Chủ nhật, 05/04/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay47
mod_vvisit_counterHôm trước592
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Phần 2.1) E-mail
01/03/2020
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Phần 2 tiếp theo)

PHẦN HAI (TIẾP THEO)
Kinh dịch Phục Hy(TG Bùi Văn Nguyên)
Cuốn triết học kỳ diệu, chưa thấy xưa nay

Tất nhiên, cái tên Kinh dịch, hoặc là Hy dịch là do người đời sau đặt, còn lúc đầu tác giả Phục Hy dùng thanh tre, thanh nứa để ghép các quẻ đơn từ Khôn quay vòng đến Kiền, theo hai hướng: hướng thứ nhất, bên phải của Khôn, ngược kim đồng hồ, qua các quẻ: Cấn , Khảm, Tốn sát quẻ Kiền thì ngừng, nhảy vọt, sát quẻ Khôn từ bên trái, theo hướng thứ hai, xuôi kim đồng hồ, qua các quẻ: Chấn, Ly, Đoái, đến Kiền, đúng một vòng, gọi là tám quẻ đơn, mỗi quẻ có ba hào, theo hào âm, một vạch đứt [- -], tượng hình Âm vật hoặc một vạch liền [_], tượng hình Dương vật. Đồ hình tám quẻ đó về sau ký hiệu bằng chữ Hán, gọi là Đồ hình bát quải ( dấu hỏi), quải là quẻ, rất đơn giản như vậy.Theo Tự điển Khang Hy đời Thanh, chữ quải là quẻ, thuộc bộ bốc là bói, chỉ có hai âm theo lối phiên thiết (nói lái) là: “cổ mại” đọc là quải (dấu hỏi),hoặc là “cổ hoạch” đọc là quạch, không có âm quải (dấu sắc).Chắc hẳn chữ bốc là bói mu rùa, cũng chỉ phiên âm theo tiếng Việt từ “bói” cũng như quải phiên âm từ quẻ tiếng Việt. ấy thế mà sách Từ nguyên đời Dân quốc lợi dụng chữa chữ cổ (nói lái) thành cố (dấu sắc), do đó quải nói lái thành quải có nghĩa là lạ lùng kiểu ma quỷ, để tiện cho nhà Chu sửa chữa Kinh Dịch của Phục Hy, thật ra là tiện cho việc bênh vực nhà Chu sửa chữa đảo điên Kinh Dịch cái kiểu “râu ông nọ lại cắm cằm bà kia” một cách lạ lùng. Từ “Tám quẻ bình thường” thành “Tám quẻ quải quỷ ”.
Từ xa xưa, tổ tiên ta chưa có khái niệm về vũ trụ như chúng ta ngày nay, nhưng vẫn tự coi loài người mình là trung tâm vũ trụ (anthrôpocentrisme)(CT:Theo tiếng Hy Lạp anthrôpocentrisme là người) lấy mặt trời, mặt trăng và trái đất làm chính, đó là vũ trụ lớn mông mênh, trong đó có vũ trụ hẹp nơi mình ở, thí dụ vũ trụ mà Phục Hy và các bậc chuyên trách của mình từng quan sát nào bầu trời, nào mặt đất để quy ra Tám quẻ đơn của sách Dịch. Nói tóm lại đó là địa bàn cư trú của mình, từ dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn ra đến biển đông của Thái Bình Dương, theo sông Dương Tử dài nhất thế giới, tạm tính từ phía nam sông đó cho đến cả vùng Đông Dương trong đó có nước ta.
Đó là cái khung đồ hình Bát Quải của Phục Hy.Cái khung đó có hai chiều hoặc là hai nhân tố cơ bản là vị trí nơi ở, tức không gian và thời tiết nơi ở, tức thời gian, nói tắt tức là vị và thời. Tám quẻ ghép vào cái khung 9 khoang, theo cái khung cửu hữu theo mặt chữ Hán về sáu, tức 9 cái ô của khu vườn nguyên thuỷ, tức là hữu (chữ hữu gồm cái khung bên ngoài, như chữ quốc là nước, chỉ cái bang lớn, bên trong là chữ hữu là có, chỉ phần mình khai khẩn ban đầu:

Chữ hữu này được nhắc đến khi tổ tiên ở đất Hoa dương dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn. Khu vườn này được chia thành 9 cái ô mà ô ở giữa đào giếng lấy nước uống và trồng trọt, do đó mới có chữ tỉnh là cái giếng ở giữa . Từ đồ hình đó cũng chuyển sang đồ hình nhà Minh Đường (Nhà sáng) gồm Nội Minh đường là đô thành ở trong, nơi thờ phụng tổ tiên, thần thánh, còn Ngoại Minh Đường là đô thành ở ngoài, nơi tiếp vua chúa các nước thân cận và đàn em gọi là chư hầu.
Trở lại đồ hình Bát Quải mà ô ở giữa, để trống chỉ Thái cực chưa sinh mà nay người ta vẽ hai bào thai có mắt, một âm , một dương chưa sinh, còn dính với nhau, do đó, có người không hiểu ý nghĩa triết học của nó, lại đoán là rồng rắn hay cóc nhái... Lúc đó, tổ tiên ta chưa có khái niệm về con số zero, nay thì có thể điền con số này vào đấy, chứ cần gì phải 10+5 theo kiểu ma phương (car ré magique). Tám quẻ chung quanh ô Thái cực đó, đều được ghép theo đúng vị và thời của nó, chứ không được tuỳ tiện xoay quẻ lộn xộn, bát nháo như loại Kinh Dịch để bói hiện nay, thí dụ: Ngoài thì đề là Chu Dịch, nhưng trong thì lộn xộn, bát nháo do bốc quan tự ý sắp đặt cái kiểu “đầu Ngô mình Sở” hay đầu dê thịt chó” theo tục ngữ của ta.
Riêng trong Bát Quải của Phục Hy trình tự rất nghiêm túc, hoặc theo mẫu hệ đúng với lịch sử loài người lấy Khôn làm chuẩn, đúng là Âm Dương, chứ không phải là Dương Âm, hoặc theo phụ hệ thì lấy Kiền làm chuẩn. Xét về Vị, thì Khôn ở chính Bắc, nơi có gió lạnh, tuyết rơi và xét về Thời thì Khôn chỉ tiết đông chí (chính giữa mùa đông). Quẻ Khôn đối mặt với quẻ Kiền ở chính Nam, nơi nóng bức, nhiệt độ cao, có khi hạn hán kéo dài, rồi lũ lụt bất thường, bão tố bất thường... Đó là hai quẻ Bắc Nam đối nhau. Cũng vậy hai quẻ Ly và Khảm là hai quẻ chính Đông và chính Tây đối nhau. Quẻ Ly ở chính Đông, tượng trưng cho mặt trời lúc mới mọc, cho nên khí hậu thông thường êm dịu, trừ khi trời động. Cũng vậy, quẻ Khảm ở chính Tây, nơi mặt trời lặn, nên thông thường cũng mất dần như khi mặt trời mới mọc. Đó là bốn hướng chính, còn bốn hướng chéo dành cho các quẻ còn lại là:Cấn, Chấn, Tốn, Đoái.
Bốn quẻ này đối chéo với nhau. Có hai cách đối : Đối chéo ngang và đối chéo nghiêng. Thí dụ Cấn đối chéo ngang với Chấn và đối chéo nghiêng với Đoái, còn Tốn lại đối chéo ngang với đoái và đối chéo nghiêng với Chấn.
Tóm lại, xét theo Vị và Thời, các quẻ đối chính hay đối chéo hoặc ngang, hoặc nghiêng đều yên vị và yên thời, theo cách xoay vòng ngược và xuôi kim đồng hồ theo kiểu Âm, Dương rất chặt chẽ theo lối nhị tiến của từng cặp quẻ chồng (trùng quải) của 64 quẻ kép, mà các học giả phương Tây như Leihniz và Bouvet ở thế kỷ 17, đồng thời với Bouvet và Niwton đã chăm chú theo dõi, trong chừng mực so sánh với phép toán vi phân và tích phân. Ông Bouvet làm việc dưới sự chỉ đạo của vua Khang Hy nhà Thanh ở Trung Quốc, đã chuyển cho ông Leihniz hai hình 64 quẻ kép của Phục Hy để nghiên cứu. Hai ông đã quyết định dùng hai số 0 và 1 để ký hiệu 64 quẻ kép Phục Hy bắt đầu từ Khôn tức Thuần Khôn, Quay vòng bên phải, ngược chiều kim đồng hồ đến quẻ Cấn, rồi trở lên bên trái quẻ Khôn, xuôi chiều kim đồng hồ qua quẻ Quyết (CT:Quyết chứ không phải là Quải theo Chu Dịch- Xét về mặt chữ thì Quyết, chứ không phải Quái.), đến quẻ Kiền tức Thuần Kiền mà xét về Vị là chính Nam và về Thời là tiết Hạ chí;
Sau đây là 10 số, từ 1 đến 10 (theo phép thập phân) chuyển sang cách dùng 2 số 0 và 1 (mà hiện nay đang được dùng trong máy tính điện tử : 1 là bật, 0 là tắt ):
1=1 2=10 3=11 4=100 5=101
6=110 7=111 8=1000 9=1001 10=1010
Về quẻ = Thí dụ : Thuần Khôn = 000.000
Quẻ Bác = 000.001
Quẻ Tỷ = 000.010 v.v...
Người ta nói: Thiệu Ung đã biết phép nhị tiến trên 600 năm, trước Leihniz. Thật ra, quẻ kép đã có từ thời Phục Hy, Thần Nông cho mãi đến đời Chu Văn Vương sửa chữa theo chủ quan của ông, có Lã Vọng giúp đỡ. Có điều là: Cách xoay phương vị của Chu Văn Vương, khi ngồi trong ngục Dĩu Lý (ngục chồn hôi) hoàn toàn phản khoa học với mục đích đưa quẻ Kiền tượng trưng ngôi vua ở phương Nam, tức vua Phục Hy, xoay lên trên đè lên quẻ Cấn đơn ở hướng chéo Tây Bắc, tại vùng Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) nơi phát tích nhà Chu, là hoàn toàn sai, vì Kỳ Sơn ở Tây Bắc rất rét, không hợp với quẻ Kiền xứ nóng. Đó là chưa nói: Cách xoay vòng của Chu Văn Vương chỉ theo một vòng, thuận chiều kim đồng hồ, đối với quẻ đơn cũng như quẻ kép, mà không theo quy luật “phản phục” của Kinh Dịch là có âm, có dương, có trái, có phải, và quy luật “thất biến viết lai phục”, tức 8 quẻ sau bảy lần biến, thì chuyển sang chu kỳ mới. v,v... Vì Chu Dịch chỉ quay một vòng từ quẻ Kiền qua Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoái, nên chu kỳ Thuần Khôn trước, mà chu kỳ Thuần Đoái sau. Quả nhiên, đây cũng là một điểm phản khoa học.
ấy thế, mức phản khoa học còn nhẹ hơn là cuốn Chu Dịch hiện lưu hành, thì “đầu” là nhà Chu nhưng “ruột” là thầy bói. Thật ra, chuyện bói toán cũng chẳng hay ho gì, chỉ là bất đắc dĩ để mình tự tin, hoặc để tìm bạn cùng chí hướng (đồng nhân). Cho dù bói cũng phải dựa vào Vị và Thời, dựa vào môi trường và thời cơ, tức phải có khoa học mới tốt, chứ theo quyển Chu Dịch lộn xộn bát nháo quả nhiên vô nghĩa.
Sau đây là mở đầu quyển Chu Dịch hiện lưu hành của bốc quan :
Thuần Kiền đi đôi với Thuần Khôn qua 26 quẻ. Tiếp đó Thuần Khảm. Thuần Ly qua 20 quẻ. Tiếp nữa là Thuần Chấn – Thuần Cấn qua 4 quẻ. Cuối cùng, là Thuần Tốn – Thuần Đoái qua 6 quẻ, rồi thì cụt, không có quẻ Thuần nữa, từ quẻ Hoán cho đến quẻ Vị tế là cuối cùng, coi như chẳng đâu vào đâu?
So với Kịnh Dịch Phục Hy, thì quyển Chu Dịch hiện lưu hành, không theo một lôgíc nào cả. Trái lại trong Hy Dịch, thì mở đầu là chu kỳ Thuần Khôn, quẻ Bĩ nằm trong chu kỳ này, quẻ Độn nằm ở chu kỳ Thuần Cấn kế tiếp, quẻ Vị tế nằm ở chu kỳ Thuần Khảm, quẻ Phục nằm ở chu kỳ Thuần Tốn, quẻ Ký tế nằm ở chu kỳ Thuần Tốn, quẻ Đồng nhân nằm ở chu kỳ Thuần Ly, quẻ Thái nằm ở chu kỳ Thuần Đoái. Cuối chu kỳ này có các quẻ Đại Hữu, Quyết, tiến tới Thuần Kiền. Nhà hoạt động cách mạng Phan Bội Châu cho rằng quẻ Đại Hữu có nội dung thế giới đại đồng, là quẻ tốt nhất trong Kinh Dịch.
Cơ Xương và Lã Quyên đã sai lầm trong việc đảo lộn Hy Dịch thành Chu Dịch “bày đàng cho mang chạy”, khiến quyển Dịch “Đầu nhà Chu ruột thầy bói” ra đời đến nay, làm tốn không biết bao nhiêu là bút mực, vì “cái ruột thầy bói” chẳng theo một lôgíc nào cả nên kẻ đoán ngược, người đoán xuôi.
Gần đây, cuối năm 1973, khi người ta khai quật tại Mã Vương đôi ở Hồ Nam (Trung Quốc), bắt được tài liệu Bạch Thư Chu Dịch, viết trên lụa, trong đó lại có một cái “ruột thầy bói” cải biên, hơi khác cái “ruột” cũ, có người đã vội suy diễn, cho rằng: ý nghĩa trật tự trước sau, như trong Kinh Dịch Phục Hy, sách gốc từ xưa đến nay là không cần nữa, vì theo thầy bói thì có thể nay “ruột” này mai “ruột” kia, vì xóc quẻ may chỉ rủi mà thôi.(CT:Xem: Tóm tắt nội dung của các dịch giả Dương Ngọc Dũng, Lê Anh Minh về cuốn Kinh Dịch và cấu hình tư tưởng Trung Quốc. NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 1999)
Cũng bởi quan niệm quá đơn giản trật tự các quẻ trong Kinh Dịch nên tác giả sách Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và thần thoại (Xem : Sách đã dẫn, trang 61 . NXB Văn hoá- Thông tin 1999), đã tự tiện đổi vị trí quẻ Khôn sang chỗ quẻ Đoái để Khôn có thể đối với Kiền. Tác giả này đã quên: Dù vậy, Kiền, Khôn cũng chỉ đối chéo nghiêng mà không chính được. Vả lại, tác giả này đã lầm lẫn đến cả tổ Phục Hy của ta, mà lại tưởng là người Tàu!
Sau đây là 64 quẻ chồng (trùng quải), tức một cái “ruột thầy bói” trong Bạch Thư Chu Dịch mới tìm được ở Hồ Nam ( Trung Quốc):

1.Kiện (ống khoá)
2. Phụ (vợ)
3. Duyện
4. Lê
5.Tụng
6.Đồng nhân
7.Vô mạnh
8.Cẩu (con chó)
9.Cân (rễ , củ)
10.Thái súc
11.Bác (bóc)
12.Tổn
13. Mông
14.Phồn
15.Di
16.Cá
17.Tập cống
18.Nhu
19. Tỷ
20. Kiền
21. Tiết
22. Ký tế
23.Truân
24. Tỉnh (giêng)
25. Thần (thìn)
26. Thái (tráng)
27. Dư (thừa)
28. Tiểu quá
29. Quy muội
30. Giải
31.Phong (thịnh)
32. Hằng
33. Xuyên (sông)
34. Thái
35. Khiêm (?)
36. Lâm
37. Sư
38. Minh di
39. Phục (quay lại)
40. Đăng (lên)
41. Đoạt
42. Quyết
43. Tuỵ (nhóm họp)
44. Khảm
45. Khốn
46. Lặc
47. Tuỳ
48. Thái quá 49. La
50. Đại hữu
51. Tấn
52. Lữ
53. Quai
54. Vị thế
55. Phệ hạp
56. Đỉnh
57. Toán
58. Thiểu thục
59. Quán hoặc quan (xem)
60. Tiệm
61. Trung phục
62. Hoán
63. Gia nhân
64. ích

Tất nhiên, đây là một thứ “ruột thầy bói” có tính chất cực đoan trong việc đảo lộn bát nháo bất chấp có khoa học hay không, có lôgíc hay không. Như trên đã nói Cơ Xương và Lã Quyên đã sai lầm khi dùng Kinh Dịch Phục Hy làm con bài chính trị để cướp ngôi nhà Ân-Thương. Có điều là các tác giả Chu Dịch, tuy phản khoa học về mặt Vị và THờI, cũng như về mặt vòng quay một chiều, trái với quy luật Âm Dương có vay, có trả, nhưng tác giả đó còn phải theo Tám quẻ đơn làm Tám quẻ mốc. Và như vậy mới có Tám quẻ chồng (trùng quải) là Thuần Khôn, Thuần Kiền.v.v...
Tác giả “ruột thầy bói” mới phát hiện này trắng trợn xoá phần lớn tên quẻ từ thời Phục Hy đó, tự bịa ra một loại tên quẻ lộn xộn bát nháo, thí dụ: Mở đầu là quẻ Kiện (bên trái bộ Kim là vùng, tức chất kim khí, bên phải là chữ Kiến là xây dựng với ý nghĩa hài thanh trong phép Lục thư). Như vậy Kiện là cái ổ khoá chứ Kiện không phải là mạnh, như có người hiểu lầm, vì Kiện là mạnh, bên trái bộ nhân đứng. Phải chăng “ổ khoá” đây là “ổ khoá con người” tượng trưng cho “dương vật” mà cũng tượng trưng cho quẻ Dương, vì tiếp đó số hai là quẻ Phụ là vợ, đại diện cho quẻ Âm. Như vậy, tác giả “ruột thầy bói” này chỉ đổi danh, loè thiên hạ, mà không đổi thực? Hoặc nữa, dùng chữ cẩu là con chó cho sóng với tên quẻ là cấu là gặp như Âm gặp Dương, cái gặp đực, tức chó cái gặp chó đực? v.v...Tóm lại, chỉ hào nhoáng về hình thức để “chào khách” chứ có gì mới về khoa học? “Ruột thầy bói”cũ thì quẻ 64 là Vị tế, sau quẻ Ký tế, còn “ruột thầy bói” mới phát hiện nay, thì quẻ 64 là ích sau quẻ Gia nhân, chứ chẳng có chu kỳ gì cả!
Chắc hẳn, tất cả con em đất Việt chúng ta đều rất mừng, vì Tổ Phục Hy chúng ta tuy bị hy sinh vì trăm họ, nhưng để lại cho chúng ta một tác phẩm vô giá: Kinh Dịch Phục Hy. Nhà vua trăm họ đã xứng đáng với cái tên của mình: Hy (chữ Hy này, bên phải là tên nhà vua và bên trái là bộ Ngưu đứng (chữ nôm) chỉ con trâu bị hy sinh để tế thần). Cái tên quý của nhà vua, có thể cha mẹ Người chưa nghĩ tới khi đặt tên cho Người. Khi mất, chắc hẳn nhà vua đã truyền lại tất cả cho vị Đế Khôi với họ mới là Thần Nông, người con trưởng được người đời suy tôn là Đế Thần.
Tất nhiên, quẻ đơn,quẻ kép cùng với nội dung giản tiện, thông thường được truyền mãi cho đến đời Ân-Thương, trước khi bị nhà Chu cướp quyền. Về sau, khi hệ thống Chu Dịch ra công khai thì hệ thống Hy Dịch phải đi vào bí mật. Do đó, ở thời Xuân Thu, Khổng Tử phải đọc cả hai hệ thống và truyền cho học trò giỏi của mình, như truyền cho Tử Hạ, rồi Tử Hạ truyền cho các thế hệ sau. Như vậy, nội dung và đồ hình Kinh Dịch Phục Hy vẫn bí mật truyền từ đời này cho đến đời khác, mãi đến đời Bắc Tống thì có chuyên trách là Trần Đoàn, vốn là đạo sĩ kiêm nho gia. Trần Đoàn truyền nội dung và đồ hình Phục Hy cho Xung Phóng, Xung Phóng truyền cho Mục Tu. Mục Tu truyền cho Chu Đôn Di, Chu Đôn Di truyền cho Lý Chi Tài. Lý Chi Tài truyền cho Thiệu Ung, Thiệu Ung truyền cho hai anh em Trình Hạo và Trình Di. Đặc biệt Thiệu Ung (1011-1077) chuyên trách về Kinh Dịch Phục Hy và rất thông thạo phép quay các đồ hình của Phục Hy truyền lại. Con trai của Thiệu Ung là Thiệu Bá Ôn cũng trực tiếp học Dịch với Mục Tu, Lý Chi Tài. Riêng Trình Hạo mất sớm, truyền bản thảo cho em là Trình Di, còn Châu Hy là đàn em mãi về sau, cho nên Châu Hy dựa vào Trình Di là đương nhiên. Như ở phía trên đã nói , các bản đồ hình cùng lối nhị tiến từ quẻ này sang quẻ khác từ Khôn đến Kiền, hoặc ngược lại, rất khoa học theo đúng Vị và Thời của môi trường hoàn cảnh từ xưa đến nay làm chuẩn. Có như vậy, nhà khoa học Leihniz mới chấp nhận 64 quẻ kép của Phục Hy, ký hiệu từ 0 đến 63.
ở Việt Nam ta, từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi có nhắc đến Hy Kinh, tức Kinh Dịch Phục Hy:
“Song (cửa sổ) hoa mai, điểm quyển Hy Kinh”
(Tự Thán 37)
Và ông cũng có nói đến cả Chu Dịch:
“ Ngày nhàn mở sách xem Chu Dịch ”
(Ngôn chí, 19)
Ngay trong cuốn: Kinh Dịch và cấu hình tư tưởng Trung Quốc, đã dẫn ở bài: Phép bói của người Trung Quốc ngày xưa, Lê Anh Minh vẫntôn trọng khoa học và dẫn chứng quẻ đơn, quẻ kép của hệ thống Phục Hy:
“Tất cả 64 quẻ kép, do 8 quẻ đơn tức là Bát quải, luân phiên, đắp đổi tạo thành. Mỗi quẻ kép gồm hai quẻ đơn ghép chồng lên nhau. Tám quẻ đơn là: “Kiền, Đoái, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn”(1).
ở đây, tác giả theo hệ thống lấy Kiền làm chuẩn và Kiền ở chính Nam, chứ không phải ở Tây Bắc như trong Chu Dịch. Do đó, từ tay phải quay ngược kim đồng hồ: Kiền, Đoái, Ly, Chấn, rồi ngừng. Lại từ tay trái quẻ Kiền, quay xuôi kim đồng hồ: Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Như vậy là trọn một chu kì theo quẻ đơn, còn theo quẻ kép thì tuần tự theo phép nhị tiến xoay bằng cách chồng hai quẻ theo trình tự quẻ đơn đã nói, hoặc chọn Khôn làm chuẩn, hoặc chọn Kiền làm chuẩn. Khôn là mẹ đất, Kiền là cha trời. Con người ta sống dựa vào mẹ đất, chết trở về với mẹ đất, buổi đầu sinh ra theo chế độ mẫu hệ trước, nên lấy Khôn làm chuẩn là có lý.
Tổ Phục Hy của chúng ta sinh cách chúng ta trên bảy ngàn năm đã đưa đức tài xây dựng đất nước cho chúng ta, kể cả hi sinh tính mạng vì chúng ta. Quả nhiên cuốn kinh dịch của Người là cuốn triết học kì diệu, chưa thấy xưa nay. Giờ đây, chúng ta đã sống trọn hai thiên niên kỷ sau Công nguyên, sắp sửa bước sang thiên niên kỷ thứ ba chắn hẳn chúng ta sẽ tìm được cách ứng xử ở đời trong cuốn sách kì diệu đó, cách ứng xử vừa có ích cho mình, vừa có ích cho người nói chung.
Như ở phía trên đã nói, tổ tiên của Phục Hy đã từ chân núi Hy mã lạp sơn đến ở đất Hoa Dương , theo sông Dương Tử ra biển Đông, vùng Hồ Động Đình, rồi xuôi xuống miền Nam, ở vùng rừng Ba Vì, tức dãy Tản Viên, Bất Bạt hiện nay. Mạch núi ở đây là từ Mường Thanh đổ xuống, tầng tầng lớp lớp, liên miên chằng chịt, đến đây mọc ngang ra 3 ngọn, mặt bên trái trông ra sông Đà, phong cảnh tốt tươi khí thế nghiêm trang, có chỗ như tàn quạt lâu đài, quả nhiên đây là ngọn núi làm lá chắn giữ nước. Đó là ngọn thứ nhất. Ngọn ở giữa là ngọn thứ hai. Ngọn này dính với ngọn thứ ba ở chân núi. ở ngọn giữa, có một thung lũng cho nên có nhiều đền thờ các vị thần núi sông. Thông thường Đế Phục Hy cùng gia đình ở đây, hết mùa lũ lụt mới xuống núi lâu dài. Tuy nhiên, có việc cần thì nhà vua lúc nào cũng phải hạ sơn. Quả nhiên, khi bị tên quản gia Hiên Viên bắt trói thì nhà vua đang ở núi Tử Trầm. Núi này không cao, nhưng trên núi có chùa Bà -la- môn, dưới núi có hang đá rộng(CT:Xem : Sách đã dẫn, trang 61 . NXB Văn hoá- Thông tin 1999).
Phía trên đã nói rõ: Khi Phục Hy bị tên quản gia Hiên Viên bắt trói, thì Đế Khôi, tức Thần Nông mới 13 tuổi. Mẹ đẻ Ông nghe tin chồng đã bị tống vào xe tù và bị chết dọc đường, thì cũng tự sát theo chồng. Đế Khôi được các người hầu cận đưa đường chạy thoát lên phía chợ Rồng Đất, nay thuộc huyện Chương Đức(Hà Tây). Nhà vua được bà Trinh Nương vợ họ Hữu Sào ở đó đón làm con nuôi. Kịp khi nhà vua trưởng thành, ba con trai bà mẹ nuôi Trinh Nương tập hợp trai tráng trong vùng đánh bại tên Hiên Viên, trục xuất hắn ra khỏi biên giới đất nước Viêm Bang do Đế Khôi nối nghiệp cha làm Vua Cả (tức Hoàng Đế). Đế Khôi được quần chúng kính phục và suy tôn là Đế Thần.(CT: Dựa theo bản nghiên cứu của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp vào năm đầu Quang Trung(1788) (tập 3 và 4). Ngọc Phả đã dẫn)
Đế Thần nối nghiệp cha là Đế Thiên tiếp tục dạy dân chăn nuôi, cày cấy, đào giếng lấy nước uống và tắm rửa, dùng cỏ khô, cành khô nấu nướng. Quả nhiên, nước và lửa là vấn đề sinh hoạt hằng ngày. Giếng Thần Nông hiện còn di tích cho đến ngày nay, ở vùng gần đình Sở, Chương Đức(HàTây). Bản thân tôi (B.V.Ng) đã đến thăm ngôi giếng này. Quả nhiên đây là một ngôi giếng cổ khá lớn, có nước quanh năm. Về lửa đun bếp, thì đã qua rồi cái thời phải đi ăn trộm lửa như Pơ-rô-mê-tê ở phương Tây khiến bị trói, hay Ruồi Trâu trong Mo đẻ đất, đẻ nước của dân tộc Mường ở ta, lại bị nhốt vào trống đồng v.v...theo mưu mô của Tà Cặm Cọt... Rõ ràng trình độ sinh hoạt xã hội thời Phục Hy - Thần Nông không còn man rợ.
Nối nghiệp Vua Cha, Đế Thần đặc biệt chú trọng các mặt văn hoá sau đây :
Thứ nhất: Củng cố lại sách Dịch của tổ Phục Hy truyền lại bằng cách nói rõ ý nghĩa từng quẻ đơn và từng quẻ kép để con cháu dễ dàng thể nghiệm và dễ dàng ghi nhớ. Mặt khác, tìm thí dụ thích hợp để mọi người cùng hiểu và sử dụng. Nói rõ quan niệm Âm Dương tương sinh, tương khắc chỉ là quan niệm quy ước về chiến lược, chứ không tuyệt đối, không bài trung, không tiêu diệt nhau một cách tuyệt đối, cho dù là hai thực thể khác nhau như hai vợ chồng, vì vợ chồng đã yêu nhau trăm năm xe tóc kết đôi, thì tuy hai, mà vẫn là một. Còn chuyện quay trái, quay phải, quay ngược, quay xuôi thì chỉ riêng một thực thể, như riêng vợ, riêng chồng đều có đầu ở trên, chân ở dưới, ngực và bụng ở trước, lưng ở sau, tay chân bên trái, tay chân bên phải v.v... Chu kỳ quay trái, quay phải quay ngược, quay xuôi, của sách Dịch chỉ dựa theo cách quay của Vị và Thời trong trời đất, cách quay của con người và muôn vật trong trần gian, không có gì khác.
Thứ hai: Phải giải quyết vấn đề chữ viết, vì cách ghi nhớ bằng kiểu truyền miệng dễ thiếu sót, chứ thắt gút kiểu con nòng nọc (Khoa đẩu) do Thương Hiệt sáng tạo, chưa thật tiện lợi, tạm dùng, rồi cải biến dần dần. Chắc hẳn, lối chữ Khoa đẩu này còn được dùng cùng với Kinh Dịch Phục Hy mãi cho đến đời nhà Ân- Thương. Về sau, chữ Hán thay dần.
Riêng ở Việt Nam, chữ khoa đẩu được dùng lâu hơn. Mãi đến đời Sĩ Nhiếp vẫn còn, bị Sĩ Nhiếp cấm đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng. Theo quyển: Lê phổ phổ chí tục biên phía ông ngoại tôi (CT:Trích sách đã dẫn, sách được soạn lại năm 1996 do nhóm Lê Huy Yêm chủ trì. Cụ án sát Lê Huy Nghiệm tuy làm quan thời Pháp bảo hộ, nhưng rất yêu nước, cụ đã từng ủng hộ phái Cần Vương do Phan Đình Phùng đứng đầu;)
(B.V.NG), có đoạn nói về chữ khoa đẩu này: “Đây là đoạn nói nòi giống Con rồng cháu tiên: Chữ “con”, chữ “Rồng” viết thế này...Bọn Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang ta bắt đốt hết sách của ta, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Đây không phải là chữ Nôm đâu, chữ Nôm về sau, cách đây khoảng năm trăm năm do Nguyễn Thuyên, tức Hàn Thuyên đặt ra, bằng cách ghép chữ, còn chữ cổ Việt Nam đã có hàng mấy nghìn năm về trước. Nhà ta cất giữ được quyển sách này từ cụ Lê Huy Nghiệm. Các cháu phải biết là nước ta có chữ trước chữ Hán rất lâu....”
Lại nữa, trong quyển Thanh Hoá quan phong, Vương Duy Trinh cũng có nhắc tới dân tộc Mường dùng chữ khoa đẩu để ghi tiếng dân tộc mình. Gần đây, trong tập: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ, do Viện Văn hoá in năm 1986, tác giả Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Như vậy, dân tôc Kinh- Việt lại không còn văn bản hay sao? Đúng là tài liệu của ta vừa bị giặc nước huỷ diệt, vừa bị ta không biết cách bảo tồn, thí dụ tài liệu nói trên của gia đình cụ Lê Huy Nghiệm cũng mới bị mất sau cách mạng Tháng Tám.
Thứ ba: Người xưa làm lịch cốt để phục vụ việc chăn nuôi, săn bắn, chài lưới, trồng trọt là chủ yếu, về sau thì còn nhiều việc cần đến lịch. Hai họ Hy và Hoà được coi như chuyên trách về lịch. Thật ra, hai chữ Hy và Hoà cũng từ tên Phục Hy mà ra. Cho đến đời Nghiêu, Thuấn, người ta còn nhắc đến Hy và Hoà. Không biết từ thuở nào đã có hai câu lục bát Việt Nam:
“Ai về nhắn họ Hy, Hoà,
Nhuận năm sao chẳng nhuận và (tức vài) trống canh !”
Năm âm lịch tính theo chu kì trăng tròn thì cứ năm năm thì nhuận một tháng 2 lần, còn năm dương lịch tính theo chu kì mặt trời, thì năm nhuận chỉ thêm một ngày vào tháng hai, ví dụ năm 2000 này là năm nhuận, tháng hai có ngày 29. Vậy không hề có chuyện nhuận giờ. Chẳng qua câu ca dao trên đâu có tính cách trào lộng châm biếm một cặp vợ chồng nào đó cưới nhau vào mùa hè, là mùa có tiết Hạ chí, là tiết có đêm ngắn nhất, kì dư trước và sau Hạ chí, đêm nào cũng ngắn: “Đêm tháng năm, chưa nằm đã sáng !”. ý “Nhuận và trống canh” là như vậy. Đối với câu tục ngữ nói trên, thì câu tục ngữ sau đây lại nói ngược lại: “Mặt trời tháng mười chưa cười đã tối”. ý nói: mặt trời tiết Đông chí, tức ngày khoảng đó rất ngắn.
Từ thời Phục Hy-Thần Nông, Tổ tiên ta đã biết rõ thời tiết bốn mùa trong một năm. Trên mặt trống đồng, như trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ đều có hoa văn chỉ rõ các ngày Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí, v.v như ở phía trên đã nói.
Về lịch, tuy Tổ tiên ta vừa theo Âm lịch, vừa theo Dương lịch, nhưng độ chuẩn xác chẳng thua gì phương Tây. Thí dụ: các nhà làm lịch ta hiện nay vẫn nhắc đến lịch Chuyên Húc họ Cao Dương, hậu duệ của Nguyễn Nghi Nhân, vua nước Sở đầu tiên. Nguyễn Nghi Nhân là em đẻ sinh đôi của Nguyễn Minh Khiết, thân phụ của Lộc Tục Kinh Dương Vương. Như vậy Chuyên Húc lại là ông tổ của Khuất Nguyên, tác giả của tác phẩm Sở Từ mà Khuất Nguyên thường nói về họ Cao Dương. ấy thế mà có người đã hồ đồ nói chữ nghĩa yêu nước của Khuất Nguyên là của Tần Hán, sự thật là chống Tần Hán.
Riêng nói về lịch, thì lịch Chuyên Húc, kế tục lịch từ thời Nhị Hoàng Phục Hy- Thần Nông, rất đúng với vũ trụ quan và nhân sinh quan qua triết lý Hy Dịch.
Thứ tư: Đặc biệt, Đế Thần kế tục thân phụ mình là Đế Thiên, chú ý khuyên mọi nhà, mọi người chú ý tìm các loại cây tự mình xem xét có thể chữa bệnh để giúp nhau khi ốm đau. Riêng bản thân mình, Đế Thần có vườn trồng nhiều loại cây làm thuốc và thử các vị thuốc công hiệu và phổ biến rộng. Cử chỉ cứu người, cứu mình đó lan rộng khắp nơi, dân chúng lại càng kính yêu Người. Tương truyền có lúc Người thử thuốc ngộ độc, nhưng lại có thuốc dã độc. Trước đây ở ta có lưu truyền cuốn Thần Nông bản thảo nhưng về sau bị giặc nước tiêu huỷ. Chắc hẳn, trong sách Dược tính hiện nay, có một phần của Thần Nông truyền lại.
Xét về lịch sử cổ đại truyền đến tận ngày nay thì chỉ Việt Nam là có hệ thống Nhị hoàng tức Phục Hy – Thần Nông, chứ không thể nói Tam hoàng chung chung là: Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng, nhằm đưa Hoàng đế vào ngôi thứ ba. Về mặt chữ Hán, Nhị hoàng là hai “vua lớn” (chữ hoàng gồm chữ Bạch là trắng ở trên và chữ Vương là vua ở dưới, còn Hoàng đế thì lại khác, hoàng là vàng, tức màu vàng, tức vua ở vùng sông Hoàng hà, không ăn khớp với Nhị hoàng, là hai vua lớn).
Theo sự nghiên cứu của nhà sử học người Pháp là Ê-bec-na (Ebernard) trong cuốn B (Historie de la Chine), in năm 1952 ở Paris, thì khoảng 4500 năm trước Công lịch, Hoàng đế còn là một vị thần thành hoàng ven sông Hoàng hà ở Sơn Tây, tức phía tây núi Thái Sơn. Về sau, người ta đưa vị thần đó làm vua đầu tiên của dân tộc Trung Hoa. Nhân đó, một vài lãnh chúa địa phương tự nhận mình là dòng dõi của Hoàng đế, để tỏ ra rằng tổ tiên mình còn cao quý hơn cả tổ tiên nhà Chu và mình cũng xứng đáng làm Thiên tử tức như Vua lớn. Thế là, dần dần, Hoàng đế được hầu hết các quý tộc Trung Hoa, kể cả nhà Chu thờ Hoàng đế như Thuỷ tổ ngang với Phục Hy-Thần Nông. Có điều, Khổng Tử lại chẳng nói gì đến Hoàng đế cả.
Để cho có vẻ khoa học, người ta lại nói Hoàng đế thuộc họ Hiên Viên, là họ làm ra xe cộ. Nhưng họ Hiên Viên thì lại ở sau các họ Phục Hy-Thần Nông, không thể thuộc loại thuỷ tổ loài người được(1). Có lẽ, khó khăn như vậy, cho nên, trong sách Sử ký của mình Tư Mã Thiên chỉ đưa Hoàng đế đứng đầu Ngũ đế, chứ không tiện làm Tam hoàng, đứng sau Thần Nông. Có điều là: Tư Mã Thiên đã sai lầm khi đưa Hoàng đế vào thì laị cắt Đế Chí là vị đế thứ ba trong danh sách cũ. Tóm lại, Ngũ đế theo Tư Mã Thiên là: Hoàng đế, Chuyên Húc, Cốc, Nghiêu, Thuấn.
Các tác giả Bảng đối chiếu Âm Dương lịch 2000 năm và niên biểu lịch sử do Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, in năm 1976 theo sử ký Tư Mã Thiên, nên đã cắt Đế Chí và đưa Hoàng đế vào đứng đầu tính từ năm 2550 đến năm 2140 trước Công lịch.
Nhận thấy làm như Tư Mã Thiên là phản khoa học nên các tác giả Tân Hoa tự điển Thương vụ ấn thư quán, Thượng Hải in năm 1956 có sáng kiến đề cao Hoàng đế, mà không cắt Đế Chí, bằng cách tách Hoàng đế đưa lên trên, rồi bịa ra một nhân vật Thiếu Hạo Kim Thiên Thị dưới Hoàng đế, tiếp theo đó, phục hồi ngôi thứ nhất cho Chuyên Húc, cũng như phục hồi ngôi thứ ba cho Đế Chí như sau:
Hoàng Đế, Hiên Viên thị (2698-2599)
Thiếu Hạo, Kim Thiên thị (2598-2515)
Chuyên Húc, Cao Dương thị (2514-2437)
Đế Cốc, Cao Tân thị (2436-2367)
Đế Chí, Cao Tân thị (2366-2358)
Đường Nghiêu (2357-2258 )
Ngu Thuấn (2255-2208)
Thật ra, ngôi Hoàng Đế chiếm, chính là ngôi của Phục Hy, tên thuỵ là Thái Hạo. Sau Phục Hy là Thần Nông tên thuỵ là Thiếu Hạo. Không hề có họ Kim Thiên, mà chỉ có họ Cát Thiên, “cát” là dây leo chỉ thời biết kéo dây dệt vải, chứ nói Kim Thiên với chữ kim là vàng bạc, kim khí thì là thời đồ đồng, đồ sắt mãi về sau. Phục Hy, Thần Nông ở thời đồ đá mới. Trong quyển Trung Quốc cổ sử đích truyền thuyết thời đại của Từ Húc Sinh, có các bảng liệt kê các họ thời cổ, trong đó có họ Cát Thiên.
Rất tiếc, chưa có sách nào nói rõ người đứng đầu họ Hiên Viên là ai? Khó có thể một vị thần kiểu thành hoàng như Hoàng đế mà lại là vua họ Hiên Viên? Gần đây, Từ Chỉnh đã mượn cốt lõi chuyện Bàn Hồ của dân tộc Dao mà dựng lên chuyện Bàn Cổ, một kiểu thần thoại Trung Hoa. Cái cách lấy “râu ông nọ, cắm cằm bà kia” đã bị nhà văn Ba Kim phê phán trong tác phẩm Văn học luận của (quyển thượng), mục Văn học? hiện thực, do nhà xuất bản Tân văn nghệ xuất bản xã. Thượng Hải, phát hành năm1957. Thật ra, lịch sử cổ đại của một dân tộc, dù có xa xưa đến mấy mà có thật thì vẫn là thậ, dù kẻ thù có muốn xoá đi cũng không được. Ngược lại, người đời sau cố tình dựng lên một lịch sử cổ đại để phô trương cũng khó thành công, mà có khi lại phản tác dụng.
Như vậy, Nhị Hoàng Phục Hy-Thần Nông là những vị vua lớn có một không hai, ở phương Đông và Đông Nam á, những vị vua có thật, có con cháu trăm họ còn lại đến nay ở nhà thờ gốc họ Nguyễn ở Vân Lôi, Thanh Oai (Hà Tây). Chính Hoài Nam Tư cũng xác nhận Nhị Hoàng là Phục Hy-Thần Nông. Nếu Phục Hy để lại tám quẻ đơn và 64 quẻ kép, sách Dịch với ý nghĩa ban đầu của nó, thì Thần Nông để lại cốt lõi sách thuốc và sách nói về từng vị thuốc theo lối “gia truyền” từ xưa đến nay. Đó là chưa nói Thần Nông còn để lại một cái giếng gần nơi ông ở, cũng như gần đình Sở, nơi mộ của ông, như đã nói ở trên.
Đế Thần, tức là Đế Khôi sinh con trai trưởng là Đế Triết. Nhà vua nối nghiệp thân phụ, đến cánh đồng Tương ở Châu Thuần Lãm, về sau là Quang Lãm, tìm nơi đất hoang, hô hào dân chúng khai khẩn làm ruộng, đồng thời làm kiêm nghề chài lưới. Dân chúng chăm chỉ sản xuất, chẳng bao lâu giàu có, của ăn, của để, Nhà vua tiếp tục làm những gì thân phụ mình đã làm, nhất là hô hào nhân dân trồng các loại cây làm thuốc, phơi khô, gác bếp, dự phòng khi bệnh tật khỏi phải đi kiếm, có khi không kịp với bệnh phát. So với Đế Thần, và trước đó nữa, với Đế Thiên thì nhà vua không bằng về tài, nhưng cũng không kém về đức, nên được nhân dân cả nước kính phục. Về già, nhà vua mất, mộ táng tại trong vùng, nơi nghĩa địa chung các vua và các quan cao cấp, tại động Hoa Cái, gần đô thành Ong , tức thành Phong Châu.
Con trưởng của nhà vua là Đế Thừa(CT:Đế Thừa tức là Sở Minh Công , sinh 3 con trai là Đế Minh Nguyễn Minh Khiết, Đế Nghi Nguyễn Nghi Nhân và Lý Long Cảnh.) lên nối ngôi…



 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn