Chủ nhật, 05/04/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay51
mod_vvisit_counterHôm trước592
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Phần hai TÀI LIỆU THAM KHẢO E-mail
22/02/2020

Phần hai

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phần này lúc đầu chúng tôi định hạn chế hẹp một số ít phụ lục tham khảo; song nhiều bạn đọc đã xem qua mục lục bản thảo sưu tập này đều có ý muốn nên để thành một phần với các thông tin cần thiết gắn với những nội dung ở phần Một.
Bởi vì trong những năm gần đây có khá nhiều thông tin qua sách, tài liệu nghiên cứu, báo chí v.v... của các nhà khoa học ở nước ta và trên thế giới đã đề cập những vấn đề tiền sử nước ta với nhận thức và quan điểm, phương pháp nghiên cứu mới; đánh giá xem xét lại những nhận thức cũ do hạn chế bởi hoàn cảnh lịch sử, không ít nhà sử học, nhà chính trị bị ảnh hưởng quan điểm sai lầm của thống trị phong kiến thực dân ngoại bang và rập khuôn nhắc lại những điều người “trước nói sao thì sau nói vậy”; “Thiên triều, mẫu quốc” nói sao thì mình nói vậy.
Cho nên chúng tôi cố gắng sưu tầm giới thiệu tài liệu của nhiều tác giả, với cách xem xét đa chiều mong có thể giúp bạn đọc có thể rộng đường tham khảo nghiên cứu. Hơn nữa, những thông tin mới nói trên không phải ai cũng có điều kiện tìm được, mua được sách báo đó để tra cứu tham khảo, phần vì giá sách chưa hợp túi tiền, phần vì số lượng phát hành rất ít. Vì vậy, có phần này giúp bạn đọc một số tài liệu cần thiết và những sách nghiên cứu để cho bạn đọc giảm phần nào hạn chế về thông tin mới, tiết kiệm ít nhiều thời gian tìm tòi khảo cứu. Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu có thể trực tiếp tìm đọc nguyên bản, đầy đủ các tài liệu trên thì độ tìm hiểu sâu sắc hơn.
Do đó, vậy, ở đây chúng tôi chỉ đáp ứng tài liệu tham khảo được phần nào nguyện vọng mong muốn chính đáng của số đông bạn đọc, nhất là dòng Họ Đỗ Việt Nam. Bước đầu thực hiện sưu tầm giới thiệu còn nhiều sơ suất. Rất mong được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và bạn đọc thông cảm.

*

I

Trích đoạn sách “việt nam và cội nguồn trăm họ”

(Tác giả: Giáo sư Bùi Văn Nguyên, Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội Hà Nội - 2001)

Chương i

Họ phục hy khai sáng, họ thần nông kế tục

Theo cuốn Bách Việt ngọc phả truyền thư tại nhà thờ họ Nguyễn gốc ở làng Vân Lôi thuộc đất cố đô cổ Phong Châu, nay là làng Vân Nội ở huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, thì vị Hoàng Đế họ Phục Hy đã có công khai sáng đất nước ta từ buổi đầu ở vùng rừng núi phía Tây dãy núi Ba Vì (tức dãy Tản Viên), tính đến thời đại chúng ta, đã trên bảy ngàn năm(7.000 năm). Đây là khoảng thời gian suýt soát với thời mà Chúa Trời đã tạo ra trên mặt đất đủ các loại cỏ cây muông thú và con người...theo phần Cựu ước trong kinh thánh đạo Cơ Đốc. Tất nhiên đấy chỉ là huyền thoại, còn Đế Phục Hy lại là người có thật. Mặc dù Đế tự xưng là con của Cha Trời và Mẹ Đất theo cuốn Bách Việt ngọc phả đã dẫn ở trên. Bởi thế, Ông được dân chúng thời đó suy tôn là Đế Thiên.
Thật ra, theo truyền miệng thì Phục Hy không rõ tên tục là gì, có bà ngoại, tên hiệu là Quang Minh, người ở đất Hoa Dương, nay thuộc phần lớn ở tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc – Xưa kia đây là quê hương của các dân tộc Tày-Thái nhiều hơn là dân tộc Kinh (Kinh là một loại cây có thể kéo sợi để dệt vải). Không nghe nói ông ngoại. Chắc hẳn thời này còn nặng về chế độ mẫu hệ, con biết mẹ mà không biết cha. Tiếp đó, chế độ mẫu hệ đã chuyển dần sang chế độ phụ hệ.
Cha của Phục Hy là Đế Hoà (hoà là cây lúa), cũng gọi Hoà Hy. Mẹ của ông là Nữ Hoàng Anh(CT: Hoàng Anh : Một thứ cây cảnh ở đền chùa;). Vợ của ông là Nữ Đăng. Con trưởng là Đế Khôi, đổi họ là Thần Nông, được dân chúng suy tôn là Đế Thần. Như vậy, Phục Hy là người thật, có cha mẹ, vợ con, chứ Phục Hy không phải là nhân vật “thần thoại” để làm chồng bà Nữ Oa hay một bà “bầu mẹ” nào đó, trong các truyện “bầu mẹ” ở khắp các vùng Đông Nam á- Thái Bình Dương, sau một trận đại hồng thuỷ xa xưa. Thật ra, truyện thần thoại Việt Nam là truyện Thần Cái, Thần Đực, về sau được dịch ra chữ Hán là: Nữ Oa, Tử Tượng(CT:Không nhầm với Tứ tượng trong Bát quải (tám quẻ) của Phục Hy;) vì chữ Nữ ( ) tượng hình giống âm vật và chữ Tử ( ) tượng hình giống dương vật.
Ngay từ thời Phục Hy, Thần Nông đã có chuyên trách Thương Hiệt để xem thời tiết, khí hậu, lấy dây thắt nút làm ký hiệu chữ nghĩa, ký hiệu các hiện tượng xảy ra để lo việc trồng trọt, chứ không còn man rợ như thời xa xưa. Cái tên Phục Hy đã nói rõ trình độ tổ tiên chúng ta thời đó: chữ Phục bên trái là Nhân đứng, bên phải là chữ khuyển (con chó), tức Người đứng cạnh con chó (tức “phục” là che chở cho mọi người, kể cả con chó nuôi trong nhà. Chữ Phục này cũng thông nghĩa với chữ Phục là giúp việc, giúp đỡ. Còn chữ Hy trong tự điển gốc là chính tên của ông ấy, ông Phục Hy, bởi có ông Phục Hy mới có chữ Hy (viết hoa), chứ không phải Cha Mẹ Ông đẻ ra Ông mới mượn chữ Hán mãi mấy hàng ngàn năm về sau để đặt tên cho ông.

Vậy tại sao tên ông lại là Hy? Chuyện này không truyền lại chỉ cha mẹ mới trả lời được. Nay chúng ta chỉ xem đoán tạm mà thôi. Trẻ con hay khóc hi hi, nên đặt là Hy chăng? Chỉ dám phân tích chữ Hy tượng hình mà thôi. Trên đầu chữ Hy là chữ “dương” là con dê, tức loài thú bốn chân như chó, mèo, trâu, bò..., phía dưới bên trái là chữ”hoà” là lúa, đã nói ở trên, dưới cùng là hình cái “vợt” xúc đất, xúc phân làm trồng trọt, còn bên trái là chữ “qua” là con dao, cái gươm để giữa lúav.v...(CT: Xem: Việt Nam truyền thống, sức sống trường tồn, sách của Bùi Văn Nguyên, NXB Khoa học Xã hội, năm 1996;). Đặt tên gọi có thể là ngẫu nhiên, còn kết chữ cho cái tên theo lối thắt nút kiểu chữ khoa đẩu (con nòng nọc) thời đó, quả đã có một trình độ trí tuệ nhất định, chữ đâu có phải là còn man rợ ? Có cái hay là chữ “Vợt” về sau thành chữ: “Việt” cổ (xem hình vẽ), nói đến lúa gạo và “Việt” kim về sau nghĩa là vượt qua, như qua sông, qua núi, khi bị kẻ thù đuổi, đó là chữ “Việt” trong thuật ngữ Việt Nam hiện nay, gồm chữ tẩu là chạy bên trái và chữ tuất, hoặc chữ thú bên phải, trong đó có chữ “qua” là con dao, cái gươm như đã nói ở trên. Đấy trí tuệ của Tổ tiên chúng ta như vậy, chả trách gì kẻ thù trong lịch sử đã thấy rõ tài năng thông tuệ, nên tìm cách tiêu diệt đến cùng.
Đất nước chúng ta, tung cánh xa, nhưng vẫn ở mái nhà thế giới, có dãy Hymalaya (Hy mã lạp sơn) cao vút với ngọn Chơmơ lungma, biệt danh là núi Tuyết, phương tây gọi là E’verest cao gần 9.000m. Sở dĩ gọi là núi Tuyết vì ở đó có tuyết phủ quanh năm nên cũng gọi là Núi thông lên trời. Núi Hymalaya cao cũng sánh với Đại dương Thái Bình có chỗ sâu quá 8.000m. Có núi cao và lại có nhiều núi, có biển rộng và lại sâu, nên chúng ta khó tránh được hơi thở bất thường của trái đất. Không phải lúc nào trái đất cũng thở nhẹ nhàng, chỉ có gió mùa thông thường, mà có lúc áp thấp, áp cao, tạo ra những cơn lốc, cơn bão và trận mưa gây lũ lụt, gây sóng thần…
ấy thế, theo nhận định một số học giả thế giới, đặc biệt là Hans Stille (Hanxơ-Tin) (1876-1966), nguyên là Chủ tịch Uỷ ban kiến tạo toàn thế giới, thì đất nước ta cũng được thiên nhiên ưu đãi, do đó lòng đất chứa hầu hết các yếu tố kiến tạo chính của vỏ trái đất. Đất nươc ta lại nằm trên bản lề của đại lục phương Bắc và đại lục phương Nam của trái đất, cũng như trên bản lề của múi lục địa và múi đại dương. Và từ đó, mới nằm trên bản lề của hai vành đai kiến tạo và sinh khoáng cỡ hành tinh Thái Bình Dương và Địa Trung Hải.
Như trên đã nói, không phải ngẫu nhiên mà Tổ tiên chúng ta từ thời trước Đế Phục Hy, đã được sống yên ổn dưới mái nhà thế giới, mà không phải chịu đựng những cơn đại hồng thuỷ như trận nước dâng thời gia đình Nô-ê, theo Cựu Ước đạo Cơ Đốc, đã dẫn ở trên. Quả nhiên gia đình vua Phục Hy cũng phải chạy lũ lụt từ cao nguyên Thanh Hải, cao nguyên Tây Tạng, tiến ra phía Đông, phía mặt trời mọc ở vùng hồ Động Đình, rồi tiến xuống phía Nam, đến dãy núi Ba Vì, tức núi Tản Viên có sông Đà chảy qua. Nói không ngẫu nhiên, là nói có vấn đề tất yếu do trí tuệ dắt dẫn sau bề dày kinh nghiệm rút ra từ những trận chạy lũ từ nơi này đến nơi khác.
Có điều là: Xưa kia, đất nước mông mênh, còn người thì thưa thớt, cây cối lại bạt ngàn, cá nước đâu cũng có. Cuộc sống người xưa có thể này đây, mai đó. Lối “du canh, du cư” của một số đồng bào miền núi, đi đến đâu thì đốt rừng làm rẫy đến đó, chính là tàn dư của thời xưa nói trên.
Quả nhiên, vua Phục Hy đã từng ở vùng rừng núi Ba Vì, rồi sau xuống vùng rừng núi phía tây Ba Vì, gọi là Sơn Tây (trấn Sơn Tây), tức nơi có kiểu nhà xây bằng đá tổ ong, gọi là Nhà Đá (Thạch Thất). Nơi này, đồng ruộng mông mênh, tha hồ trồng tỉa, dâu tre khắp nơi, dâu để nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa, tre để làm nhà, làm dụng cụ hằng ngày. Trấn Sơn Tây này tiếp nối với trấn Sơn Nam, tức ở phía nam núi Ba Vì. Trấn Sơn Nam này chia thành Sơn Nam thượng bao gồm thành Đại La, tức Long Biên, còn Sơn Nam hạ, tức bao gồm tỉnh Nam Định hiện nay.
ở trấn Sơn Tây xưa kia đã có nhiều chùa chiền thờ đạo Bà-La-Môn, trong đó có chùa Tây Phương thời cổ, sau mới chuyển sang thờ Phật, một hình thức đạo Bà-La-Môn của cải cách tiến bộ, như đạo Giai Na đồng thời ( CT:Tôi đã có dịp đi thăm cái giếng do Thần Nông đào và khu mộ Ông ở gần đình làng Sở tại Chương Đức (Hà Tây), đi qua một cái chùa tên là Đăng Văn tự, gốc là chùa Đạo Bà La Môn, nay đã chuyển sang chùa thờ Phật;).
Theo sách The discovery of India của Janwharlal Néhru, tức sách phát hiện ấn Độ do nhóm Phạm Thuý Ba, tức Phạm Bá Rô dịch ra tiếng Việt (CT:Xem: Sách đã dẫn, Nhà xuất bản Văn học, in năm 1990;), thì từ xưa, chúng ta chưa hiểu hết ý nghĩa đạo Bà-La-Môn, đạo gốc mà Tất-Đạt - ta cải cách cũng như đạo Giai Na do Mâhvira cải cách. Theo Néhru, đạo Giai Na thiên về tu khổ hạnh, còn đạo Phật thì chiết trung, tránh cực đoan, chỉ chống đối tính giai cấp của các nhà sư đạo Bà-La-Môn mà thôi, còn vẫn theo những tiến bộ của đạo Bà-La-Môn như chống thờ ngẫu tượng (idole), chống thần thánh hoá...Nói cho đúng thì Tất-đạt-ta tức Phật Thích ca vốn có lòng yêu nước thương nòi, đứng về phía dân bản địa ấn Độ cổ là dân Đra-vi-điêng chống lại dân da trắng Ariăng, nhất là các nhà sư đạo Bà-La-Môn, tự cho mình là giai cấp thượng đẳng, khinh dân bản địa là man rợ, lạc hậu. Trong kinh tạng Pali, Tất-đạt-ta nói toạc ra rằng ; “Họ, tức giai cấp thượng đẳng Ariăng tự xưng, thường tự hãnh diện là giai cấp thượng đẳng, mà quên rằng mẹ của họ cũng có kinh nguyệt hằng tháng, rồi sinh ra họ như bất cứ người dân thường nào khác, chứ làm gì có chuyện giai cấp thượng đẳng bẩm sinh do Phạn thiên (tức Thượng đế của đạo Bà-La-Môn) truyền cho! Bởi do có tư tưởng yêu nước, và tư tưởng bình đẳng của mọi người dân trong tu hành, mà đạo Phật do Tất-đạt-ta sáng lập, không thể tồn tại được trong Tổ quốc mình, bên cạnh ấn Độ giáo hiện nay, có nguồn gốc từ đạo Bà-La-Môn.
Tất nhiên, ấn Độ giáo hiện nay, hay cả đạo Phật hiện nay, theo sách Phát hiện ấn Độ của Néhru đã dẫn ở trên, thì đã mất đi tư tưởng tiến bộ ban đầu, mà lại thiên về hình thức cầu cúng ngẫu tượng là chủ yếu, giảm đi tính chất triết học thời nguyên thuỷ. Kinh Vệ đà vốn từ chữ gốc là Vid, có nghĩa là sự hiểu biết về cuộc đời. Đó là cuốn kinh sớm nhất của nhân loại. Nehru đánh giá cao phần bình luận về cuốn kinh này tức phần Upanishal, đặc biệt nhấn mạnh phần nói về sử thi anh hùng ca và phần nói về các vị Bồ Tát, bởi vì các phần này tràn đầy sinh lực sáng tạo của con người.
Chưa nghe nói thời Phục Hy, đạo Bà-La-Môn đã truyền đến đất nước ta chưa, nhưng đến đời Đế Thừa Sở Minh Công thì đã có đạo này. Dâu của ông, tức vợ của Nguyễn Minh Khiết và là mẹ của Lộc Tục- Kinh Dương Vương là Bà Đỗ Đoan Trang, tên chữ là Vụ Tiên (tên một ngôi sao) có lúc đã đi tu với pháp danh: Hương Vân Cái Bồ Tát.
Theo sách Bách Việt ngọc phả truyền thư đã dẫn, thì Tổ Phục Hy ở chặng mới cuộc đời mình tại đất nước Việt Nam, ở vùng Hà Tây hiện nay, cũng gặp một trận đại hồng thuỷ, tương đương đại hồng thuỷ trong Cựu ước đã dẫn ở Phúc Yên, có điều là: Chưa hẳn đã cùng một thời gian.
Khoảng này, tổ Phục Hy đã từ Ba Vì xuống Thạch Thất, đi thăm các động núi có dân ở như Phượng Lĩnh, Trầm Đỉnh, Linh Sơn, Tiên Lữ- Tức cả một dải đất lắm đá ong, về sau gọi là Phong Châu (chữ Hán viết trên chữ Sơn, dưới chữ Phong là con ong). Có khả năng khoảng này, Phục Hy đã cho xây thành để đóng đô, chuẩn bị lập nước. Đó là thành đá ong tại khu vực Vân Lôi, gọi là thành Ong (Phong đô), tại huyện Thanh Đàm sau này đổi thành Thanh Trì thuộc ngoại ô Hà Nội hiện nay, về sau thuộc Thanh Oai (Hà Tây).Vân Lôi theo tiếng Việt là mây sấm, gọi rút gọn là vùng sấm, địa phương đọc là xấm đọc trại là Xốm. Theo tiếng đạo Bà-La-Môn thì Vân Lôi có nghĩa bóng chỉ kim cương chữ Phạn (sanscrit) là Vajra, tiếng Pháp dịch là foudre (sấm), diamant (kim cương, một thứ ngọc thạch rất cứng, như lưỡi tầm sét). Những hộ pháp trong chùa Bà-La-Môn, đứng canh phòng đều cầm kim cương chữ, cái chày vũ khí rất cứng. Tóm lại vùng đất Vân Lôi, đất Xốm được coi như đất Kim cương theo nghĩa trong đạo Bà-La-Môn về sau, cũng là trong đạo Phật.
Quả nhiên, tổ Phục Hy đã chính thức xây dựng thành nhà nước đầu tiên, một loại nhà nước nhỏ gọi là bang được các tù trưởng địa phương ủng hộ, trong đó có 5 vị được cử làm phụ tá gọi là Đế yết, “yết” có nghĩa là phô trương cho mọi người đều biết, nhà vua tự xưng là Đế Cả, kịp khi nhà nước đặt tên là nước xứ nóng, tức về sau theo chữ Hán là Viêm Bang và Đế Cả là Đế Viêm (CT:Trước đây trong thư tịch cũ, Đế Viêm coi như mất tích nên mới nhầm là Thần Nông. Thật ra Thần Nông là con trưởng của Đế Viêm.).
Theo Ngọc phả đã dẫn, Đế Viêm Phục Hy đến năm 70 tuổi mới sinh con đầu là Đế Khôi tức là Thần Nông. Vua Phục Hy được dân chúng suy tôn là Đế Thiên, nhưng rất tiếc là nhà vua đã mất cảnh giác khi dùng viên quản gia tên là Hiên Viên, khiến tên này có dịp làm tay sai cho giặc nước, dò la mọi hành động của nhà vua. Đặc biệt, tên quản gia này biết rõ nhà vua có biệt tài về nhiều mặt trong việc cai trị đất nước giúp dân thuần hoá các loại gia súc, trồng tỉa các loại cây lương thực, hoặc chọn những người có tài nghệ để quan sát thời tiết, quan sát con nước lên xuống theo mặt trăng tròn khuyết để làm nghề cá, dùng chữ thắt nút như trên đã nói để tiện cho dân chúng ghi nhớ con số vay mượn, về sau ghi cả các quẻ trên hình 8 quẻ do chính nhà vua đặt ra, gọi là Hình tám quẻ đơn, tức Đồ hình tám quẻ (Bát Quải)(CT:
(1) Chú ý: Quải là quẻ, chứ không phải là Bát Quái dễ hiểu lầm là 8 sự lạ lùng).
Nhà vua cũng đã cùng dân chúng tìm ra các loại cây gồm trái, hạt, rễ , lá, vỏ, kể cả thân cây, cùng một số sâu bọ, khoáng chất để làm thuốc chữa bệnh. Nhà vua đã truyền cho các gia đình và con cháu nhà mình do Đế Khôi đứng đầu.
Như trên đã nói: Nhà vua Phục Hy đã mấy lần bị nạn do các Đại hồng thuỷ xẩy ra. Lần tên quản gia Hiên Viên tạo phản dùng một số tay sai của hắn để bắt cóc vua Phục Hy ngay khi Đại hồng thuỷ đang trùm dâng khắp nơi vùng Trấn Sơn Tây, chủ yếu ở vùng tỉnh Hà Tây ngày nay, từ xung quanh dãy Ba Vì cho đến các nơi ở Sài Sơn, Trầm Đỉnh. Tiên Lữ, Phượng Lĩnh... Khoảng đó nhà vua còn tránh lũ lụt ở Trầm Đỉnh thì bị bọn Hiên Viên bất thần đến bắt trói và đẩy vào xe tù, định vượt qua cao nguyên Tây Tạng, chở về Cổ Bắc ở vùng Thiểm Tây. Bởi gặp lúc nước lụt đang dâng cao nên không đi được, kẻ thù liền giết chết nhà vua trên đường tháo chạy.
Ngồi trong xe tù nhà vua không hề che mặt, nhìn thẳng lên trời ứa nước mắt tự than rằng: “Ta đành chết đây chăng?”. Sau đó, nhà vua bị hạ sát. Khoảng này, trời đang tạnh ráo, thì tự nhiên mây kéo mù mịt, kín cả phương Bắc. Dân chúng nghe tin vua mất khóc lóc thảm thương. Có người nằm mộng thấy nhà vua hiển thánh (apothéose) cưỡi mây bay về Cổ Nam tức về Nước Nam ngày xưa.
Lúc đó, Đế Khôi tức Thần Nông mới 13 tuổi theo mẹ nuôi là Trinh Nương cùng một số hầu cận chạy thoát lên chợ Rồng Đất (Thổ Long thị) thuộc bộ Vũ Linh, tức nay là huyện Chương Mỹ (Hà Tây) để tránh nạn. Riêng ở vùng núi rừng Tiên Lữ, quần chúng cùng gia thần, đệ tử, họp nhau lại làm lễ chiêu hồn Đế Viêm Phục Hy, lấy ngày mồng một tháng tư âm lịch hằng năm làm ngày giỗ. Về sau, địa phương Thạch Thất gần chùa Tây Phương lập miếu Hy Sơn thờ vọng Phục Hy, Tổ Bách Việt.
Cho đến nay, Hoàng Đế Phục Hy- Tổ Bách Việt mất đã được trên 7000 năm, cũng là 7000 năm Văn Hiến của nước Việt Nam hiện đại theo chế độ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa do Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sáng.
Chắc hẳn mọi con em đất Việt ở trong nước, hay ở ngoài nước, một khi đã nhận chân được Tổ Phục Hy của chúng ta, một vị Hoàng Đế tài năng xuất chúng, cách chúng ta trên 7000 năm, đã từng bị kẻ thù Tổ quốc thủ tiêu và xoá sổ, rồi “thần thoại hoá”. Chỉ có là : Tổ Phục Hy chúng ta không còn nữa, nhưng đất nước do Phục Hy khai sáng thì vẫn truyền lại cho chúng ta, kèm theo một cuốn sách vô cùng quý giá : cuốn kinh dịch phục hy, một cuốn Triết học kỳ diệu trên trái đất chưa thấy xưa nay.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn