa nhớ mãi.
Nẻo ý lo sâu nghĩ cùng.
Cung duy:
Tổ Ông, Tổ Bà (mỗ) (CT:Mỗ: tức ở đây ghi rõ tên của Tổ được cúng lễ là gì?) ......................................
Duy nguyện:
Hồn như ngày ở, Phách tựa thời sinh.
Theo pháp lực mà dắt dìu. Dựa thần công mà đi đến.
Giáng phó thiền sàng. Nhận hưởng cúng dàng.
Hương hoa thỉnh: . . . . . . . . .
Một lòng phụng thỉnh
Tượng trời lồng lộng. Vùng đất mênh mông
Rủ rộng trăm năm đức nghiệp.
Mở bồi một mạch gia phong.
Bể ân sâu rộng, non đức thẳm cao.
Tấc dạ thời thường ngưỡng vọng.
Tấm lòng ngày giỗ kiền thành.
Kính nghĩ tới:
Tổ Ông, Tổ Bà (mỗ) ....................... và hết thảy cá hương linh Tiên Tổ
Duy nguyện (Gia Tiên):
Nghiêm trang từ xa đến,
Sáng Trong Ngoài ung - dung trắc giáng,
Hàng Tôn Ty tham dự Đàn Thiền.
Hưởng lễ cúng dàng.
Dâng hương hoa, một lòng phụng thỉnh:
Đời đời Thầy,Chủ,- kiếp kiếp Me, Cha.
Miệt mài ảo - thể đã thành chân,
Cởi mở tuệ - tâm mà xuất chúng.
Đạo trông cao -vút ơn xuống vô ngần.
Xương dẫu nát chưa đền ơn nuôi nấng.
Thân dù tan chưa báo đức sinh thành.

Kính nghĩ đến:
Tất cả các hồn thiêng Ba Đời (CT:Theo thuyết luân hồi (phật học), ba đời là ba kiếp (quá khứ, hiện tại và vị lai) của Tiên Tổ) Tiên Tổ.
Nguyện Cầu:
Bên vững đất trời cùng che chở,
Sáng trưng nhật nguyệt chiếu tôn ty.
Kính xin chư vị
Giáng phó Đàn Thiền nhận lễ cúng dàng.
Hương hoa dâng:
Mời khấn lên trên, giờ đã quang lâm.
Kính xin trì tụng, An Tọa Chân Ngôn.
Tượng trời vòi vọi chiếu nơi nơi,
Khuôn Đất mỏng dày chở lẽ đời.
Nghiêm mật trong ngoài như thấy thật,
Rạng rủ nguồn ân, phúc đến thời.
Nam Mô An Thiền Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát.
Mát ngon Thiền-vị, mọi món hợp tình.
Mâm chay tịnh dâng ở linh - tiền.
Cỗ trần - tu bày trên hương án.
Kính xin trì tụng Biến Tự Chân Ngôn:
Nam Mô Phổ Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!
Lễ cúng Dường đã mãn.
Có đủ bản sớ văn.
Chúng con xin tuyên đọc.
Dâng sớ lên trên. Tuyên đọc đã xong.
Gội ơn Tôn Từ, cúi mình nạp nhận.
Bài sớ - văn này, kính xin hóa trọn.
Nam Mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát!
Tây Phương Tịnh độ ở nhãn tiền.
Không dụng tha nhân biệt ngoại truyền,
Bốn chữ hồng danh một niệm sáng,
An bình phút chốc đến Tây Thiên.
Nam Mô A Di Đà Phật !
Lạc Bang đến thẳng tự Tâm ta.
Tâm đó thiên nhiên chớ tìm xa.
Tìm đến chân tâm là tịnh độ,
Lắng tâm thanh-tịnh, gặp Di Đà.
Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ Tát Ma Ha Tát!
* * *

20

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn