Thứ năm, 14/11/2019
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay121
mod_vvisit_counterHôm trước267
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XXIV) E-mail
05/09/2019

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XXIV

Những điều tác giả được nghe lại

(ghi tóm tắt và chủ yếu là theo lời kể của Trưởng tộc họ Nguyễn ở Vân Nội đã được ông cha truyền lại)

Dòng trưởng (vua cả) đi từ miền Tây Bắc (?) đến vùng đất phía Nam, khi tới núi Ba Vì thì định cư ở đây rồi phát triển ra các vùng đất ven biển. Sau khi định cư ổn định đời sống, các cụ đã nghiên cứu làm ra chữ viết ban đầu (CT:) Xem “Cơ sở văn hoá Việt Nam” của Giáo sư-Tiến sĩ-Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, NXB Giáo dục, Hà Nội 1999 (tái bản lần thứ 2). 
Có chữ viết và tiếng nói là ngôn ngữ giữa các bộ tộc giao lưu với nhau. Sau các cụ là cụ Đế Hoà (tức Hoà Hy) đã làm ra thuyết Phong thủy nói về âm dương, làm lịch âm dương theo sự chuyển động của mặt trăng, mặt trời, hay gọi là lịch âm có tháng nhuận.
Có thuyết Phong thủy rồi, cụ Phục Hy nghiên cứu làm ra kinh dịch, gọi là Kinh Dịch Phục Hy, đã được tác giả Bùi Văn Nguyên dịch in thành sách (Nxb Khoa học Xã hội xuất bản năm 1997). Sau khi các cụ đã nghiên cứu ra thuyết trên, trong các bộ tộc đời sống đã được ổn định, phát triển nền văn minh lúa nước, sự sống trường tồn của người Việt được bảo đảm, càng phát triển phồn thịnh. Các bộ tộc thần phục và tôn kính đi theo v.v... Lúc này “Nhà nước” bắt đầu manh nha, cụ Phục Hy được tôn làm Chủ trưởng (Vua Cả). Như vậy, nối tiếp từ cuối chế độ bào thai đến cụ Phục Hy là bảy nghìn năm. Định đô lập nước, tên nước là “Cực Lạc” ở phía Tây Vực, vùng xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây hiện nay. Cụ được tôn vinh hiệu là Vô Thượng Hư Không giáo chủ, Đế thiên Phục Hy. Nơi thờ cụ ở miếu Hy Sơn, giỗ cụ ngày 01 tháng Tư âm lịch. Hiện nay, miếu không còn tên cũ, đặt tên mới là “miếu Thiên Cổ”(CT:Miếu ở góc phải, sân trước chùa Tây Phương, thuộc Yên Thôn, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây hiện nay).
Sau khi định đô, lấy tên nước là “Cực Lạc”(CT:Cách chùa Tây Phương không xa (mấy trăm mét) có núi Cực Lạc, chùa Cực Lạc, thuộc thôn Yên Lạc, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất ngày nay). Đạo hiệu của Chủ trưởng Vua Cả là “Hư Không giáo chủ, Đế thiên Phục Hy, đại từ đại bi” (cụ chính là Đức phật Di Lạc).
Định đô rồi, các cụ về làng Sở Khê và thôn Tiên Lữ, lấy nơi đây là quê. Đến năm cụ Phục Hy 79 tuổi thì có nạn hồng thủy người quản gia nô trẻ tuổi tên là Hiên Viên dấy binh làm phản giết cụ Phục Hy ngày 16 tháng Giêng âm lịch, và giết 14 người trong gia đình cụ. Hiện nay còn mộ 14 người ở xóm Đồng, thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trên khu mộ này hiện nay xã làm đền thờ Trung Vũ Lữ Đại Vương và năm vị trong hơn 100 vị vua núi các nơi về đây gặp Phục Hy bị Hiên Viên giết. Mộ cụ Phục Hy hiện nay ở phía trước UBND xã Tiên Phương, Chương Mỹ, Hà Tây. Mộ thân phụ và thân mẫu cụ Phục Hy ở thôn Thượng Lao, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (thân mẫu của cụ tên là Nữ Hoàng Anh hiệu Diệu Quang Minh).
Khi nạn hồng thủy, Đế Viêm, con trai (sau là vua Thần Nông) cùng ông nội, bà nội là cụ Đế Hoà và cụ Nữ Hoàng Anh đi lánh nạn ở chợ Rồng Đất, thôn Thượng Lao, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ thì ở nhà Hiên Viên quản gia giết cụ (Phục Hy) cùng 14 người, cướp bóc tài liệu, tài sản, chiếm đất, cả 70 dặm, 65 ấp, Hai Cụ sống ở nơi lánh nạn và mất ở đây. Cụ ông mất ngày 15 tháng Hai âm lịch, cụ Bà mất ngày 6 tháng Tư âm lịch. Mộ hai Cụ cùng chôn một chỗ. Hiện nay nhân dân thôn Thượng Lao gọi là gò Thần Nông. Bà con ở đây nói là Cụ rất linh thiêng, ai làm gì cuốc bới vào mộ là bị trừng phạt, nên nhân dân trông nom, thờ cúng hai Cụ rất chu đáo.
Sau khi hai Cụ mất, Đế Viêm khôn lớn, trở về làng Sở, mời hội đồng các “vua núi” (Sơn Quân) đem quân đánh đuổi gian nô Hiên Viên, thừa kế sự nghiệp của các cụ tổ tiên, lên ngôi vua sáng, thi hành chính nhân, dân chúng một mực kính yêu.
Từ miền Tây Phương trở xuống, lấy ngọn Phương Lĩnh trầm đỉnh làm chính, sau đến núi Đỉnh Linh Sơn, Tiên Lữ cùng dãy với ngọn Phong Châu làm thành một giải. Viêm Đế đem đất đai chia cho dân nghèo. Cả thảy gồm 70 dặm, 65 ấp. Lại nói Viêm Đế thường dạy dân cấy lúa, dùng cây lá thảo dược để chữa bệnh cứu dân. Do vậy dân chúng tôn gọi Ông là Vua Thần Nông.
Mộ Ông táng ở phía Tây, Đình Sở Khê - Tiên Lữ - Phượng Châu. Giỗ Ông vào ngày Mồng 1 tháng Sáu. Về sau con cháu, các ngôi mộ, Tiên Đế, Đế Tiết Vương, Đế Quý Công Sở Minh Công đều để lại Phong Châu. Rồi sau này mới đổi ra Quang Lãm Châu, Thanh Trì. Sau này lại là Thanh Oai.
Tới Sở Công Minh kế nghiệp, sinh ba trai: Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân, Nguyễn Long Cảnh (Lý Cảnh). Còn một vị trong phả cũ ghi là thúc phụ Nguyễn Nỏ, quan Thái sư chính là Long Cảnh chia đất nước thành ba có ba vua lấy hiệu là Xích Quỷ, kinh đô nước ở thành Phong Châu, người đứng đầu Kinh Dương Vương làm chủ ba nước(CT: Chữ Hán: Quỷ là 3 chữ Vương ghép lại thành. Thực tế, dùng từ vua ở thời kỳ này chưa thật sát. Trong phả thường gọi chủ trưởng, sơn quân, chủ vùng đất, nhà làng)
Hiên Viên chạy sang Phương Bắc (lúc này vẫn chưa hình thành Trung Quốc).
Thư tịch Trung Quốc ghi là : “Tam Hoàng gồm có:
1. Cụ Phục Hy
2. Cụ Đế Viêm (vua Thần Nông)
3. Hoàng đế Hiên Viên”
Kể từ cụ Hư Không Giáo chủ Đế Thiên Phục Hy lập nhà nước “Cực Lạc”, đóng đô ở Tây Phương, miền Tây vực (ngày nay thuộc vùng Thạch Thất); đến con trai Đế Viêm (vua Thần Nông) kế nghiệp nối tiếp, lên ngôi vua sáng; lại truyền đến Đế Tiết Vương kế nghiệp vua Thần Nông; rồi Đế Quý Công, Đế Thừa Sở Minh Công kế vị Đế Tiết Vương; truyền tiếp nối đến Đế Minh, Đế Nghi, Long Cảnh là năm đời.
Thời gian này, nhờ trồng trọt, lúa nước, v.v... phát triển hơn, đời sống được nâng lên, con người sinh ra ngày càng đông, đất đai trang trại càng nhiều, phát sinh giàu nghèo giữa các bộ tộc, nảy ra các tranh chấp kinh tế, quyền lợi giữa các bộ tộc. Vì vậy, 72 bộ tộc cử cụ Đế Quý Công đứng ra giải quyết các bất đồng, cùng các ông Đế Minh, Đế Nghi, Long Cảnh tham gia vào các việc, nên các bộ tộc đoàn kết làm ăn sinh sống. Cũng từ đó, 72 động chúa, bộ tộc tôn ba ông là Tam Vị Đại Vương (chết thờ nơi gọi là Tam Phủ Công Đồng).
Các bộ tộc đặt cho cụ Đế Quý Công tên là: “Đế Quý Công - Đế Thừa - Sở Minh Công” hàm ý là: nhớ tiên tổ các đời trước, thừa hưởng lộc tổ tiên, có công xây dựng đất nước công minh và quy tụ lại thành chín bộ tộc lớn. Quê ở làng Sở nên gọi là Sở Minh Công. Giỗ cụ ngày 10 tháng Mười âm lịch. Cụ có hai bà, bà chính thất tên Đại Nương, hiệu Diệu Diên, giỗ cụ ngày 5 tháng Năm. Bà thứ là Mỹ Lăng hiệu Diệu Lan, giỗ ngày 15 tháng Chín âm lịch. Khu mộ ở gò Sở Quang Lãm có 5 mộ (hai mộ cụ Đế Trạch, Đế Thủ; còn ba mộ kia là cụ ông và hai bà Sở Minh Công). Giỗ cụ Sở Minh Công là cúng cả các cụ 9 bộ tộc và hai cụ Đế Trạch, Đế Thủ, vào ngày mồng 10 tháng Mười âm lịch.
Khi còn thành niên, hai cụ (Minh Khiết và Nghi Nhân) đi qua lại ngõ Hồ (tức làng Nghi Tàm, làng Tây Hồ, Quảng Bá ngày nay) gặp bà Đỗ Thị huý là Ngoan (tên chữ (tự) là Đoan Trang, con gái Long Đỗ Hải Vương). Đế Nghi đã có ý thầm yêu và định lấy Đoan Trang làm vợ, đồng thời Đế Minh cũng yêu và Đế Minh cưới Đoan Trang. Khi đón về nhà thì Đế Nghi mới biết đây là người mình định lấy làm vợ, nay là chị dâu. Quá trình chung sống cùng Đế Minh, bà Trang có mang sinh ra Lộc Tục (tức vua Kinh Dương Vương) sinh ngày 15 tháng Tám âm lịch. Nhưng một hôm, hai anh em cùng đi làm về, Đế Nghi đi trước, cả hai người đều đội mũ nên bà Trang không rõ, tưởng là Đế Minh, ra đon đả đón, tay bắt mặt mừng Đế Nghi. Đế Minh đi sau, thấy hai người đon đả với nhau, Trang lại không đón chào Đế Minh, nên Đế Minh có nghi ngờ Đoan Trang là hai lòng, từ đó bỏ Đoan Trang và con trai là Lộc Tục.
Bà Trang oán giận, bế con đi vào hang động tu hành, trong gia đình có 8 em trai cùng đi đến hang động ở, giúp chị tu hành và dạy dỗ cháu Lộc Tục học chữ, luyện võ ở động, luyện kim đúc đồng và gốm sứ (hang động này gọi là động Tiên ở huyện Lạc Thủy, Hoà Bình). ở đây, bà tu đắc đạo thành Phật Quan Âm Bồ Tát. Tám người em gồm có:
1. Đỗ Xương, hiệu là Thanh Trừ tai Kim Cương.
2. Đỗ Tiêu, hiệu Tịch độc thần Kim Cương.
3. Đỗ Kỹ, hiệu Hoàng Tùy Cầu Kim Cương.
4. Đỗ Cương, hiệu Bạch Tịnh Thủy Kim Cương.
5. Đỗ Chương, hiệu Xích Thanh Hoà Kim Cương.
6. Đỗ Dũng, hiệu là Định Trừ tai Kim Cương.
7. Đỗ Bích, hiệu là Từ Hiền thần Kim Cương.
8. Đỗ Trọng, hiệu Đại Thần lực Kim Cương.
Công chúa Đoan Trang (còn gọi là Vụ Tiên) đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Bà sinh ngày Mồng 8 tháng Tư âm lịch, hoá (mất) ngày Rằm tháng Bảy âm lịch. Mộ Bà ở Vân La, hiện nay vẫn còn có cây đề già bên cạnh. Cúng giỗ bà thì cúng giỗ cả 8 người em trai bà. Mộ tám ông cùng để ở gò Thiềm Thừ (Con Cóc) thôn Văn Khê. Bên cạnh mộ có miếu thờ Phật Bồ Tát và 8 ông em, có hai bia con cóc, trên lưng để hai bát hương. Miếu này thời Khải Định, các cụ Văn Thân phá đi, sơ tán hai bia, chuyển đem dấu nơi khác, (hiện nay còn ở bờ sông Nhuệ, làng Cự Khê, Cự Đà).
Bốn mặt bia có bài minh (4 câu):
“Phương phần bảo vật, vạn cổ nghiễm nhiên,
Chi hạng lưu hương, thiên thu trường tại.”
Dịch:
“Lối cũ dấu thơm, nghìn xưa vẫn đó.
Cây to báu vật, muôn thuở còn đây.”
(Quảng Uý hầu La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp dịch năm nguyên niên Quang Trung, 1789)
Vì vậy, dân gian có câu: 
“Con cóc là cậu ông trời
Ai mà đánh nó thì ông trời đánh cho”.
(Vì Kinh Dương Vương được tôn xưng là vua cha Ngọc Hoàng Thượng đế (ông Trời), 8 vị họ Đỗ là cậu (em mẹ) của ông Trời. ý sâu xa là vậy).
Cụ Đế Minh đã hạ cụ bà Đoan Trang từ Chính thất xuống làm thứ phi và lấy cụ bà Vũ Thị Huề (ở làng Định Công, Thanh Trì, Hà Nội hiện nay). Bà này sinh được 5 con trai, có tên như sau:
1. Nguyễn Di Khương Hạ
2. Nguyễn Nam Khương Thượng
3. Nguyễn Bắc Khương Hạ
4. Nguyễn Viết Khương Trưởng
5. Nguyễn Xâm Khương Trung.
Như vậy, là Đế Minh có 6 con trai. Trong đó, bà vợ cả có một là Lộc Tục - Kinh Dương Vương là con trưởng.
Sau khi cụ Đế Quý Công Đế thừa Sở Minh Công băng hà thì cụ Đế Minh, cụ Đế Nghi, cụ Long Cảnh cai quản nước “Cực Lạc”, thời gian này từ bẩy mươi hai bộ tộc tụ lại chín bộ tộc lớn. Cụ Đế Minh đứng đầu đất nước gồm từ núi Tử Di Sơn, đất Ô Châu, (Hoa Nam, Trung Quốc ngày nay), cả vùng đất phía nam là Chân Lạp, Hồ Tôn, Chiêm Thành… Cụ Đế Nghi, cụ Long Cảnh phò tá.
Khi ấy, ở núi Tử Di Sơn có giặc Ma Mạc quấy rối, bộ tộc vua núi báo cáo về Cụ Đế Minh. Cụ Đế Minh gọi 5 con trai (con của bà Vũ Thị Huề) giao nhiệm vụ đi đánh giặc Ma Mạc. Các vị không dám đi đánh giặc và đã từ chối.
Cụ Đế Minh đã nhiều năm bỏ rơi con trưởng Lộc Tục và bà Đoan Trang, khi có giặc lại gọi Lộc Tục (con cả) giao nhiệm vụ đi giết giặc Ma Mạc. Cụ Đoan Trang chấp nhận cho Lộc Tục đi đánh giặc. 
Long Cảnh xung phong nhận nhiệm vụ cùng đi đánh giặc với cháu. Cụ nói: “Cháu ta còn ít tuổi, để ta cùng đi giết giặc giữ nước, bảo vệ cháu ta”. 
Hai chú cháu kéo quân ngày đêm lội suối sông, vượt đèo núi đến Hồ Động Đình, Kinh Châu, dừng chân nghỉ lại thì gặp con gái Động Đình quân là Động Đình Tiên Nữ Đăng Ngàn. Hai bên thăm hỏi nhau và vào thăm Động Đình quân. Khi gặp, hai bên tỏ ý yêu nhau thì Tiên Nữ yêu cầu Lộc Tục đi “giết giặc xong về đã”. Lộc Tục cùng chú Long Cảnh chào Động Đình quân và Tiên Nữ đi đánh giặc. 
Khi dẹp giặc xong trở về, Lộc Tục kết hôn với Tiên Nữ, con gái Động Đình quân ở Dương Châu (gọi là Kinh Châu, Trung Quốc ngày nay). 
Thắng Ma Mạc trở về, cụ Đế Minh phong thưởng cho cụ Long Cảnh được lập ấp ở châu Nguyệt Đức, nay là vùng Đại áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Khi cụ mất có đền thờ và mộ cụ (Long Cảnh) tại đây. Cụ hoá ngày mồng 3 tháng Hai âm lịch.
Sau khi dẹp xong giặc Ma Mạc, cụ Đế Minh cùng cụ Long Cảnh, cụ Đế Nghi chia nước “Cực Lạc” làm ba nước có ba vương. Đất Ô Châu giao cho cụ Đế Nghi làm vương, đặt tên là “Sở Hùng Thông”. Ranh giới từ bên kia con sông phía Bắc sông Trường Giang chảy vào “Dương Tử Giang” ra biển v.v...
Phần đất còn lại, cụ Đế Minh cai quản làm chủ trưởng, sau truyền cho con cả là Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương cai quản.
Vùng Chiêm Thành, Chân Lạp... giao cho cụ Long Cảnh làm chủ.
Như vậy chia nước “Cực Lạc” làm ba nước, có ba vua và phân chia ranh giới xong. Tên hiệu chung ba nước là Xích Quỷ. 
Trước đây, người đứng đầu là Đế Minh, sau truyền ngôi cho con cả là Lộc Tục (Kinh Dương Vương) đứng đầu ba nước, chết là thần của cả ba nước nên goị là Đức vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế Nam Triều Thánh Tổ Kinh Dương Vương Nguyễn Lộc Tục.
Nơi định đô ở Châu Phong, ngày nay là thôn Vân Nội, xã Phú Lương. Ơ đây có miếu thờ gọi là Đền Thượng ở núi Hùng, Thạch Thành, Hát Giang, có nghĩa địa gọi là: Nghĩa Lĩnh, nơi mộ chôn, táng các bậc Đế Vương, Hoàng Hậu v.v... Mộ của Kinh Dương Vương cũng táng ở đây, xưa kia gọi là Hoa Cái Sơn.
Lấy tên “Xích Quỷ” làm tên hiệu như là dấu ấn thuở đầu khai thiên lập địa. Hàm ý như sau: “Xích” là màu đỏ của buổi sớm, khi chân trời hé mở, mặt trời mọc phía Đông. Mầu đỏ là dương, chỉ Phục Hy là ánh sáng của buổi sớm khi khai thiên lập địa. Vì cụ Phục Hy đã làm ra chữ viết, kế tục cha làm thuyết Phong Thủy Âm Dương Ngũ Hành, làm lịch âm có tháng nhuận của ta đang dùng ngày nay. 
Cụ Phục Hy làm ra Kinh dịch để giúp cho nhân loại về sự sống, tồn tại, là cơ sở của nền văn minh lúa nước, dùng thảo dược chữa bệnh cho dân, v.v... 
Cụ Phục Hy còn làm ra đạo giáo, ta không có tôn giáo, chữ “Đạo” là cái đầu (chữ Nho, chữ Đạo có hai chấm ở trên là hai cái mắt, ở dưới có chữ Thủ và Quai Xước). ở đây, có nghĩa là cái đầu đi tìm ra ánh sáng mới văn minh, giúp cho con người sự sống tồn tại và phát triển, khác hẳn với nội dung mọi đạo tôn giáo về sau và ngày nay.
Nhân cách hóa của nho học: “Phục Hy là Thái Hạo”, là màu đỏ của buổi sớm khi có mặt trời. Có âm, có dương. Nói nôm là ánh Thái Dương; đó thể hiện ở cả chữ và nghĩa. 
Vua Thần Nông là con trai của cụ Phục Hy kế nghiệp nên gọi Thiếu Hạo, là mặt trời quá Ngọ. Chỉ có Nhị Hoàng là: Phục Hy và Thần Nông, mà không có Tam Hoàng như trong sử sách Trung Quốc.
Người lúc này có tên, chưa có họ, lấy chữ Đế để xưng hô. Còn chữ “Đế Thiên Phục Hy” hàm ý nghĩa như sau: trong chữ nho, chữ Đế ký hiệu cái đế đèn thắp đèn dầu ta ngày xưa, cái đèn đã mang ánh sáng đầu tiên cho con người. 
Thời cổ đại lấy mỡ các con vật làm dầu thắp đèn; về sau mới lấy hạt thầu dầu ép ra dầu để thắp đèn. Cái đế là cái mai rùa hoặc vỏ con trai đổ dầu, cho bấc vào thắp sáng. Các cụ ghi lại ý như vậy là dòng đế mang ánh sáng cho loài người.
Sau đổi tên nước thì cũng đổi họ như sau: Khi xưa sống ở Châu Phong, đất bằng, nhưng tự nhiên ở đây đất đùn lên thành núi cao, gọi là núi Ngọc, sau gọi là núi Hùng. 
Chữ nho ký hiệu chữ nguyên, thêm bộ phụ vào thành chữ Nguyễn. Nên khi đổi tên nước thì cũng đổi tên họ là họ Nguyễn. Dòng trưởng lấy chữ đệm là Nguyễn Vân: còn các chi thứ lấy các chữ đệm khác nhau. 
Khi đổi họ thì cụ Đế Minh là: Nguyễn Minh Khiết, hiệu Khương Thái Công hay Thái Khương Công. Cụ Đế Nghi là: Nguyễn Nghi Nhân. Giỗ cụ Khiết, cụ Nhân ngày 15 tháng Sáu âm lịch. 
Cụ Long Cảnh là Nguyễn Long Cảnh (hay Lý Cảnh), hay gọi là Lý Lang Công, giỗ cụ ngày 3 tháng Hai âm lịch.
“Nước Xích Quỷ” là tên chung của ba nước Hồng Bàng, đến thời Lạc Long Quân gọi là nước Văn Lang. Còn tên là nhà Hùng, như ta đã biết.
Cụ Đế Nghi tức Nguyễn Nghi Nhân sang đất Ô Châu làm vua, cụ đem tên quê cụ “Làng Sở”, đặt tên nước là “Sở Hùng Thông”. 
Nước Sở, có khi gọi là Đất Sở, là một trong ba vùng đất của nước “Xích Quỷ” do Kinh Dương Vương đứng đầu làm thần chủ trưởng.

* * *


 
Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn