Thứ hai, 24/02/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay225
mod_vvisit_counterHôm trước559
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
TẾT CỔ TRUYỀN E-mail
21/01/2020

TẾT CỔ TRUYỀN
Giáo sư Trần Quốc Vượng
Lời dẫn : Tết đã đến bên thềm nhà chúng ta rồi bạn ạ, trong không khí nao nức chuẩn bị đón một mùa xuân mới.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một bài viết về Tết Cổ truyền của Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng. Ông được xem là một trong "tứ trụ" "Lâm, Lê, Tấn, Vượng"(tức gồm các Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng) của sử học Việt Nam đương đại

Tết là sự đón mừng Năm Mới, mừng cái Mới và hy vọng vào sự Đổi mới. Nhà Nho nói: “Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân” (Mỗi ngày một mới, mỗi ngày một mới, lại mỗi ngày một mới).
Nhưng Nguyên - Đán là ngày đổi mới quan trọng nhất, vì đó là ngày Đầu năm mới.
Định kỳ Tết là theo chu kỳ năm. Thời gian chu kỳ là thời gian nông nghiệp, thời gian của những nền văn minh thôn dã. Người ta nương theo chu kỳ của cây cối, cây trồng: “Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng” hay Thu hoàng, Đông tàn.
Mùa Xuân sinh sôi, mùa Hè tăng trưởng, mùa Thu gặt hái, mùa Đông chứa đựng..
Vì vậy Xuân là Sinh mà Xuân cũng có nghĩa là Xanh:
Cái hoa xuân nở, cái lá xuân xanh
Ai muốn chiết cành hãy đợi mùa xuân
Tết, dù được định ở trước hay sau ngày Lập Xuân tuỳ từng năm nhưng theo cái nhìn văn hoá - xã hội thì cũng ở sự mở đầu của mùa Xuân.
Triết lý Tết cổ truyền là cái nhìn tâm linh huyền thoại mang tính biểu trưng, với nhiều biểu tượng và pha mầu Đạo giáo. Bẩy ngày trước ngày đầu năm mới, tức 23 tháng Chạp là ngày Ngưng tạm thời của vũ trụ, theo ước lệ. Bẩy (7) là con số thiêng biểu tượng của vũ trụ, chỉ cái Toàn thể, như 3 hồn ở Tim; 7 vía ở Rốn trong toàn thể hồn vía một người đàn ông: như Đức Phật sơ sinh bên Ấn Độ bước đi 7 bước, tức khắp vùng thế giới.
Một ước lệ khác: Hôm ấy ông Công, ông Táo - vị thần tuy 3 mà 1 trong “Tam vị nhất thể” Thổ công - Thổ địa - Thổ kỳ của Đạo giáo được Việt Nam hóa thành huyền tích “2 ông 1 bà”- vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc - bản nguyên của Nhà từ khi có lửa trong lịch sử loài người, “tách hẳn khỏi giới động vật” - cưỡi Cá Chép bay lên Trời .
Ngày 23 Tết được gọi là Tết Ông Công Ông Táo. Người ta làm cỗ cũng tiến “ông Táo chầu Giời”, người ta mua cá chép sống rồi thả “phóng sinh” xuống ao hồ sông lạch.
Cùng từ ngày 23 tháng Chạp, người ta dựng Cây Nêu. Cây Nêu mang ý nghĩa phổ quát của Cây Vũ Trụ; còn gọi là cây Mặt Trời. Để xã hội hài hoà và tương thích với vũ trụ thì từ ngày 23 Tết mọi công việc làm ăn đồng áng - buôn bán - cũng tạm dừng; từ đây không ai được vào rừng khai thác, thu lượm cái gì nữa.
Xưa các công thư huyện - tỉnh - trấn xứ và triều đình đều đóng cửa nghỉ việc từ hôm đó, sau khi đã làm lễ “hạp ấn” (niêm phong mọi con dấu, ấn triện...). Đến nhà tù - nói chung - cũng không tiếp nhận tù nhân mới. Tóm lại đó là sự dừng nghỉ hoàn toàn, để hợp với thời điểm bàn giao năm cũ – mới.
Nghi thức quan trọng thứ hai của Tết sau Tết Ông Công là giây phút Giao thừa, điểm thời gian chuyển tiết giữa năm Cũ - năm Mới, được huyền thoại quan niệm như sự giao hoà Âm - Dương, phối ngẫu Đất Trời, để từ trong cái Cũ nảy sinh sự Sống - Mới... Giao hoà, giao hợp là triết lý Phồn Thực.
Một ông Táo mới - lại xuống trần thế làm chủ nhà - bếp - đất một năm mới. Người ta bầy một mâm cỗ cúng ở ngoài sân để đón ông, mừng ông. Người ta còn thay những Ông Đầu Rau cũ bằng những Ông mới.
Tín ngưỡng cơ bản của người tiểu nông Việt Nam trồng lúa nước cổ truyền, là sự thờ cúng tổ tiên.
Tháng 12 lịch cổ truyền là tháng Lạp - Chạp, người ta đi “chạp mả”, sửa sang, thắp hương trên các mộ phần, khấn khứa mời ông bà ông vải tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu...
Cùng với mâm cỗ cúng Ông Táo cũ 23 tết là cỗ cúng tổ tiên. Cùng với mâm cỗ cúng đón Ông Táo mới phút giao thừa ngoài sân là mâm cỗ cúng Tổ Tiên trên bàn thờ trong Nhà, gian giữa.
Và 3 ngày hay 5 ngày đầu năm mới là 3 - 5 ngày thường xuyên sửa cỗ cúng Tổ Tiên hưởng “hương hoa”; còn con cháu thụ lộc trong tinh thần Cộng Cảm (communion) gia đình - thân quyến.
Tình cảm gia đình của người Việt Nam xưa rất nặng: Tháng Giêng ăn Tết ở nhà
Dù đi làm ăn buôn bán nơi đâu quanh năm suốt tháng, gần ngày Tết người ta cũng tìm mọi cách trở về quê, về nhà để cúng Tổ tiên, sum họp gia đình, cộng cảm cùng thân quyến nội ngoại.
Như trên đã nói lối sống, thế ứng xử Việt 3 ngày Tết cổ truyền là:
Mồng Một thì ở nhà Cha
Mồng Hai nhà Mẹ, mồng Ba nhà thầy
Đó là đạo đức hiếu lễ, đạo đức “tôn sư” của Nho phong.
Vì Tết là Đổi Mới, là Sức Sống Mới nên gam màu chủ đạo của việc trang trí Tết là màu Đỏ- tượng trưng mầu Máu, màu của Sự Sống và Sự Tái Sinh, theo quan niệm nguyên thuỷ và được bảo lưu tại văn hoá phương Đông: Pháo đỏ, câu đối đỏ, tranh Tết đều có mầu đỏ.
Tết là sự trình diễn những món ăn dân tộc: Giò, Chả, Vây bóng, Thịt mỡ dưa hành.
Đúc kết biểu trưng Tết, không gì cô súc bằng đôi câu đối:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.
Cây nêu - tràng pháo - bánh trưng xanh.
Như bất cứ lễ hội nào Tết cũng có những thủ tục và những điều kiêng kị. Thủ tục tắm gội tất niên, mặc quần áo mới, nói lời hay ý đẹp, chúc tụng nhau năm mới, hái lộc, xuất hành, khai bút.v.v... Kiêng kị ăn nói thô tục rất thường xảy ra trong dân dã đời thường, kiêng quét nhà đổ rác ngày đầu năm mới (sợ mất lộc), người có tang kiêng đến nhà người khác đầu năm mới v.v...
Sau 3 ngày hay 5 ngày, người ta làm lễ và cỗ cúng “hoá vàng”, đốt tiền giấy và tiễn tổ tiên về lại thế giới của người đã khuất. Từ dương cơ người đang sống, tổ tiên trở lại chốn âm phần.
Từ phút Giao thừa, sự sống hồi sinh tới ngày 7 thì được coi là hoàn toàn hồi phục.
Mồng 7 tết là ngày Khai hạ, hạ nêu coi như mừng kết thúc Tết. Người ta lại làm lễ “mở cửa rừng” nơi rừng núi để dân đi lại vào rừng tự do. Người ta lại làm lễ “khai ấn” ở các công thự quan lại và triều đình.
Mọi sinh hoạt đời thường được xem là tiếp tục...
Ngày xưa “ra Giêng ngày rộng tháng dài”, cái Tết chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình, người ta bước vào mùa Hội hè đình đám, mùa sinh hoạt cộng đồng với “gái tháng Hai giai tháng Tám”: Hội xoan đất Tổ quan họ Bắc Ninh, hội pháo Đồng Kỵ ngay từ mồng 4 Tết (là sinh hoạt cộng đồng sớm nhất) và các “hội làng” rải rác suốt mấy tháng Xuân; Người ta trẩy hội chùa Hương tháng Hai cho đến hội chùa Dâu tháng Tư và chỉ kết thúc với hội Gióng, hội Đầu mùa mưa.
Dương lịch được chính thức áp dụng trong các công sở Đông Dương từ thời thuộc Pháp. Nhưng người dân quê tiểu nông tiểu thương thì vẫn sinh hoạt theo Lịch truyền thống, từ các lễ hội cho đến các phiên chợ quê…
Sau đó, Dương lịch không chỉ dừng ở công sở, nhà máy, trường học – nay đã tăng lên rất nhiều – mà bắt đầu xâm nhập vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp trung ương địa phương, với các giống má mới và các qui định thời vụ mới…
Tâm thức dân gian ở vào thế lưỡng với hai hệ Qui chiếu thời gian. Cho đến nay thì hai hệ ấy vẫn song hành, hệ Dương lịch trở thành hệ chính thống và hệ truyền thống trở thành hệ dân gian.
Hệ văn hoá dân gian với cái Tết và các tết, với các lễ hội truyền thống tới những năm cuối của thập kỷ 50 thì vẫn vậy. Nhưng từ đó thì Lễ hội gần như đứt đoạn và gần như bị cấm đoán ngăn trở một cách không chính thức. Nhiều cái tết con nhạt nhoà dần.
Riêng Tết Cả, Tết Nguyên Đán thì vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt hơn. Trong thời gian trước sau Tết Cả thì tập tục vẫn còn khá mạnh; nhịp điệu làm việc của Quý I hàng năm theo Dương lịch vẫn không thật khẩn trương. Ngày nghỉ đầu năm mới Dương lịch vẫn không ra một sinh hoạt văn hoá dân gian. Mấy năm gần đây nhiều lễ hội đã được khôi phục. Với chính sách cởi mở hơn, sinh hoạt văn hoá dân gian lại có phần hồi sinh và khởi sắc.
Như vậy, Tết Nguyên Đán – Tết Âm lịch là Tết cổ truyền mà dân gian gọi là Tết Ta ( Tết của dân ta ) .
MẤT VĂN HÓA DÂN GIAN LÀ MẤT HỒN DÂN TỘC


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn