Chủ nhật, 08/12/2019
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay282
mod_vvisit_counterHôm trước324
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XXII) E-mail
30/04/2019

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XXII

Nam thiên thất thập nhị từ ở đâu ?

Tư liệu này rút từ Cổ Lôi Ngọc Phả Truyền Thư, lưu trữ tại Đường Thượng Nam Thiên Thất Thập nhị Từ (CT: Đế Minh đã thu phục được 72 động chủ. Phải chăng vì vậy mà từ đó lập 72 đền thờ? Trong các thư tịch cũ, không ít chỗ nói đến con số 72. Phải chăng đây là con số thiêng hay là biểu tượng... chứ không phải là số tuyệt đối ? Cần có sự nghiên cứu tìm hiểu thêm)

Trong Cổ Lôi ngọc phả Truyền Thư có nói đến 72 đền là nơi thờ hơn 100 đời Vua Hùng đã sinh ra và đóng đô ở đây. Sau đó đến nhà Thục, nhà Triệu, (Bà Triệu), rồi Tiền Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Lý Thái Tổ cũng về đây đóng đô. Bọn Hán thời Đường, Tống, Nguyên đã đặt An Nam đô hộ phủ ở đất này.
Đây cũng là nơi có đất nghĩa địa to nhất các triều đại, nay gọi là nghĩa địa xưa gọi là Nghĩa Lĩnh.
Trải qua 5.000 năm, bao thăng trầm của lịch sử, đất nước vẫn ngày một hưng thịnh. Nhưng khi sang xâm lược và thống trị nước ta, bọn Phú lang sa (Pháp) (CT:Phiên âm từ chữ Pháp France sang tiếng Hán và đọc theo âm của người Việt là Phú -lang-sa. Tức là Pháp ) đã biến Phong Châu, Đại La, Long Biên, Phong Khê, Thăng Long thành đất phẳng .Chúng đuổi nhân dân nơi đây lên Đông Đô, đuổi nhân dân Hoa Lư, Tây Đô đến Vinh và Nam Định phục vụ lợi ích lâu dài cho bọn tư bản Phú Lang Xa và bọn gián điệp đội lốt thầy tu.
Không phải chúng chỉ hủy diệt nơi đây mà 170 đền chùa ở vùng Hà Tây trước kia đã bị đốt phá. Còn 72 đền ở Phong Châu phải dỡ đem đến nơi khác.
Những người già truyền lại cho con cháu rằng: Hoàng Cao Khải là tên bán nước xúi giục toàn quyền Đông Dương ra lệnh đốt phá 72 đền, nhưng do Hoàng Trọng Phu là người tiếc của và công sức của cha ông bao đời mới xây dựng được, nên báo cho dân biết, dỡ đền đem đi nơi khác đựng lại thờ cúng.
Bọn giặc chỉ cần đánh bật gốc còn đem đi đâu tùy ý. Tuy đền di đi nơi khác nhưng vẫn ghi Nam Thiên Thất Thập Nhị Từ, Chi Nhất. Bởi vậy chùa Bối, chùa Trăm gian( CT: Chùa Bối ở Bối Khê (Thanh Oai), chùa Trăm gian ở Chương Mỹ, Hà Tây) mới trở nên thần thoại Thánh Bối Nguyễn Đình An.
Hát Môn ở Phúc Thọ, Đồng Nhân ở Hà Nội thì sông Hồng là sông Hát, Nếu Đồng Nhân ở Đông La thì xác Hai Bà Trưng trôi ngược, và mẹ Bà Trưng cũng trôi ngược lên Ba Vì.?
72 đền nay tản mát ở nhiều làng, nhiều tỉnh khác nhau, song lịch sử và thần phả, vẫn thống nhất.
Bọn Pháp biết chuyện này nhưng Đông Dương Bác Cổ thì không, lại bị dân ta đánh lừa, ngày nay con cháu bị chính ông cha mình “đánh lừa”!
Nhưng bằng mọi cách cha ông vẫn giữ gìn sự thờ cúng ở Châu Phong. Những đất đó không nơi nào có được đó là:
- Nghĩa lĩnh, một vùng có 5 nghĩa địa lớn.
- Một vùng đất có 270 địa danh đặt tên cho cả nước.
- Một vùng đất có con sông Hát chảy xuôi.
- Một vùng đất có nhiều trống đồng, nhất là trống đồng cổ nhất.
- Nhiều đồ tùy táng mà không một nơi nào có được. Đó là đồ dùng của các nhà quý tộc thời đó,đồ dùng của Mị Nương công chúa.
- Cũng chính nơi đây có nhiều vùng khu mộ cổ khoảng 50 cây số vuông.
Sau khi khu di tích này bị đốt phá và rồi sau tại đây đã mọc lên 72 đền khác ở khắp bảy tổng, to nhỏ khác nhau, và cái mà khắp đất nước này không thể có được, dó là sắc phong từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê cho đến thời Nguyễn. Mặc dù một số đạo sắc cũ đã rách nát song vẫn còn nhiều.
Đền nào không có sắc phong của của triều đại trước, có nghĩa là mới chuyển đến, cho dù đền ấy là thời nào thì vẫn là đền mượn. Chỉ riêng môt việc này thôi: bức Giá Thánh còn giữ lại ở Bình Đà,Thanh Oai. Trước đó đã phải chuyển đi bốn nơi ở các đình: Mai Lĩnh, Mậu Lương, Khúc Thủy, Minh Kha. Các nơi này đều đã bị đốt cả, may mà chạy được bức Giá Thánh cất trong đình Bình Đà.
Bức Giá Thánh này là của làng Vân Nội. Giá Thánh chỉ có thể lắp vào đình La Cả, huyện Hoài Đức mới vừa, vì đình này là của Vân Nội chuyển đến do đó mới khớp mộng.
Làng nào có người giải thích nổi chuyện này thì đình và Giá Thánh của làng ấy và đấy là Phong Châu.
Tới đây xin tạm dừng lại, còn rất nhiều sự kiện xin nói vào dịp sau.
Nay chỉ xin nêu về các ngày giỗ chạp do La Sơn Phu Tử viết bằng chữ nôm mà lúc sắp mất đã để lại. Các ngày giỗ Tổ lâu đời, Gia Long đã yêu cầu rước vào chùa; còn ở nhà chỉ cúng giỗ các cụ từ thời Lê trở lại đây thôi.
*
các cụ tổ từ thời hậu lê, trực hệ chi nguyễn trưởng:

TT Số Hệ Tên hiệu Danh hiệu,Chức danh Ngày Mất (theo âm lịch)
1 1 Tự Phúc Thuật Hoàng Tín Hầu Tháng Bảy ngày 22
2 Bà hiệu (tức là tên hiệu của các Bà có chữ đầu là từ…..) Từ Hoan Táng tại Đồng Trúc
3 2 Tự Phúc Tín Hoằng Tín Đại Phu Tháng Bốn ngày 07
4 Hiệu Từ Thọ Vợ Hương Quận Công Tháng Hai ngày 30
5 3 Tự Phúc Hào Hương Quận Công Tháng Mười ngày 02
6 Hiệu Từ Thanh Hương Quận Công Tháng Ba ngày 05
7 4 Tự Thuần Nhã Hương Quận Công Tháng Bốn ngày 10
8 Hiệu Từ Nguyên Vợ Cả Tháng Bốn ngày 10
9 Hiệu Thục Tính Vợ Hai Tháng Năm ngày 1
10 Hiệu Thục Tuyết Vợ Ba Tháng Sáu ngày 6
11 Hiệu Thục Tạo Vợ Bốn Tháng Bảy ngày 11
12 5 Tự Phúc Hiền La Sơn Phu Tử Tháng Hai ngày 14
13 Hiệu Tư Niêm Sinh hai đô đốc Tháng Chín ngày 30
14 Thục Thịnh Sinh hai đô đốc Tháng Năm ngày 24
15 Từ Đạt Sinh hai Quận Công Tháng Một ngày 13
16 6 Trực Thiện Đô đốc Long Tháng Một ngày 7
17 6 Trực Huệ Đô đốc Hổ Tháng Sáu ngày 8
18 6 Phúc Trung Tháng Bốn ngày 8
19 Diệu Trinh Tháng Bảy ngày 29
20 Mẹ Trước Hiệu Thục Mỹ Tháng Chín ngày 19
21 7 Phúc Lập Hương Quận Công Tháng Bốn ngày 21
22 Diệu Phúc Tháng Chín ngày 19
23 8 Phúc Phong Thái Tử Thiếu Bảo Tháng Tám ngày 10
24 Diệu Tú Tháng Năm ngày 12
25 9 Tự Trực Hoằng Tháng Bốn ngày 26
26 Hiệu Diệu Mười Tháng Mười ngày 23

*

Trong gia phả có ghi rõ rằng:
- Họ Nguyễn Quang đổi lại Nguyễn Vân là trưởng của ba làng Vân Nội, Nhân Trạch, Trinh Lương, sau tách ra một thôn Quang Lãm là 4, gồm 30 chi.
- 4 làng này là chi trưởng của 12 làng Sấm( sau gọi là làng Sốm).
- 12 làng Sốm là chi trưởng của 7 tổng có chữ Đại (nay thành 10 tổng có chữ Đại ) 7 tổng là trưởng của cả nước (?).
(Theo phả Họ Nguyễn làng Vân Nội)
Người dịch: Nguyễn Trưởng tộc Nguyễn Vân Tằng


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn