Thứ bảy, 16/11/2019
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Sức khỏe
Văn, thơ, nhạc, hoạ
Góc giải trí
Văn hóa trà
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay61
mod_vvisit_counterHôm trước255
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY E-mail
04/11/2019

       GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY –

                  dưới cái nhìn của thế hệ nhà giáo già ?

                                                                           Hữu Thảo

                                                         (CLB Cựu giáo chức Dòng họ Đỗ Hữu)

                     Chúng tôi vào nghề từ những năm 1959 – 1960, ngay những năm đầu triển khai cuộc Cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) của giáo dục (GD) miền Bắc, và được phục vụ ngành qua CCGD lần thứ ba (1976) cho đến đầu thế kỷ 21. Và bây giờ, không chỉ chúng tôi mà cả lớp học trò các lứa đầu thời ấy cũng đã trở thành “lớp người xưa nay hiếm”. Thời ấy những thầy cô giáo cấp III như chúng tôi còn đang rất ít ỏi, nên đến bây giờ thì số này lại càng hiếm hoi hơn. Hiện nay chúng tôi đang sống trong các khu dân cư bình dị, vẫn luôn được bà con gọi thân mật là các Cụ Giáo. Những dịp kỷ niệm 20/11 hoặc khai trường chúng tôi vẫn cố gắng tụ họp nhau để hàn huyên tâm sự. Ngoài chuyện thăm hỏi nhau về sức khỏe và gia đình, thì chủ đề chính vẫn luôn là chuyện nhà trường, chuyện GD, chuyện lớp trẻ xưa và nay. Tư duy chủ đạo của anh chị em chúng tôi bây giờ vẫn là “Ôn cố tri tân” mà, không thể cưỡng lại được !

    Chúng tôi vẫn luôn nhắc đến và hình dung lại bộ mặt GD miền Bắc từ những năm băt đầu thực hiện cuộc Cải cách GD lần thứ 2 (từ 1956), cho đến lúc thống nhất đất nước, trong đó có những kỷ niệm sâu sắc về thế hệ các trường cấp III đầu tiên ở miền Bắc sau năm 1954 mà chúng tôi vinh dự được phục vụ. Chúng tôi đã ôn lại từng bước đi của GD miền Bắc và GD cả nước sau ngày thống nhất. Chúng tôi vẫn còn nhớ, đó là sự thống nhất và cải biến 2 hệ thống GD phổ thông, 9 năm của vùng tự do cũ và 12 năm của vùng tạm chiếm cũ, thành hệ thống GD phổ thông mới 10 năm. Đó là đường lối phát triển GD phải phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (thực chất là biểu hiện của nguyên lý GD). Đặc biệt nổi lên là chủ trương gắn nhà trường với lao động sản xuất, với phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, phong trào thi đua của hậu phương phục vụ tiền tuyến theo tinh thần của khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, sôi sục đến cả không khí học đường. Đó là phong trào Thi đua Hai Tốt trong ngành GD với các điển hình tiên tiến Bắc Lý, Hải Nhân, Thanh niên lao động XHCN Hòa Bình, và Bổ túc văn hóa Cẩm Bình. Đó là sự phát triển tương đối mạnh về cả số lượng và chất lượng ở tất cả các ngành/bậc/cấp học, tạo nên một bộ mặt mới của GD Việt Nam, là một hệ thống GD tương đối đồng bộ mà trước đây chưa có, từ Mẫu giáo cho đến GD chuyên nghiệp và đại học, … (chúng ta chưa có điều kiện nhìn lại cả GD miền Nam trước 1975). Và theo đó thì ngay từ những năm đầu của cuộc cải cách GD lần 2 này, hệ thống các trường Cấp III đã được chú ý phát triển và ngày càng đông đúc dần lên. Ban đầu mỗi tỉnh mới chỉ có vài bốn trường, chẳng hạn Nam Định có Lê Hồng Phong và Hải Hậu, Thanh Hóa có Đào Duy Từ (Lam Sơn), Thọ Xuân, Hà Trung, Quảng Xương, …,  Hà Nội có nhiều hơn một chút, trong đó có trường Nguyễn Gia Thiều (Gia Lâm) mà TBT Nguyễn Phú Trọng đã từng theo học, … 

     Nhớ lại những ký ức xưa về GD miền Bắc càng làm cho chúng tôi lo buồn, trăn trở với GD hiện nay của cả nước.Tất nhiên nếu chỉ so sánh một cách cơ học về trình độ và quy mô phát triển thì GD thời ấy chỉ đáng là một mảng nhỏ. Chúng tôi coi GD thời ấy chỉ là bước khởi đầu, còn non nớt, mảnh yêu, còn ấu trĩ, thậm chi rất ấu trĩ (ví dụ chuyện đưa lao động sản xuất vào nhà trường). Từ nội dung GD, quy mô GD, cơ sở vật chất của các nhà trường, phương thức quản lý GD, trình độ (bằng cấp) của đội ngũ nhà giáo, …. thì GD bây giờ đã có một khoảng cách khá xa mà GD thời đó không thể sánh được. Nhưng vì GD Việt Nam hiện nay là sự phát triển tiếp nối của GD cả hai miền Bắc và Nam từ trước năm 1975, và đã có chung một sự lãnh đạo, quản lý thống nhất, nên chúng ta cần có cách nhìn thấu đáo, biện chứng, cần một sự đối sánh công bằng và thẳng thắn. Chúng tôi coi đây là một đòi hỏi tất yếu về tính khoa học trong nhận thức, và hơn thế nó còn là một nhu cầu tình cảm rất tự nhiên, trước thực trạng GD hiện nay của đất nước. Nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 60 năm của một số trường cấp III thế hệ đầu (1960-2020) mà anh chị em chúng tôi đã dạy, chúng tôi xin được giãi bày đôi điều tâm sự, trước hét là để tạo thêm một cơ hội cho thầy trò, bạn bè gặp lại nhau (trực tiếp hoặc trên mạng), để “ôn cố tri tân”, để cùng nhau nhâm nhi lại quá khứ đáng nhớ, đã “một thời vang bóng” đó mà tiếp tục sống có ích trong quãng đời còn lại. Và may chăng, những lời tâm tình và trao đổi nội bộ này có thể góp thêm được một tiếng nói phản biện cho GD đang đổi mới theo tinh thần NQ29 (về Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT) !? …

    Chúng tôi cho rằng, nếu bỏ qua những khiếm khuyết, những ấu trĩ, những lúng túng tất yếu lúc ban đầu của một nền GD non trẻ, mới tái hòa nhập bằng cuộc CCGD lần 2, sau 9 năm kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, thì GD thời chúng tôi đã dạy đó là một giai đoạn phát triển ấn tượng,phần sáng nhất trong lịch sử phát triển của GD Việt Nam, tính cho đến thời điểm này. Dù còn ở trình độ thấp, nhưng GD thời đó Đẹp, Sạch, Nhân văn, Trung thực, … , chứ không bầy hầy và khủng hoảng như bây giờ ! Đẹp lắm chứ, thầy cố gắng Dạy tốt, trò nỗ lực Học tốt không phải chỉ vì lợi ích của cá nhân mình, mà trước hết là vì mục đích phục vụ nhân dân và đất nước đang rất cần dân trí và nhân lực cho các nhiệm vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Hoạt động GD trong các nhà trường lúc ấy là trung thực, chất phác (chưa biết đến mẹo mực) nên được dân tin cậy : Dạy thật, học thật, thi thật, đánh giá đúng thực chất. Đẹp lắm chứ, nhân văn lắm chứ, khi mà điều tâm niệm sâu đậm của mọi thầy cô giáo là “Tất cả vì học sinh thân yêu !”, khi mà tình người trong nhà trường luôn ấm áp, … Thầy luôn hết lòng vì sự tiến bộ của trò, sẵn sàng kèm cặp giúp đỡ vô điều kiện với những trò còn yếu, bạn học thương yêu, đùm bọc, cưu mang, hỗ trợ nhau trong học hành và đời sống, đồng nghiệp luôn đoàn kết, hợp tác thật lòng vì sự nghiệp chung “trồng người”, … Cái Đẹp bản chất ấy luôn gắn liền với cái Sạch hồn nhiên, mọi quan hệ trong nhà trường luôn trong sáng vì gắn liền với tình thương và trách nhiệm, không hề bị vấy bẩn bởi những động cơ xa lạ khác, … Chuyện tiêu cực trong nhà trường nhìn chung là rất hiếm, chưa nghiêm trọng vì ít liên quan đến động cơ vụ lợi. Tuy trong đời sống xã hội vẫn luôn tồn tại khoảng cách giầu – nghèo giữa các hộ gia đình, giữa các bộ phận dân cư, giữa các vùng miền, nhưng khoảng cách ấy chưa quá lớn nên chưa ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến tính công bằng và dân chủ trong nhà trường và GD nói chung. Hình như trong thời kỳ này sự phát triển của GD chưa bị nhiễm bẩn bởi những mặt trái vốn đã có mầm mống từ một xã hội nhiều giai tầng và đang tiếp tục phân hóa về mức sống và vị thế xã hội. Và hơn thế, không khí sục sôi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, của sự nghiệp thống nhất đất nước, của nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố hậu phương là quá lớn và cao cả, đã trở thành đại nghĩa bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội. Có lẽ đại nghĩa đó đã có tác động một cách tự nhiên đến việc ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực, nếu có, giúp cho GD được phát triển tương đối an toàn, lành mạnh trong nhiều năm sau đó. Trong dòng chảy của GD lúc đó và những năm sau, đa số các trường cấp III thế hệ đầu đã luôn tỏ ra xứng đáng là thành viên của tốp dẫn đầu GD toàn miền Bắc. Các thế hệ thầy trò chúng tôi hồi ấy sau khi rời xa trường thì đa phần (và có lẽ là tuyệt đại bộ phận) đã biết sống xứng đáng, đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp chung, và trong đó không thể không bùi ngùi nhắc tới những hy sinh, mất mát ở chiến trường của một số thầy và bạn, vì nghĩa lớn đã “xếp bút nghiên lên đường ra trận” ! Tất cả chúng tôi bây giờ nhìn lại mình đều thấy tự hào, vì đã từng được dạy và học trong thời điểm lịch sử đó, tại các ngôi trường tốt, từng nổi danh đó, và đã đủ bản lĩnh để không bị tha hóa, không bị trở thành những kẻ thuộc “bộ phận không nhỏ” biến chất, hư hỏng, không phải là những “sâu mọt”, “làm khổ nhân dân, làm nghèo đất nước”, như những ai đó đang bị nhân dân nguyền rủa !    … Xin nhắc lại để chúng ta cùng nhớ là những nét đẹp rất đáng yêu đó đã diễn ra trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, đời sống vật chất của người dân miền Bắc, trong đó có dân GD, vô cùng khó khăn, thiếu thốn, mà có lẽ các thế hệ trẻ ngày nay khó lòng hình dung nổi ! …

  NHƯNG, … THẾ MÀ, … Sau khi đất nước thống nhất (1975), thì GD bắt đầu một thời kỳ khác trước nhiều lắm, những nét đẹp đáng yêu bắt đầu mờ nhạt dần và như là lặn hẳn, ròi xuất hiện nhiều chuyện Lạ, Khó hiểu, Trái quy luật,… Buồn, Lo ngại, Xấu hổ, … mà chưa ai lý giải được thấu đáo !

  Năm 1979 chúng ta bước vào cuộc CCGD lần thứ 3 với mục tiêu bao trùm và quan trọng là tạo nên một nền GD thống nhất cho cả nước, trên tất cả các mặt. Với GD phổ thông là hệ thống 12 năm, thay cho 10 năm ở miền Bắc và 12 năm ở miền Nam, mà nội dung chương trình và sách giáo khoa có nhiều thay đổi khá lớn và cơ bản. Rồi nhiều năm sau đó vẫn tiếp tục điều chỉnh CCGD, mà nổi lên có lẽ là chuyện tiếp tục thay sách CCGD cho GD phổ thông. Nền GD Việt Nam từ sau năm 1975, rồi triển khai CCGD lần thứ 3, cho đến NQ29 (từ 2013) có vẻ như vẫn không ngưng nghỉ chuyện cải tiến, cải cách, điều chỉnh, sửa đổi, thay thế, …, nhưng lại là một sự khuấy động chao đảo, bằng nhiều thử nghiệm mò mẫm, phiêu lưu, những thay đổi không cơ bản,… chứ không có định hướng chuẩn xác, khiến GD luôn trong trạng thái không ổn định, mà thực chất là khủng hoảng ! Chúng ta vẫn đang lúng túng, quẩn quanh các chuyện : chương trình và sách giáo khoa phổ thông, đổi mới đánh giá và thi tuyển, đổi mới GD đại học, tái cấu trúc hệ thống GD quốc dân, … nhưng vẫn là để đáp ứng cho mục tiêu dạy và học CHỮ của nền GD ứng thí xưa cũ ! Chúng ta triển khai khá nhiều đề án GD, tiêu tốn hàng tỷ đô la, nhưng chưa có kết quả gì đáng ghi nhận, chưa mang lại sự đổi mới nào đáng kể, có lợi cho nền GD, thậm chí đã phải chịu nhiều thất bại. Khó mà kể hết ra các đề án GD đó, mà chắc còn nhiều người trong chúng ta chưa biết : đề án ngoại ngữ 2020, đề án 20 000 tiến sỹ, đề án VNEN (mô hình trường học mới), đề án Công nghệ GD, đề án Xã hội học tập, đề án một chương trình với nhiều bộ sách giáo khoa GD phổ thông, ..., và gần đây là đề án Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT (tức NQ29), …  

   Thực tiễn GD Việt Nam hiện nay thật sự là đang khủng hoảng nghiêm trọng, tồn tại nhiều khuyết tật, mang nhiều thứ bệnh mãn tính, …rất nhiều chủ trương sai lầm, rất nhiều công việc đã bị thất bại, … , mà nguyên nhân gốc rễ là thiếu một đinh hướng vĩ mô đúng đắn, một Triết lý GD chuẩn xác. Chỉ cần nhắc lại 3 trong nhiều món nợ lớn, dai dẳng nhiều chục năm nay mà vẫn chưa trả được sòng phẳng cho người dân : sách giáo khoa phổ thông, học thêm dạy thêm và thi cử. Bây giờ nhìn vào đâu ở bất cứ ngành/bậc/cấp học nào, bất cứ khâu nào trong các hoạt động GD và quản lý GD cũng đều thấy đầy rẫy các lúng túng, tiêu cực, không theo kịp được sự mở rộng quy mô GD của cả nước và sự phát triển tiến bộ của GD thế giới. Cộng đồng xã hội đã nhìn ra khá rõ nhiều bất cập, khuyết tật, nhiều sai lầm cơ bản, … dai dẳng và nhức nhối, mà GD thời chúng tôi dạy không có (hoặc chưa kịp, hoặc không thể nảy sinh).              Có lẽ rõ nhất là các biểu hiện sau đây :

1- Mục tiêu GD toàn diện bị bóp méo, thậm chí bị hy sinh cho mục tiêu thực dụng “học để thi” của nền GD ứng thí xưa cũ. Chúng ta vẫn duy trì quá lâu cách dạy, cách học và cung cách quản lý của nền GD ứng thí, mà GD thời chúng tôi dạy chưa kịp khai tử nó (do điều kiện chiến tranh và nhiều lý do khác). Ở mọi ngành/bậc/cấp học đều coi việc truyền thụ kiến thức là mục tiêu chính, khác xa với mục tiêu chủ yếu là tạo dựng Năng lực để lập nghiệp của nền GD thực học, như ở các nền GD tiên tiến trên thế giới. Sự bảo thủ này đã tiếp tục trì kéo nền GD của chúng ta phải chịu lạc hậu và yếu kém trong nhiều chục năm, mặc dù đất nước thống nhất và đổi mới đã có điều kiên chủ quan và khách quan để xoay chuyển. Đặc biệt là phương pháp GD (bao gồm cả giảng dạy, học tập, giáo dục và rèn luyện) quá lạc hậu, vì chủ yếu vẫn là truyền thụ áp đặt, bắt làm theo, không tạo điều kiện để người học được phát huy chủ động, sáng tạo. Coi nặng truyền thụ kiến thức (lý thuyết) mà không quan tâm tạo dựng Năng lực cho người học, trước hết là Năng lực tự học.Thầy chỉ dạy kiến thức mà coi nhẹ, thậm chí là không làm, việc dạy cách tự học (và rộng ra là Năng lực Tự học) cho trò. Trò chỉ chăm chăm học kiến thức mà không quan tâm tạo dựng và rèn luyện Năng lực tự học cho mình. Do đó người học luôn bị động, phải luôn phụ thuộc vào thầy, vào sách, và sa vào xu hướng đối phó, thực dụng, “thi gì học nấy”, nên đã bằng mọi cách khác nhau để có điểm thi tốt, kể cả gian lận, kéo theo là sự bị động của cả thầy. Và hậu quả xót xa nhưng tất yếu là mục tiêu GD toàn diện đã bị bóp méo, thậm chí bị hy sinh, như chúng ta đã biết. Nhà trường chỉ đào tạo ra được hàng loạt con người mà đa phần đều chỉ biết “nói theo, làm theo” (nên phải “ăn theo, nói leo”) hơn là tích cực chủ động, năng động sáng tạo. Chất lượng GD toàn diện của diện đại trà (cả ở phổ thông và đại học) xét thực chất là non yếu so với yêu cầu và so với mặt bằng chung của GD thế giới (chứ không phải thuộc tốp 10 nền GD tốt nhất, như một tổ chức quốc tế tầm phào nào đó đã đánh lừa và chửi khéo chúng ta !).  Sẽ rất sai lầm nếu chỉ nhìn vào chất lượng thực dụng học và thi của các trường chuyên, thậm chí chỉ là các giải thi một số mặt, mà đánh giá chất lượng chung của nền GD, vì đó không phải là diện mạo thật của GD cả nước, mà chỉ là nơi “luyện gà chọi”, là nơi “chọi gà” - đúng nghĩa, là một thứ nhà trường dị dạng của nền GD Việt Nam thời chập chững bước vào kinh tế thị trường. Thật trớ trêu, nhưng lại là sự thật, chính các trường chuyên chính danh (THPT ở tỉnh và TW) và giả danh (THCS ở các huyện) cùng hàng ngàn lớp chọn mở chui là những điển hình đầy đủ và đậm đặc nhất, tiêu biểu nhất cho mô hình của nền GD ứng thí, ở đó GD toàn diện đã thật sự bị bóp méo và bị hy sinh cho mục tiêu thực dụng, thiển cận (nhưng nhiều người vẫn bị lóa mắt và bị đánh lừa, nên không nhìn rõ bản chất) ! … Ngay ở đa phần các nước giầu (mà ta vẫn gọi là tư bản), có nền GD tiên tiến, thì đâu phải có trường chuyên như chúng ta, trường chuyên đâu phải là mô hình GD hấp dẫn và ưu tiên đối với họ. Thế mà họ vẫn có học sinh giỏi không hề thua kém ta, và hơn thế chất lượng GD đại trà của họ thực sự là hơn ta một cách ngoạn mục, đích đáng, … Đối với GD đại học cũng ở tình trạng tương tự, với hơn 200 trường đại học nhưng mới chỉ có 3 được lọt vào tốp đại học có chất lượng của thế giới, được các nước công nhận văn bằng ! … Chả thế mà người Việt ta vẫn cho con em mình ùn ùn kéo sang nước họ du học, nhất là các quan chức ?! … 

   Và phải nói thêm rằng, sự xuống cấp đạo đức và lối sống từ bên ngoài xã hội thâm nhập khá nhanh vào đời sống học đường, mà nổi lên là nạn hư hỏng của học trò, là bạo lực học đường, là gian lận trong học hành và thi cử, …, là vô vàn những tiêu cực của các thầy cô, …Lỗi là tại chúng ta, vì chúng ta đã tự đánh mất đi công cụ phòng tránh hữu hiệu là giáo dục đạo đức, một nội dung GD toàn diện quan trọng đã được mặc định. Thực chất là các nhà trường do quá coi trọng việc dạy và học chữ nên đã coi nhẹ việc dạy và học làm người, lơ là việc giáo dục đạo đức và lối sống. Học trò chưa được giáo dục đến nơi đến chốn, cả lý thuyết và thực hành, những nội dung cơ bản trong các môn học Đạo đức và Giáo dục công dân, nhất là với những phẩm chất cốt lõi như Lòng Nhân ái, Tính Trung thực, Lòng Tự trọng, Lòng Yêu nước, Ý thức Trách nhiệm, …Sự chệch hướng này cũng đã trực tiếp ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc rèn luyện bản lĩnh sư phạm của các thầy cô giáo và cán bộ quản ly GD, trên cả hai mặt nghiệp vụ và đạo đức.

2- GD Việt Nam đang bị “thương mại hóa” ngày càng nặng nề, đến mức bẩn thỉu, nhơ nhớp. Ở đâu cũng “ngửi thấy mùi Tiền”, Tiền đang tìm đủ cách để lách và luồn sâu vào mọi ngõ ngách của GD, kể cả với các chủ trương đúng đắn, các công việc nghiêm cẩn nhất. Lợi ích nhóm đã và đang lộng hành trong GD Việt Nam, từ các nhà trường đến các cơ quan quản lý, đụng chạm đến mọi thành viên. Quan hệ giữa người dân ở xã hội bên ngoài với nhà trường và GD, giữa các thành viên trong nội bộ, hình như đã bi thay đổi nhiều lắm, chủ yếu chỉ là chuyện mua – bán, trao đổi, có đi có lại. Người có quyền thì đứng ra bán cái GD đang có mà người dân đang cần, những người khác trong ngành, nếu cũng vụ lợi, cũng tham tiền, thì đóng vai  “phe”, “cò”. Những việc gì dân cần đến GD hoặc liên quan đến lợi ích trong GD của dân thì ở đây đều có bán, bằng tiền hoặc bằng rất nhiều tiền. Đó là : xin và thi vào học đầu cấp (nóng nhất là thi vào chuyên), xin vào lớp chọn, học thêm, luyện thi, xin điểm, làm đẹp học bạ, xin danh hiệu Học sinh giỏi hoặc xuất sắc, thi tốt nghiệp, thi đại học, bảo vệ luận văn, luận án tốt nghiệp, xin việc trong ngành, xin mở trường mới, “chạy” các loại bằng giả (từ tú tài cho đến cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ, …), tranh cử các chức sắc quản lý, bình xét thi đua (nhất là với các danh hiệu nhà nước), bình xét các chức danh khoa học, bình xét nghĩa vụ luân chuyển, “chạy” các dự án GD lớn và nhỏ, các kế hoạch mua sắm, tu sửa trường lớp,…, rồi chia chác lợi quyền trong các phi vụ tài chính bất minh,… và cho đến cả các dịch vụ học đường (bếp ăn bán trú, nội trú, quần áo đồng phục, căng tin, trông giữ xe, …, rồi Sữa hoc đường, …), ..v v & v v, rất nhiều nữa, khó mà kể hết. Người ta không chỉ lợi dụng những nhu cầu thật của dân để kiếm chác, mà còn tạo ra những nhu cầu giả để mua bán, làm tiền. Người ta tìm cách lách qua các kẽ hở (có nhiều lắm) của các chủ trương về GD để vụ lợi, rõ nhất là chủ trương xã hội hóa GD. … …  Cũng từ đó mà chính địa bàn GD đã được coi là một trong những môi trường hấp dẫn, thích hợp cho nạn tham nhũng vặt thỏa sức tung hoành. Và chỉ xét riêng GD phổ thông, trong tập hợp đông đảo hàng ngàn nhà trường phổ thông thì chính bộ phận các trường chuyên lại là những điểm nóng, điển hình nhất cho tệ nạn “thương mại hóa” GD.              Bây giờ thì nhà trường nói riêng và GD nói chung không còn là địa chỉ tôn nghiêm, trong sạch, có văn hóa như nó phải có và như nó đã từng có nữa rồi. Sự lan truyền những cái xầu từ bên ngoài xã hội cùng với đồng Tiền đã làm cho GD trở thành một trong những nơi hoen bẩn nhất nhì của đời sống xã hội thời nay, làm cho phẩm cách nhà giáo bị hạ thấp, bị bôi bẩn quá thảm hại. Ngày nay trên thực tế, nhân dân không còn tin ở GD nữa rồi, không còn “tôn sư trọng đạo” như xưa nữa rồi ! Đau xót lắm, nhưng chưa ai chống lại nổi, chưa ai tháo gỡ được !

3- GD Việt Nam ngày càng bất bình đẳng, thiếu dân chủ và mất công bằng. Dù về mặt lý thuyết, chúng ta đang tiếp tục phấn đấu cho các mục tiêu giảm nghèo, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Nhưng trên thực tế thì người dân chưa được thụ hưởng nhiều lợi quyền từ các mục tiêu cụ thể nói trên, nhất là với tầng lớp lao động nghèo. Trong lĩnh vực GD (bao gồm cả GD và ĐT) thì các mục tiêu công bằng và dân chủ vẫn còn khó khăn, thậm chí thực trạng vẫn ngày càng phát triển theo hướng tiêu cực, rất bất lợi cho số đông người dân, nhất là bộ phận yếu thế. Chẳng hạn các biểu hiện sau :

- Khoảng cách phát triển GD giữa các vùng miền chậm được thu hẹp, nổi lên là khoảng cách thành thị - nông thôn, trong đó GD vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn rất nhiều khó khăn (đến mức thảm hại. khó chấp nhận). Không chỉ về cơ sở vật chất, mà còn về đội ngũ, về chính sách,…, và tất yếu sẽ là chất lượng GD. Quy hoạch phát triển GD chưa bao giờ được lấy ý kiến đóng góp của dân, nên không sát với lợi ích của dân, nhất là dân nghèo, và thường bị chi phối bởi các lợi ích nhóm (quan chức và người giầu).

- Hầu như ở mọi bậc/cấp học đều thu học phí, chính danh hoặc giả danh, kể cả diện phổ cập GD, và học phí không hề nhỏ đối với dân nghèo. Bên cạnh đó, như ở bậc học Mầm non và phổ thông, ngay ở các trường công lập, còn có hàng vài chục khoản phí khác (nạn lạm thu), tính gộp thành tiền triệu/ đợt thu.! Thử hỏi với mức sống của dân thường, nhất là người nghèo, thì có bao nhiêu % chịu đựng được mức đóng góp đó. Do đó luôn có một bộ phận không ít người dân không thể cho con đi học “đến đầu đến đũa” được, các cháu phải bỏ học giữa chừng, thậm chí nhiều cháu phải chịu thất học. Con số 5% dân số được công bố (thực tế là nhiều hơn) còn mù chữ là một trong những minh chứng cho sự bất công, bất bình đẳng này. Càng lên bậc học cao thì tỷ lệ con dân nghèo, con em dân tộc thiểu số càng ít đi, thậm chí không có. Thông thường như ở các nước văn minh, giầu có, thì GD mầm non và phổ thông (mục tiêu dân trí – mảng GD) được bao cấp, tức miễn phí, còn với GD chuyên nghiệp và đại học trở lên (mục tiêu nhân lực – mảng Đào tạo) thì người dân mới phải đóng góp. Ở Việt Nam chúng ta thì không làm như vậy, mà tất cả đều phải tìm cách tăng thu, tận thu nơi dân, thậm chí còn hơn thế.  

 - Vẫn cố tình duy trì hai loại trường lớp bất bình đẳng, cả chính danh và trá hình : số ít trường “loại A” là dành cho con nhà giầu và con quan chức, và số đông trường “loại Y,Z” còn lại là dành cho con dân thường. Giữa hai loại trường lớp này luôn có sự khác biệt về đầu tư, về các ưu đãi,… nên chất lượng (dù mới chỉ là việc học chữ) luôn cách biệt. Các trường chuyên THPT cấp tỉnh và TW và các trường chuyên THCS trá hình ở cấp huyện, cùng các lớp chọn (mở chui) là thuộc diện 1, luôn được cưng chiều và lại được khoác chiếc áo đẹp (là nơi ươm mầm và bồi dưỡng nhân tài !). Các trường tư mang danh chất lượng cao cũng thuộc diện 1, thường được mở ở các địa bàn kinh tế phát triển, ở các đô thị, với mức học phí “trên trời” (ví dụ lớp Một ở trường Quốc tế tại Hà Nội thu học phí đến hơn 100 triệu/năm học, chưa kể các loại phí khác !). Và các trường tư này lại cũng được khoác một chiếc áo đẹp khác (xã hội hóa GD !). Đó là chưa kể đến hàng ngàn du học sinh mỗi năm cũng vẫn chỉ là con nhà giầu và con quan chức. Đó là chưa nói đến mục đích thực chất của các trường lớp diện 1 chỉ là để phục vụ cho mục tiêu thực dụng (Vào đại học và Du học) của một thiểu số các cá nhân con quan chức, con nhà giầu (một tỷ lệ rất nhỏ so với hàng chục triệu học sinh đại trà), chứ đâu phải để có nhân tài phục vụ quê hương, đất nước. Đa phần các em này sau chuyến du học là xin lập nghiệp hoặc định cư ở nước người, và không trở về ! Trong khi đó thì số đông con dân thường, dù học giỏi, vẫn chỉ là người ngoài cuộc đứng “nhìn thèm”, để rồi lại phải chứng kiến “ Con vua thì lại làm vua – Con nhà sãi chùa lại quét lá đa” ! …  

- Có lẽ cần phải nói thêm cho rõ thực trạng mất dân chủ trong GD hiện nay. Chúng ta cần phải nhìn nhận vấn đề này trên 2 bình diện : một là mặt quản lý GD, và hai là mặt khoa học sư phạm (tức Dạy và Học). Xét về mặt quản lý trường học và quản lý GD nói chung thì thực trạng mất dân chủ thường xoay quanh mối quan hệ giữa giới lãnh đạo, quản lý với người dân liên quan, trước hết và trực tiếp là người dạy (thầy) và người học (trò). Nổi cộm lên là sự tha hóa quyền lực, là sự lạm quyền, độc quyền, tham nhũng của giới quan chức, nhất là người đứng đầu nhà trường và cơ quan quản lý. Rất nhiều chuyện tiêu cực nhức nhối, thậm chí là “động trời”, như những gì đã được tổng kết về việc thực thi Quy chế dân chủ trong các cơ quan, đơn vị, ở đó GD là bộ phận đông đảo. Thực tiễn này cho thấy quyền làm chủ thực sự trong GD không phải thuộc về người dân, kể cả các thầy và các trò, mà ông chủ thực quyền chỉ là các quan chức lãnh đạo, quản lý, trước hết là những người đứng đầu, tương tự như ở các ngành khác. Còn xét về mặt khoa học sư phạm, mà cụ thể ở đây là khoa học Dạy và khoa học Học, khoa học nhận thức, thì thực trạng mất dân chủ lại xoay quanh mối quan hệ giữa Dạy và Học, giữa truyền thụ và tiếp nhận, vận dụng, giữa GD và tự GD, giữa được dạy và Tự học, … Nổi cộm lên là cách dạy áp đặt một chiều, cách học thụ động, trò không được tranh biện với thầy, không được đánh giá, lựa chọn sách giáo khoa và tư liệu học tập, …, chỉ được phép nghe theo và làm theo thầy, theo sách, không được chủ động tự khám phá và tiếp nhận tri thức mới, không được chủ động thực hành vận dụng  …. Theo chúng tôi thì đó là sự mất dân chủ từ gốc, từ ngay trong cơ chế của hoạt động dạy và học, bởi người học không được làm chủ ngay trong chính việc học của mình, kể cả ở các trường chuyên và ở bậc đại học. Đây chính là căn bệnh tự thân của nền GD ứng thí, vì coi thường nội lực tự học. Chừng nào chúng ta chưa từ bỏ được mô hình GD ứng thí (học để thi) thì GD của chúng ta vẫn chưa có dân chủ thực chất, dân chủ từ gốc. Vì ở đó chủ thể số 1 là người học đã bị tự hy sinh và bị từ chối việc trang bị điều kiện cơ bản để thực hiện quyền làm chủ của họ, đó là Năng lực Tự học. Hiểu dân chủ và mất dân chủ nhìn theo vị thế người học là như vậy (và đối với người dạy thì cũng tương tự), nên tất yếu hiện nay trong GD chưa có tự do tư tưởng - tự do học thuật, và do đó cũng rất khó khăn để dẫn đến Sáng tạo (của cả thầy và trò), bởi năng lực sáng tạo chỉ có thể được hình thành trên cơ sở có Tự do - Dân chủ, từ ngay trong việc Học và việc Dạy.  Như vậy, xét trên cả 2 bình diện thì thực trạng mất dân chủ của GD Việt Nam là khá nặng nề, vì nó trực tiếp làm ngăn trở, làm tổn hại nội lực của GD, không cho xuất hiện, gây khó cho vận hành, nói gì đến sự thăng hoa của nội lực đó, trước hết là với chính những chủ thể số 1 của GD - thầy và trò, ! …

    Hình như khuyết tật thứ 3 này đang ngày càng đi theo chiều hướng tiêu cực, trong khi đất nước ngày càng tiến sâu vào kinh tế thị trường và hội nhập, thế giới đã tiến xa vào cách mạng công nghiệp 4.0, …tạo nên bất lợi cho số đông người dân thường, nhất là bộ phận yếu thế ! Và mơ ước ngàn đời nay của người dân Việt về một nền GD công bằng, bình đẳng, dân chủ, có chất lượng, … cho mọi người, ít nhất là về cơ hội, cũng vẫn đang nằm ở thì tương lai !

4- Nếu phải tách ra để nói thêm và nhấn mạnh cho đầy đủ và rõ hơn thì đó là : GD Việt Nam là một nền GD không trung thực khá điển hình, đã từ nhiều chục năm nay. Nói cụ thể  hơn là GD Việt Nam đang mang trọng bệnh : bệnh gian dối nặng nề và phổ biến, trước hết và chủ yếu là ở khâu đánh giá chất lượng và hiệu quả GD. Bây giờ nhìn vào đâu trong GD cũng phải cảnh giác với gian dối, lừa mị ! Không dạy thật, không học thật, không thi thật, không đánh giá thật, không báo cáo thật, …, mà hầu như đa phần đều là Ngụy hoặc Ảo. Rất giỏi ngụy tạo, rất thạo ngụy trang, ngửa ngang ngụy biện, thích viện ngụy lý … ! Để có thành tích đẹp về chất lượng thì cả trò, cả thầy, cả các cấp quản lý đều phải gian dối, phải học cách gian dối, cách làm “hàng giả”. Khi nào và ở đâu có thanh tra, kiểm tra, có thi cử, có hội nghị, hội thảo khuếch trương thành tích,…, là ở đó ngay lập tức xuất hiện gian dối. Những chuyện quay cóp, phao phim, … dẹp được ở chỗ này thì lại xuất hiện thêm ở chỗ khác, và ngày nay các phương tiện để gian lận, để dối trá này đang được hiện đại hóa bằng công nghệ cao ngày càng tinh vi. Những chuyện đạo văn trong luận án, luận văn, trong đề tài nghiên cứu khoa học, trong sáng kiến kinh nghiệm,  …, những chuyên “làm xiếc”, “đóng kịch” trước cấp trên và khách … đã trở thành phổ biến, thành “chuyện thường ngày” ở trường. Những chuyện săn tìm mua đề, lo lót với giám khảo, … để mua bằng được giải trong các kỳ thi Học sinh giỏi, kể cả ở cấp quốc gia, mà ai cũng cứ tưởng là chuyện “không thể”, thì nay đã trở thành “có thể” một cách suôn sẻ, ngon lành ! Việc dạy và học ở ngay các trường chuyên cũng là môi trường điển hình nhiễm khá nặng trọng bệnh gian dối, không trung thực ! Vụ bê bối thi THPT quốc gia 2018 chỉ là “giọt nước tràn ly” của trọng bệnh gian dối đó, chỉ là phần nổi bị lộ bé tí tẹo, còn thực trạng gian dối rộng khắp và năng nề thì vẫn còn nguyên, đang được che giấu khôn ngoan, cẩn thận ở bên trong, mà chưa ai khui ra hết được ! Đi liền theo đó là Bệnh thành tích và Háo danh (vừa là hệ quả, vừa là nguyên nhân), và có lẽ cũng đã thành kinh niên, khó chữa trị. Những thứ bệnh này lại liên quan mật thiết với chuyện Thi Đua không lành mạnh. Thực tiễn phong trào thi đua Hai Tốt đã bị biến tướng, nó luôn tạo ra một áp lực tiêu cực khó cưỡng lại lên các hoạt động GD và quản lý GD, vốn cần một sự nghiêm túc, trung thực. Thật là trớ trêu khi mà thực tiễn Thi Đua Hai Tốt bây giờ lại luôn gắn liền với rất nhiều những thành tích giả, sản phẩm giả, luôn tạo ra một sự lẫn lộn Thật – Giả, ngay cả trong sứ mệnh đào luyện con người, trong học thuật ! Bây giờ trong đời sống xã hội của chúng ta đang tồn tại khá nhiều sản phẩm giả của GD, nên dân không còn tin ở những việc làm của GD, không còn tín nhiệm với các sản phẩm của GD, đến mức phải nghi ngờ và đòi kiểm định lại chất lượng, kể cả với sản phẩm cao cấp (giải thưởng trí tuệ, công trình nghiên cứu khoa học, học vị TS, học hàm GS, ...) … …

      Ngày nay, khi chúng ta nhắc đến một trường cấp III nào đó trong số các trường cấp III thế hệ đầu, thì tất yếu không thể không điểm lại, ôn lại cái nền GD thời đó, thời chúng tôi dạy, đã sinh ra nó và nuôi dưỡng nó. Kéo theo, tất yếu là phải liên hệ, kết nối với nền GD cả nước từ sau 1975 đến nay để đối sánh. Điểm lại như thế, chúng ta đã thấy đúng thực trạng rất buồn.của GD ! Thực trạng đó là GD Việt Nam đang lạc hậu, yếu kém, khủng hoảng, và đang ngày càng đi xuống ! Nền GD Việt Nam từ sau thống nhất đến bây giờ không chỉ lạc hậu so với GD khu vực và thế giới, mà còn yếu kém hơn về nhiều mặt so với chính nền GD Việt Nam trước năm 1975 của cả hai miền Bắc và Nam. Những sản phẩm con người của GD thời nay đã góp phần bổ sung cho cộng đồng một số lượng đáng kể những” sâu mọt” đủ các loại, góp phần làm nên cái Tội “Làm khổ nhân dân, Làm nghèo đất nước”, như chúng ta đã biết. Đó là sự thật không thể chối cãi, không thể biện minh, không thể tiếp tục nói dối vì sĩ diện hão với các thế hệ hiện tại và tương lai. Chúng tôi vừa tự hào về một thời kỳ phát triển của GD trong quá khứ, mà chúng tôi đã được là một phần của chủ thể, nhưng lại vừa thất vọng, xấu hổ và lo ngại cho GD hiện tại. Chúng tôi chỉ còn biết tự an ủi, tự động viên mình bằng cách hướng đến tương lai, vì vẫn chỉ còn hy vọng về một sự thay đổi căn bản sẽ đến với GD, mong sẽ có sự xoay chuyển theo tinh thần của NQ29. …

    Cảm ơn Ngày Hội 60 năm của một số trường Cấp III thế hệ đầu đã tạo cơ hội cho chúng tôi và các bạn, trước hết là các nhà giáo, có dịp được nhìn lại đầy đủ hơn nền GD nước nhà, soi xét lại bản lĩnh nghề nghiệp của mình, và tự giác nhận lấy phần trách nhiệm đối với thực trạng chưa tốt, như đã điểm ở trên ! Vui buồn lẫn lộn, nhưng bao trùm vẫn là niềm hy vọng vào tương lai. Chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng về một nền GD mới “hậu NQ29” thật sự tươi sáng và tiến bộ, phát triển bền vững của đất nước Việt Nam chúng ta ! …

                                         Tháng 9 năm 2019

                                                      HT

                                              (038 443 0121)                                                    

                                                                      

                  


 
Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn