Thứ năm, 02/04/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay488
mod_vvisit_counterHôm trước630
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (XXV) E-mail
08/02/2020

SUY NGHĨ VỀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Tiếp theo)
Tác giả: PGS Đỗ Tòng
XXV

danh mục tóm tắt tên và nội dung chính, xuất xứ tư liệu (phả, thần tích, ...); niên đại, tên, chức vụ người soạn hoặc ghi chép lại.
(Xếp sắp thứ tự là do tác giả)

Tập 1
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu:
Cổ Lôi Ngọc phả truyền thư: nội dung là thời Phục Hy đã là Chủ trưởng ở vùng đất Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ... đến các thế hệ về sau. ở đây có nói đến nước Xích Quỷ do Kinh Dương Vương đứng đầu trước khi ra đời nước Văn Lang.
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại:
- Soạn từ cổ xưa
- Người giữ Nguyễn Vân Tằng, thôn Văn Nội, Thanh Oai.
-Trưởng tộc Bách Việt, Thái Bảo Hương Quận công Nguyễn Vân Chí sao, năm Tự Đức 1, ngày 15 tháng Giêng (1848).
- Người dịch: Lê Huy Trấp và người hiệu đính: Giáo sư Vân Trình (1998).

Tập 2 :
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
-Tên là Bách Việt Tộc Phả (có ghi rõ đây là phả mật, không đưa ra ngoài).
- Nội dung: nói ý nghĩa của phả, nói Tổ đầu tiên là Khương Thái Công hay là Thái Khương Công (Nguyễn Minh Khiết), bố đẻ Kinh Dương Vương, sáng lập nhà Hùng.
- Ghi rõ lời Đinh Tiên Hoàng nói với dân ở nơi đất tổ (Vân Lôi).
- Nói lại lời của Quang Trung về viết sử nước, gia phả, phê phán Ngô Thừa Ân, Ngô Thừa Liên có mưu đồ đen tối.
- Nói phả phải có hai loại: loại kín trong nhà (mật), loại phổ biến rộng ra ngoài.
- Trong tập này, nói khá đủ các đời, anh em, vợ con, ngày giỗ, mộ táng; đến tên tuổi 18 thế hệ vua Hùng, Phù Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh (Tản Viên Sơn Thánh), Triệu Đà, ....
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Bản gốc không rõ niên đại. Trong tập này có bài văn bia ghi rõ năm Tân Mùi, trưởng tộc Nguyễn Vân Đức vâng lệnh tuyển. Có hai chỗ ghi: Một vị công thần Kinh Dương Vương triều Hùng ghi chép vào sổ sách (tr. 26); một vị công thần vương triều Hùng Huy (thứ 7) ghi chép bản gốc vào sử sách.
- Người sao chép lại bản gốc là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp (Trưởng tộc Bách Việt) Quang Trung nguyên niên (1788),
- Các trưởng tộc về sau sao chép lại năm 1911, 1919, 1924, 1930.
- Lê Huy Trấp dịch (1998)
- Trong tập này, trích: Bách Việt Tộc Phả cổ lục, La Sơn Phu Tử có nói lại lời của Quang Trung phê phán Ngô Sĩ Liên viết sử có lợi cho nước ngoài, mưu đồ đen tối, lương tâm không trong trắng.
- Phần ngoại phả (do Lê Hữu Hoài dịch) phê giặc Pháp và tay sai tìm, lấy cắp di vật đem về nước.
Tập 3
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
- Mộ và miếu thờ vợ của vua Thần Nông (tư liệu này hiện ở miếu làng Tiên Lữ tức là Tiên Sơn, xã Tiên Phương, Chương Mỹ, Hà Tây).
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Lê Túc tìm 1997. Có bản chữ Hán và bản dịch bài vị câu đối ở đây.
Tập 4
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
- Cổ Lôi ngọc phả truyền thư-Bách Việt Nguyên trưởng. Nguyễn tộc từ đường phổ ký chính bản do Quảng Oai hầu La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp phụng soạn.
- Trong tập này ghi các ngày giỗ trong năm, mộ bố, mẹ Kinh Dương Vương, vợ chồng Kinh Dương Vương, các con Kinh Dương Vương và các vị khác (1 số vua Hùng, Đinh Tiên Hoàng, Hai Bà Trưng).
- Chép lại (thế thứ các triều Hùng đầu tiên và tên tuổi, mộ táng, ngày giỗ, nơi thờ các vị, kể cả Phù Đổng Thiên Vương (Hùng Lịch), Tản Viên Sơn Thánh (Nguyễn Tuấn), Triệu Vũ Đế (Nguyễn Cẩn)... trích trong Nguyễn tộc từ đường phổ lục.
- Có phần, La Sơn nói về mộ táng bí mật của Quang Trung và Ngọc Hân ở làng Khương Đình (thuộc Hà Nội nay) và La Sơn từ chối lời dụ của Gia Long lúc lên làm vua.
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Phần chủ yếu là do La Sơn Phu Tử soạn lại (1789) và nội dung chính là tự thuật của La Sơn Phu Tử, quê gốc Vân Nội vì sao phải di cư vào xứ Nghệ. Tập này có dấu xác nhận dịch và hiệu đính của Viện Hán Nôm 9/1999.
- Sao lại bản chính 14 trang giấy, năm Kỷ Tỵ, do các bô lão thôn Đại Ân, xã Ngọc Hoà ghi là năm Kỷ Tỵ. Niên đại sao ở đây không rõ năm. Kỷ Tỵ là năm dương lịch nào vì Kỷ Tỵ có thể là năm 1869, hoặc 1929,…?
- Phần cuối tập này ghi rõ dịch từ “Nguyễn tộc từ đường phổ lục”.
- Người dịch là Tiêu Viên Nguyễn Công Lương (không có niên đại).
-Hiệu đính 12/9/1999 Nguyễn Hữu Tưởng (cán bộ Viện Hán Nôm).
Tập 5
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
- Thần tích triều vua Kinh Dương Vương (2 trang) nói Đế Lai có con gái là Âu Cơ lấy Kinh Dương Vương (?), đẻ ra 1 bọc 100 trứng nở 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha xuống biển- cho con lớn làm vua nối dõi ấy là Hùng Vương.
- Phần chính ở dưới lại nói về Long Cảnh (chú ruột của Kinh Dương Vương) gọi là ông Ba Đại Vương, ngày mất, nơi thờ và quy định về đồ cúng...
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Bản sao lục do Quan Hùng Lĩnh Quản giám tri điện, tháng Giêng ngày 16, triều vua Lý Cao Tông thứ 35 (1211).
- Người dịch: Nguyễn Công Luông (không rõ năm).
- Hiệu đính: Lê Hữu Hoài.
Tập 6
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
Trích Cổ Lôi Bách Việt Tộc Phả truyền thư về thần tích của cụ Long Cảnh, nói rõ Lộc Tục được giao cùng chú Cảnh đi đánh giặc, gặp con gái vua Động Đình (phía nam Trường Giang) sau lấy làm vợ (2 trang).
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Bản sao do Quan Hùng Lĩnh Quản giám tri điện, theo bản gốc: tháng Giêng ngày 16, triều vua Lý Cao Tông thứ 35 (1210).
- Người dịch: Nguyễn Công Luông (không rõ năm).
- Hiệu đính: Lê Hữu Hoài.
Tập 7
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
(7 trang) - Bản sao mới ở hai xã La Nội, ỷ La “Liệt Vị Đại Vương sự tích ngọc phả thực lục” (Bản ghi chép xác thực ngọc phả về các vị đại vương). Nội dung:
- Nói về nước ta thời trời đất mới mở mang, còn phân theo các sao: Thuần, Vĩ, Dục, Chẩn. Sau đó nói qua về lập nước Văn Lang.
- Phần lớn tập này nói về Đương Cảnh (Cảnh Công) đệ tử của Sơn Tinh và hai con gái bà động chúa Ma Thị (nàng Tuyên, nàng Chính), có công đánh giặc hổ sói, sau được các thôn ỷ La, La Nội (Đại La) thờ.
- ở đây có nói đến Hy Thúc (bố của Phục Hy) Hy Thúc hay là Hy Hoà, Hoà Hy

***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Soạn bản chính: Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính, năm Lê Anh Tông, Hồng Phúc thứ 2 (1573).
- Sao lại: tháng 8 năm Vĩnh Tộ 4 (Lê Thần Tông) 1622.
- Sao lại: tháng 9 năm Thành Thái 6 (1904) Trưởng tộc.
- Dịch: Cao Việt Anh, và hiệu đính: Mai Xuân Hải, Viện Hán - Nôm (6/3/1998).
Tập 8
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
(26 trang) - Ngọc phả về ba vị đại vương, Thượng Đẳng Tản Viên Sơn Thánh.
- Nội dung: Đời Hùng Vương thứ 18, có Ma Thị Cao Sơn thần nữ ở núi Mang Bồi và núi Cốc Khê, Thủ Pháp, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, xứ Hưng Hoá, nước Văn Lang, mẹ nuôi của Sơn Tinh (Nguyễn Tuấn) lập chúc thư cho kế thừa phạm vi quản lý của Bà. Việc Sơn Tinh và Thủy Tinh muốn lấy con Hùng Vương; Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh nhưng ông đề nghị nên nhường cho Thục Phán.
- Thục Phán nhận ngôi báu, cảm công đức đó, lập hai phiến đá ở trên núi, chỉ lên trời thề (phiến đá hiện nay vẫn còn).
- Theo bản Ngọc Phả ở Đền Và (Sơn Tây) “Sơn Tinh và vùng văn hoá cổ Ba Vì”, Sở VHTT Hà Tây, xuất bản 1997.
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Người soạn: Nguyễn Bính, triều Lê- Hàn lâm viện, Đông các đại học sĩ 1572.
- Sao từ bản chính: Nguyễn Hiền, Quản Giám bách thần tri điện hùng lĩnh Thiếu Khanh.
- Sao lại: Xã Sơn Đông phụng sao lại bản gốc trên (năm ?).
- Người dịch: Nguyễn Xuân Diệu (5/10/1993).
- Hiệu đính: Nguyễn Hữu Tưởng.
(Cả hai đều ở Viện Hán- Nôm).
Tập 9
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
(16 trang) - Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (trích trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập 1 (trong 4 tập).
- Nội dung: Nói về nước Văn Lang (địa vực, ông tổ với đầu đề là “Truyện họ Hồng Bàng” (Hồng Bàng Thị) do Vũ Quỳnh (1453-1516), quê Mộ Trạch, huyện Đường An (nay là Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Cẩm Bình, Hải Dương), đỗ Hoàng giáp năm 1478 (đời Lê Thánh Tông) sưu tập, chỉnh lý và soạn (trang 146-161).
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Viện Hán - Nôm dịch, NXB Thế giới xuất bản 1997.
- Đây là 1 trong 2 cuốn sách lâu đời có nói đến thời Việt cổ. Quyển “Việt điện u linh” do Lý Tế Xuyên viết tựa 1329 (có trong tập 1, Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam).
Tập 10
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
(16 trang) - Thánh tích miếu làng Tiểu Quan (xã Phùng Hưng, huyện Châu Giang, Hải Hưng).
- Nội dung: là một truyện vào đời Hùng Vương 17 (Nghị Vương) về quan hệ giữa 2 gia đình họ Vũ và họ Đỗ, thân thiết. Ông họ Đỗ có 3 con: 1 trai là Mẫn, 2 gái là ả Lã và Nương Chi. Ông họ Vũ có con gái lấy Hùng Nghị Vương (Hùng Vương-H.V, thứ17) được tôn là Ngọc Nương, làm cung phi thứ chín. Bà này sinh ra Ngũ Lang, em Hùng Duệ Vương (18).
- Ba vị Mẫn Công, Lang Công và 1 người kết bạn về sau là Mộc Công, sống chết có nhau, phù vua giúp nước.
- Đoạn cuối truyện nói gần giống như Ngọc Phả về Tản Viên Sơn Thánh không nhận và kiến nghị giao cho Thục Phán.
- ở đây đã nói đến các họ Trần, Bùi, Lê, Nguyễn, Vũ, Đỗ cùng ở trong 1 làng (nguyên gốc địa phương tên là Nhân Lý Trang, huyện Đông An (Khoái Châu) đến nhà Hậu Lê (Lê Nhân Tông) đổi là Tiểu Lan Trang, sau đổi là Tiểu Quan.
- Các di tích về địa lý hình dáng làng xã, đường, giếng, vực, hồ... vẫn còn nguyên vết tích xa xưa.
***Người soạn hoặc sao chép, người giữ, người dịch, hiệu đính và ghi chú, niên đại
- Người dịch từ chữ Hán: ông Bùi Quang Mên.
- Soạn lời văn: Bùi Quang Biểu (9/1990).
- Hiện còn giữ nhiều sắc phong (chưa dịch ra được) của triều Nguyễn.
- Ông Đỗ Văn Nghĩa quê gốc ở đây sưu tầm, phô tô lại.
Tập 11
***Tên và nội dung xuất xứ tư liệu
Nguyễn tộc từ đường phổ ký chính bản (có bản chữ Hán và bản dịch), (đệ nhị quyển).
Tập 12 Nguyễn tộc từ đường phả lục chính bản (ông trưởng tộc toát yến). Ghi lại ngày Sóc (tức là ngày đầu tháng, mồng Một) theo lịch thời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 16, tháng Tám ngày mồng Hai (Trong tập này ở mục XI).

* * *


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn