Thứ tư, 12/08/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay548
mod_vvisit_counterHôm trước1856
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Phần 2.2) E-mail
23/03/2020


II

Trích sách: “ kinh dịch phục hy, đạo người trung chính thức thời”

Tác giả: giáo sư Bùi Văn Nguyên, sách dày 472 trang,
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội-1997.
Trích mấy vấn đề: Lời giới thiệu và phần dẫn nhập.
Đây là tác phẩm rất súc tích. Nếu nghiên cứu được toàn bộ thì tốt. Các phần, các điểm đều rất quan trọng, có mối liên quan rất tiếc là không thể trích hết cả được.

lời giới thiệu

Lâu nay, chúng ta nghiên cứu và khi cần thì xóc quẻ trắc nghiệm qua cuốn CHU DỊCH hiện lưu hành. Với tên gọi đó rõ ràng tác giả sách này(chắc hẳn là các bốc quan) không dùng hệ thống quẻ kép(trùng quải) của Phục Hy, nhưng không hiểu sao, cũng không dùng hệ thống quẻ của Chu Văn Vương, mà lại dùng một hệ thống theo lối sắp hai quẻ ít nhiều trái ngược với nhau, thí dụ: Kiền, Khôn, Ly, Khảm, Bĩ, Thái, Ký tế, Vị tế...Xét về hai mốc chuẩn là Vị và Thời theo hệ thống Phục Hy, thì lối sắp từng cặp quẻ tuỳ tiện như trên không ăn khớp tý nào.
Giáo sư Bùi Văn Nguyên đã để cả cuộc đời, từ trước Cách Mạng Tháng Tám đến nay, tuy lúc trẻ đọc Dịch không hiểu, vẫn kiên trì sưu tập những sách, những bài báo viết về Dịch. Giờ đây Giáo sư đã về hưu, ở tuổi gần tám mươi, hăng hái trở lại với Dịch. Giáo sư đọc rất kỹ cuốn Kinh Dịch - Đạo người quân tử của Nguyễn Hiến Lê, rất tâm đắc với học giả này và cố gắng phục hồi hệ thống Tiên Thiên Bát Quải đồ viết thành cuốn KINH DỊCH – PHỤC HY - Đạo người trung chính, thức thời với bốn phần, trừ phần Dẫn nhập ở đầu và phần Kết thúc ở cuối, nhằm theo gương các bậc tiền bối Trung Quốc và Việt Nam, đề cao nguyên lý triết học trong Hy Dịch.
Ở phần một, tác giả nêu lên nguyên uỷ nhận thức tự nhiên và quá trình cấu trúc biểu đồ Bát Quải Phục Hy. ở phần hai, nói rõ quá trình hình thành văn bản và ý nghĩa cổ truyền triết lý Hy Dịch. Phần ba là phần nói về nội dung 64 quẻ theo hệ thống Hy Dịch. Đặc biệt phần bốn, tuy là phần phụ lục, như dịch Hệ từ đại truyện, như các loại hệ thống ký hiệu (các bảng so sánh), như các loại đồ hình thuộc các hệ thống Hy Dịch,Chu Dịch, và cuối cùng là phần chữ Hán 64 quẻ và Hệ từ đại truyện...nhưng rõ ràng là phần rất cần để bạn đọc có cơ sở mà so sánh hệ thống Hy Dịch với hệ thống Chu Dịch.
Quả nhiên đây là một công trình đầy công phu, đầy tâm huyết của tác giả, nhà xuất bản mong các bạn trong và ngoài nước đọc xong có ý kiến gì bổ sung, giúp tác giả có điều kiện chỉnh lý dần dần về sau, như ý của tác giả ở lời DẪN NHẬP.
Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội
*
dẫn nhập
Thông thường khi chúng ta nói đến cuộc sống, chỉ nói đến cuộc sống hiện nay trên vỏ trái đất. Thật ra cuộc sống rộng hơn nhiều, không riêng gì cuộc sống chúng ta đã biết, mà còn có cuộc sống mà chúng ta chưa biết, thí dụ cuộc sống dưới đáy nước, trong ruột quả đất, hay cuộc sống ngoài vỏ quả đất, trong vũ trụ bao la. Mặc dù con người hơn muôn vật về trí tuệ của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa biết nhiều về cuộc sống chưa biết nói trên. Do đó, con người thường ngộ nhận mình, loài người mình là trung tâm vũ trụ (anthrôcentrisme). Tư tưởng lấy loài người làm trung tâm dựa trên cơ sở: một là, trong hệ thống mặt trời mà mặt trời là trung tâm (heliocentrisme)(CT:Theo tiếng Hy Lạp: anthrôps là người, géo là đất, helio là mặt trời.), thì chỉ có quả đất là có người, hai là: nói quả đất là trung tâm (géocentrisme)(CT: Theo tiếng Hy Lạp: anthrôps là người, géo là đất, helio là mặt trời.), vì nhờ quả đất mà con người và toàn thể nhân loại trên quả đất vẫn tồn tại và đang tồn tại. Loài người này đủ trí tuệ và năng lực để tìm hiểu về vũ trụ bao la nói chung, tuy chưa đầy đủ nhưng cũng chỉ có mình mà thôi, chứ chưa tìm ra loài người đồng vị nào khác. Dù có cho là tạm thời đi nữa, thì con người cũng phải tạo cho mình một trung tâm quy ước. ở thời đại Phục Hy, các cộng đồng Bách Việt tự cho vùng địa bàn cư trú của mình, từ mái nhà thế giới dưới chân dãy Hi mã lạp sơn ra đến bờ biển đông của Thái Bình Dương là vùng trung tâm của thế giới. Biểu đồ Bát quải (Tám quẻ) như Phục Hy kí hiệu địa bàn cư trú nói trên, có bốn phương, tám hướng trong không gian, tương ứng với bốn mùa tám tiết trong thời gian với cái mốc mặt trời mọc ở phương đông, miền biển, ký hiệu là quẻ Ly thuộc lửa, nhưng quanh lửa có nước, và lại lặn ở phương tây, miền núi, ký hiệu là quẻ Khảm thuộc nước, nhưng giữa nước có đất (ở đây là núi), còn Khôn với ý nghĩa triết học là Mẹ đất trừu tượng (Âm) thì lại ở phương Bắc, nơi nhiều giá lạnh, đối xứng với quẻ Kiền với ý nghĩa triết học là Cha trời trừu tượng (Dương) thì lại ở phương nam, nơi nhiều nóng bức, gần đường mặt trời qua, tức gần đường xích đạo.
Vẫn theo quy ước Bát quải đồ - Phục Hy với 64 quẻ kép được sắp xếp hoặc theo hình tròn ở ngoài, hoặc theo hình vuông ở trong, là vì thời xưa, trời được ký hiệu là tròn, còn đất được ký hiệu là vuông. Nói trời tròn là dựa theo các vòng quay quanh mặt trời của các hành tinh và vệ tinh, kể cả hệ thống vòng quay của cả hệ thống mặt trời, quanh cái gì trong vũ trụ bao la, thì chưa biết. Có điều là: Trời phạm trù triết học chỉ vũ trụ vô cùng, có phạm vi đến đâu chưa rõ, nhưng phải tròn thì mới có lẽ tuần hoàn vô tận. Còn Đất phạm trù triết học chỉ quả đất thì cụ thể hơn, nhưng chỉ mặt đất là vuông vẫn có ý nghĩa quy ước. Mặt đất tuy không bằng phẳng mà chỗ lồi, chỗ lõm, nhưng có giới hạn. Hệ thống mặt phẳng này vẫn phù hợp với mặt phẳng quy ước trong hệ thống hình học Euclide hiện nay đang thịnh hành, trí thông minh của Tổ tiên chúng ta thời xưa về cái khung của biểu đồ quy ước thật đáng khâm phục.
Cần phải có một sự đính chính về tên gọi biểu đồ tám quẻ, tức biểu đồ Bát quải theo mặt chữ Hán. Chính tên gọi là Bát quải (quải dấu hỏi không phải dấu sắc), vì nói “quải” vừa không đúng với chữ quải là quẻ, vừa gây ra sự lầm lẫn với chữ quải là lạ lùng như trong các thuật ngữ ma quải, quỷ quải. Theo từ điển Khang Hy đời Thanh, chữ “quải” là quẻ, thuộc bộ bốc là bói, chỉ có hai âm theo lối phiên thiết (nói lái) là: “cổ mại” đọc là quải (dấu hỏi), hoặc “cổ hoạch” đọc là quạch, không có âm quải(dấu sắc), rất tiếc, trong sách Từ Nguyên đời Dân quốc đã chữa chữ “cổ” (nói lái) thành “cố”, từ đó quải mới đọc sai thành quải, khiến nhiều người hiểu lầm “tám quẻ” rất bình thường thành ra “tám sự lạ” có vẻ bí hiểm ! Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh nói theo Từ nguyên, hoá ra cũng sai. Trong sách Kinh Dịch Phục Hy này, chúng tôi đính chính là sai lầm đó, sai lầm tuy nhỏ nhưng tác hại về mặt tư tưởng là lớn, vì rằng chữ quải là lạ lùng; dễ dẫn đến những tư tưởng mê tín dị đoan trong bói toán. Ngoài ra, xét về mặt khoa học trong đó có việc chính âm (đọc chữ cho đúng âm), chúng tôi khôi phục lại thuật ngữ Bát quải, với ý nghĩa, “cái gì của César, thì trả cho César”.
Xưa kia, khoa học kĩ thuật chưa phát triển, nhưng Tổ tiên chúng ta vẫn phải dò tìm quy luật tự nhiên của địa bàn mình cư trú, qua sự vận chuyển của mặt trời, mặt trăng, các vì sao các con nước, các chu kì ngắn thì ngày giờ, dài thì năm tháng, bốn mùa, mười năm, trăm năm.
Chắc hẳn Bát Quải đồ Phục Hy ban đầu cũng chỉ có Tám quẻ (tức quẻ đơn) lược giản nhằm kí hiệu quy luật tự nhiên, còn việc vận dụng quy luật đó vào cuộc sống, sản suất và chiến đấu của con người lại là vấn đề khác, vấn đề của chính con người.
Như vậy, trong tiến trình sinh hoạt với tất cả bao phức tạp trong cách xác định và tính toán các hiện tượng (phénomen) và phó hiện tượng (exphénomen) muôn hình, muôn vẻ, lúc thường, lúc biến trong không gian và thời gian, Tổ tiên chúng ta nhận thấy Biểu đồ tám quẻ đơn chưa đủ mọi mặt kí hiệu, nên mới chồng hai quẻ đơn thành một quẻ kép (trùng quải). Từ sự kiện quẻ đơn đến quẻ kép (64 quẻ) là một quá trình đầy kinh nghiệm và thử thách, là một thời kì dài, chứ không phải một giai đoạn ngắn.
Hệ từ đại truyện chép vào sau quyển Chu Dịch (tức quyển Kinh Dịch hiện hành) ghi rằng:
“Thời xưa họ Bào Hy coi việc loài người dưới trời (thiên hạ), ngửng lên xem hình tượng ở trên trời, cúi xuống nhìn phép tắc dưới mặt đất, lại xem xét, các dáng vẻ (văn) của chim muông cùng các sự thích đáng (nghi) của trời đất. Từ đó, gần thì lấy thân mình làm chuẩn, xa thì lấy mọi vật làm chuẩn, rồi vạch ra tám quẻ, dựa vào đó mà có được tinh thần sáng suốt, để đạt được tính tình của mọi vật”(CT: Theo Chu Dịch bản nghĩa của Châu Hy đời Tống. Theo lời truyền lại, Hệ từ (nghĩa đen: lời giải thích buộc thêm vào với 64 quẻ chính, tức buộc vào các thẻ tre, hoặc gỗ có khắc các vạch của từng quẻ) là do khổng Tử viết. Xem phần: phụ lục.).
Trong các thư tịch cổ của Trung Quốc, cũng như của Việt Nam, người ta đã đập nhập thuật ngữ Bào Hy với Phục Hy một cách tuỳ tiện. Có người lại nói vu vơ rằng chữ Phục do biến âm từ chữ Bào. Sự thật, về mặt chữ Hán, chữ Bào rất khác với chữ Phục, bào nghĩa đen là cái bếp, còn phục nghĩa đen là che chở, chịu tội (chữ Phục về mặt chữ Hán, một bên chữ “nhân đứng”, một bên chữ “khuyển” là con chó), nghĩa bóng là thuần hoá, thí dụ như con chó được người thuần hoá. Do đó, chữ phục này thông nghĩa với chữ phục là làm việc, là chịu tang, là dịch vụ.
Vậy Bào Hy chỉ thời đại loài người trước thời đại Phục Hy, hay nói cách khác, thời đại Phục Hy nối tiếp thời đại Bào Hy. Vì mỗi thời đại như vậy có đến hàng nghìn năm, nên người đời sau, chỉ nghe truyền miệng mà chưa có sách vở như ngày nay, nên đã sai lầm đồng nhất thời Hy trước với thời Hy sau. Thời Bào Hy là thời còn man rợ, nhưng đã biết cách kéo ra lửa, nên cũng có biệt danh là thời Toại Nhân. Toại thuộc bộ Hoả (lửa) có nghĩa đen là thanh que tre, nứa có cật (vỏ ngoài) cứng có thể cọ vào nhau trong đống bùi nhùi cho bật ra lửa. Dần dà về sau mới biết tìm ra đá lửa rồi biết làm ra kính gương lớn, lấy lửa từ mặt trời, gọi là kính dương toại (CT:ở phương Tây, nhờ nghề in phát triển nên có sách về Prométhéo (Thần lửa), ở Việt Nam xưa kia đã có Tà Cặm Cọt (Thần lửa) trong Mo đẻ đất đẻ nước.). Giờ đây, có kính lớn lấy năng lượng mặt trời thì cũng không phải là mới. Cái mới so với xưa là kỹ thuật, chứ không phải là trí tuệ phát triển. Thời Bào Hy bao gồm thời Toại Nhân và cả thời Hữu Sào. Tổ tiên ta xưa vốn “ăn lông ở lỗ” tức ăn thịt sống còn dính lông và cởi truồng, chưa biết che thân bằng lá hay bằng vải. Thời Bào Hy đã có bếp nướng thịt, nấu thức ăn, đã biết gác sàn lên cây mà ở, tránh thú dữ, nên cũng gọi là thời Hữu Sào.
Theo sử sách cổ của Trung Quốc(CT:Thí dụ : Trung Quốc cổ đại sử của Hạ Tăng Cổ ), thì Bào Hy là chồng của Nữ Oa, nhưng thật ra, thời Bào Hy lại sau thời Nữ Oa, vì thời Nữ Oa thuộc chế độ mẫu hệ, còn thời Bào Hy thuộc chế độ phụ hệ. Thời Nữ Oa, Bào Hy đúng tương đương với thời Nữ Oa, Tử tượng của Việt Nam, tức là thời Thần Cái, Thần Đực. Từ thời Bào Hy là thời các cộng đồng Bách Việt đã biết nướng thịt, nấu ăn, săn bắn, chài lưới, đến thời Phục Hy là thời biết thuần hoá súc vật, biết trồng tỉa, cày bừa, làm nhà, dệt vải, lụa, đặc biệt đã biết quan sát hiện tượng thiên nhiên trên trời (thiên văn), hiện tượng thiên nhiên mặt đất, mặt nước (địa lý, thủy văn) thì quả nhiên Tổ tiên chúng ta đã có một bước tiến dài trên bậc thang văn minh của loài người. Đó là bối cảnh cho BÁT QUẢI ĐỒ PHỤC HY ra đời.
Giờ đây, chúng ta thấy BÁT QUẢI ĐỒ với tám quẻ đơn của Phục Hy có vẻ đơn giản, thô sơ giữa thời đại kỹ thuật siêu dẫn, siêu trí tuệ, có thể ai đó không với tới chiều sâu minh triết của cha ông, đã vội coi thường! Sự thật, ở bối cảnh loài người còn man rợ xưa kia mà tổ tiên chúng ta đúc kết được một biểu đồ (diagramma) có ý nghĩa bao quát tư tưởng tinh cầu (penscéplanétaire) và tư tưởng duy vật biện chứng thô sơ.
BÁT QUẢI ĐỒ- PHỤC HY có sức sống trường tồn từ thời “phát minh Phục Hy” cho đến thời “áp dụng Thần Nông”, tức thời Nhị Hoàng (Hai vua lớn) truyền đến thời Ngũ Đế (Chuyên Húc, Cốc, Chí, Nghiêu, Thuấn) rồi truyền đến đời Hạ, Thương, Chu cho mãi về sau. Trước sau, phương vị cùng luận cứ của BÁT QUẢI ĐỒ nguyên thủy đó vẫn y nguyên, và chỉ có MỘT mà thôi, tức là MỘT của vua “phát minh Phục Hy” không kể các phiên bản của các vua áp dụng về sau, như Thần Nông, hay Hoàng Đế là vua vùng sông Hoàng của họ Hiên Viên (sáng chế ra xe cộ). Bởi tám quẻ của biểu đồ được sắp theo thứ tự bốn phương tám hướng của quỹ đạo vòng tròn quanh mặt trời, cho nên quẻ quy ước mở đầu lại nối tiếp với quẻ quy ước sau cùng, thí dụ quẻ KHÔN mở đầu nối tiếp với quẻ KIỀN sau cùng, hoặc ngược lại quẻ KIỀN mở đầu nối tiếp với quẻ KHÔN sau cùng. Thật ra, chìa khóa mở đóng của biểu đồ rất rõ ràng và giản dị, dần dà do động cơ trí tuệ con người nào đó mờ ám, lợi dụng BÁT QUẢI ĐỒ PHỤC HY đưa vào bói toán để lừa đảo, làm chính trị bất minh, khiến cho nó trở nên phức tạp, bí hiểm- Mỗi thời vua trong Nhị Hoàng, Ngũ Đế, Tam Vương nói trên trải hàng trăm năm, biết bao nịnh thần và bồi bút đã lợi dụng BÁT QUẢI ĐỒ để kiếm ăn, cho nên mới thêu dệt nào là Kinh Dịch Quy tàng lấy quẻ Khôn làm chuẩn thời Phục Hy (Quy tàng là quay về điểm bắt đầu), nào là Kinh Dịch Liên Sơn, hay Liệt sơn thời thần Nông, lại nào là Kinh Dịch lấy quẻ Kiền làm chuẩn thời Hoàng Đế. Lại nữa, có một nân vật Mao Tiệm nào đó tạo ra một chuyện giật gân. Ông ta bảo: Nhân đi kinh lý miền Tây Trung Quốc tìm được trong dân chúng ba bộ sách đào được từ ba ngôi mộ cổ gọi là Tam phần thư (phần là mộ lớn), ký hiệu như sau: Sơn phần (mộ trên núi) là Kinh Dịch Phục Hy, Khí phần (mộ khí trời) là Kinh Dịch Thần Nông và Hình phần (mộ có hình thù) là Kinh Dịch Hoàng Đế (Vua sông Hoàng).
Thật ra, khi người ta nhắc đến bát quải đồ từ Phục Hy, hoặc trước đó nữa từ Bào Hy, hoặc trước nữa từ Nữ Oa, là muốn nói đến gốc từ quẻ Khôn, quẻ chuẩn từ chế độ mẫu hệ, còng đến thời Hoàng Đế họ Hiên Viên thì đã sang chế độ phụ hệ, nên lấy quẻ Kiền thay cho quẻ Khôn thì cũng dễ hiểu, vì biểu đồ vẫn không thay đổi phương vị, cho dù bắt đầu ở Khôn, hay ở Kiền. Riêng việc ai đó nhắc đến biệt danh của Thần Nông là Liên Sơn hay Liệt sơn, rồi suy diễn cho rằng biểu đồ thời Thần Nông bắt đầu từ quẻ Cấn kép (Trên Cấn, dưới Cấn), tức Liên sơn hay Liệt sơn (Trên sơn, dưới sơn) thì quả là gán phép, máy móc, vì quẻ Cấn đơn ở vị trí số hai bên cạnh quẻ Khôn đơn, còn quẻ Cấn kép, lại ở vị trí số10, so với quẻ Khôn giả thiết kí hiệu là 0 (Zero) cho quẻ này.
Như trên đây đã nói, cho đến nhà Ân - Thương, vẫn chỉ là bát quải đồ – Phục hy với hệ đơn 8 quẻ và hệ kép 64 quẻ, chắc hẳn chưa có được quyển Kinh Dịch với các phần giải thích và bình luận từng quẻ, từng hào như quyển Chu Dịch đang lưu truyền hiện nay. Tất nhiên, một khi các bậc trí giả thời xưa đã vạch ra quẻ đơn, quẻ kép thì họ đã kí hiệu nội dung, ý nghĩa từng quẻ một cách ngắn gọn, dễ truyền miệng cho mọi người. Cách dạy học hay dạy nghề thời xưa ở Đông, cũng như ở Tây đều thiên về truyền miệng. Phật Thích Ca hay Thánh Khổng Tử cũng theo cách giảng miệng như vậy, đệ tử thì lắng nghe và nhập tâm, còn ai muốn ghi thì tuỳ – Tên gọi cùng với kí hiệu nội dung các quẻ đơn, quẻ kép vốn có từ thời Phục Hy, trừ phi có những chỗ do người đời sau sửa chữa.
Rất tiếc là cuối thời Ân – Thương, thời vua Trụ, chức Tây Bá (CT: Bá là tước dưới tước Hầu (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam là 5 tước quý tộc thời phong kiến).) ở huyện Kỳ Sơn (Thiểm Tây, Trung Quốc) là Cơ Xương mâu thuẫn với vua Trụ, bị vua Trụ bắt giam ở ngụ Dữu lý (ngục Chồn hôi), bèn âm mưu sửa chữa bát quải đồ – phục hy thành bát quải đồ kiểu nhà Chu, dùng biểu đồ tân đính này (neodiagramma) như một vũ khí chính trị khi cần thiết. Đế ất, Thân phụ của Đế Trụ, đã gả em gái mình cho Cơ Xương, ý chừng muốn nhờ Cơ Xương bảo vệ ngôi Hoàng đế cộng chủ cho con mình, chứ có ngờ đâu lại là “ nuôi ong tay áo”! Về sau chính con trai Tây Bá Xương cướp ngôi con trai Đế ất.
Cơ Xương đã ngầm chuẩn bị việc cướp ngôi vua cộng chủ từ tay vua Trụ đang mê mẩn dấn thân vào vực sâu tửu sắc, bất chấp lời khuyên của bà con và cận thần có tâm huyết trong triều đình Ân – Thương – Tây Bá Cơ Xương gặp được vị ẩn sĩ có học thức, tinh thông về binh thư, binh pháp, về thiên văn, địa lý, về toán số và Bát Quải Đồ – Phục Hy, đó là Lã Quyên tức Lã Vọng. Chính vị ẩn sĩ nối tiếng này là quân sư cho Cơ Xương và là thầy học của hai con trai yêu dấu của Cơ Xương, là Cơ Phát và Cơ Đán. Chắc hẳn Lã Vọng đã ngầm giúp đỡ cha con Cơ Xương trong mưu đồ cướp ngôi nhà Ân – Thương, trong đó, có cả vấn đề sửa chữa bát quải đồ – Phục Hy. Như vậy trong Tân đinh bát quải đồ, cơ sở cho sách Chu Dịch, không phải ngẫu nhiên mà quẻ chuẩn làm mốc khởi đầu vòng quay được chuyển từ khôn sang kiền, vì kiền thuộc trời và vua là con trời trị dân. Trong bát quải đồ – phục hy, quẻ Kiền ở phương chính nam, nhưng trong bát quải đồ của nhà Chu, quẻ kiền lại thay quẻ Cấn ở Tây bắc, nơi phát tích nhà Chu, ứng với đất Kỳ Sơn (Thiểm Tây,Trung Quốc), mặc dù Tây bắc không phải là phương chính mà lại là phương chéo(CT:Xem thêm ở các phần Ivà II ở phía sau. (Sách này không trích))
Quả nhiên, danh từ riêng Kỳ Sơn đã được ghi vào hào Lục tứ của quẻ Thăng (trên Khôn, dưới Tốn):
“Vương dụng hanh vu Kỳ Sơn, cát vô cữu”(CT:Nguyễn Duy Tinh trong bản dịch Chu Dịch bản nghĩa (Bộ Văn hoá giáo dục Sài Gòn xuất bản năm 1968) đã dịch sai câu này vì đọc nhầm chữ hanh ra chữ hướng.) (Nghĩa: Vua được dùng thông suốt ở Kỳ Sơn. Tốt, không có lỗi).
Tổ nhà Thương là ông Tiết, con của Đế Cốc, vị Hoàng đế thứ hai sau Đế Chuyên Húc thời Ngũ Đế. Ông Tiết lâm chức Tư Đồ triều vua Thuấn, vua cuối cùng thời Ngũ Đế. Thời vua Thang nhà Thương có bậc tài đức Y Doãn, thời vua Cao Tông(tức vua Vũ Định) nhà Ân – Thương có bậc tài đức Phó Duyệt. Đó là hai bậc trung thần tài đức nổi tiếng đã góp phần làm cho nhà Thương rạng rỡ, và đã được sử sách Trung Quốc và Việt Nam thường trích dẫn như những điển hình tiêu biểu. Uy tín nhà Ân – Thương rất sâu đậm trong quần chúng, nên cha con Tây Bá Cơ Xương người sáng lập ra nhà Chu phải chuẩn bị rất chu đáo cho việc cướp ngôi nhà Ân- Thương- Mưu đồ cha con Cơ Xương hơi bị tiết lộ, nên Tây Bá Xương mới bị vua Trụ tống giam ở ngục Dữu Lý suốt 7 năm. Tây Bá Xương phải dùng đến kế đưa gái đẹp như kiểu Đát Kỷ vào cung dâng cho vua Trụ để được thoát tù ngục. Lời bàn người đời sau về quẻ Minh Di trong Chu Dịch có nói đến sự chịu đựng khôn khéo của Tây Bá Xương thuở này. Ra khỏi tù, ông ta cố gắng tích cực đi dẹp loạn giúp nhà Trụ để lấy lại lòng tín nhiệm, nhưng vẫn ngấm ngầm cướp ngôi vua Trụ. Tây Bá Xương mất, hai con trai của ông là Cơ Phát, Cơ Đán nối chí của ông. Cơ Phát nối ngôi Tây Bá Xương, còn Cơ Đán làm cố vấn và tướng cho anh mình. Khi lực lượng đã đầy đủ, Vũ Vương Cơ Phát quyết định phát động chiến tranh lật đổ nhà Ân- Thương. Các bậc hiền thần nhà Ân như Bá Di, Thúc Tề khuyên ngăn Vũ Vương không được, bèn bỏ đi ẩn. Vũ Vương phát hịch kể tội Trụ, huy động một lực lượng hùng hậu tại cánh đồng Mục Dã phía ngoài kinh đô nhà Ân. Vua Trụ bí thế phải lên Lộc Đài tự đốt mà chết, Vũ Vương tiến vào chém đầu Trụ Vương, truyền phá kho Cự Kiều chia của cho dân nghèo để lấy lòng quần chúng. Thế là Chu Vũ Vương chính thức lên thay Ân Trụ Vương làm Hoàng đế cộng chủ các nước chư hầu. Vũ Vương cho truyền đi bài Đại cáo vũ thành (Đại cáo về việc võ đã thành công) trong đó có nói đến các trận đánh quyết liệt khiến “máu chảy trôi chày”(CT:Nguyên văn: “Huyết lưu phiêu chủ” (Chủ là cái chày đánh giặc chứ không phải chày giã gạo). Cái chày này mô phỏng chày, hai đầu loe và ở giữa oằn để cầm mà quay, hoặc đánh, hoặc đỡ rất cơ động.). Chương tận tâm hạ trong sách Mạnh Tử có ghi sự nghi ngờ về lòng nhân đức của Chu Vũ Vương qua chi tiết “Máu chảy trôi chày” này, Mạnh Tử nói: “Quá tin vào sách (chỉ Kinh Thư BVN), thì thà không có sách còn hơn. Theo thiên Vũ Thành, ta cũng chỉ biết qua vài đoạn sách mà thôi. Nếu như kẻ Chí nhân (như Cơ Phát) đã là vô địch trong thiên hạ, thì đánh kẻ bất nhân (như vua Trụ), ắt thắng dễ dàng, chứ cần gì đến nỗi gây nên cảnh máu ngập sông, trôi cả chày chiến đấu! Tiếp đó, Mạnh Tử nêu lên lực lượng áp đảo của Vũ Vương đánh Trụ, với ba trăm cỗ xe chở bì da đựng lương thực, và với ba nghìn quân hùng hổ, đi đến đâu nhà vua cũng bảo dân là đừng sợ, còn dân thì nghe như con thú gục sừng sát đất. Mạnh Tử cho rằng: Nếu là bậc chí nhân thì cần gì phải gây đổ máu, chỉ sợ Chu Vũ Vương chỉ giả nhân giả nghĩa, phải dùng vũ lực cướp ngôi nhà Ân, nên mới đến nỗi “máu chảy trôi chày!” Lời bình của Mạnh Tử ở thời Chiến quốc, khoảng 600 năm sau khi bài Đại Cáo vũ thành xuất hiện đầu đời Tây Chu. Dù sao Mạnh Tử vẫn là bề tôi nhà Chu, có chăng ông cũng chỉ có vài lời nhận xét kín đáo như vậy mà thôi.
Quả nhiên, suốt cuộc đời Chu Văn Vương (tên thuỵ truy tặng Cơ Xương), Chu Võ Vương (Cơ Phát) nhà Chu cầm chính quyền nước cộng chủ chưa đủ mạnh, chưa thuyết phục được nhiều nước chư hầu khác, như nước Yên, nước Hùng (tức Sở), nước Doanh (tức Tần), nước Hoài Di, nước Từ Nhung v.v…, không thuyết phục được Thái sư Cơ Tử ở lại giúp triều đình mới, không thuyết phục được Bá Di, Thúc Tề phải để hai ông này chịu chết đói ở núi Thủ Dương. Nhà Chu đành phải phong cho con của vua Trụ là Lộc Phu làm vua chư hầu ở nước Tống, tức vua Vũ Canh, trên danh nghĩa là vua tộc trưởng nhà Ân-Thương, tiếp tục thờ tổ tiên ở đó, với điều kiện dưới sự quản lý của 3 vị giám quốc (Tam Giám) do ba người em cùng cha khác mẹ với Chu Vũ Vương, đảm nhiệm, đó là Thái Thúc Độ, Quản Thúc Tiễn và Hoắc Thúc (không rõ tên). Sau khi Chu Vũ Vương chết, con là Cơ Tụng lên nối ngôi còn nhỏ là Thành Vương, có chú ruột là Chu Công Đán nhiếp chính, thì lập tức 3 vị Giám quốc nói trên, được sự yểm trợ của các nước chư hầu nói trên, bèn cùng vua Vũ Canh nhà Ân cũ, nổi lên định làm đảo chính. Lập tức, Chu Công Đán cùng một người em khác là Khang Hầu và cùng con trai của mình là Bá Cẩm cất quân phản kích từ Hà Nam đến bán đảo Sơn Đông giết chết vua Vũ Canh và Quản Thúc Tiễn, khiến nhiều bộ tộc Lạc Việt bộ Trãi và bộ Mã chạy tản sang Triều Tiên và ra hải đảo .
Phần bối cảnh lịch sử từ cuối thời Thương đến thời Chu trên đây cho chúng ta hiểu được sự tồn tại BáT QUảI Đồ-Phục hy với đầy đủ hệ thống quẻ đơn, quẻ kép với các tên gọi của chúng, cũng như với phương vị định hướng của chúng. Nhà Chu thay nhà Thương giữ ngôi cộng chủ các nước chư hầu rõ ràng không êm thắm như người ta tưởng, mà thực sự đầy máu lửa, trải từ Vũ Vương đến Thành Vương. Việc cha con Chu Văn Vương âm mưu sửa chữa từ BáT QUảI Đồ truyền thống đến BáT QUảI Đồ tân đính chắc hẳn muốn tạo ra một tâm lý để lôi kéo, thuyết phục lòng người căm thù vua Trụ hoang dâm, hưởng lạc vô độ khiến dân khổ, hãy nhanh chóng ủng hộ nhà Chu ổn định ngôi vàng để cuộc sống được yên lành. Nhà Chu lên cầm quyền, thay đổi một số chế độ, lễ nghi theo kí hiệu nhà Chu, như Chu lễ, Chu nhạc, Chu quan, Chu thư, Chu dịch. Lấy Chu dịch thay cho Hy dịch mà về sau, có thể từ đời Tống, các nhà lý học gọi bát quải đồ – phục hy là tiên thiên, để phân biệt với bát quải đồ của nhà Chu là hậu thiên. Thật ra, xét về mặt triết học, hai thuật ngữ tiên thiên và hậu thiên không đơn thuần chỉ có nghĩa là cái có trước cái có sau, mà tiên thiên có nghĩa là nặng về nguyên lý, về quy luật tự nhiên trong việc áp dụng vào đời sống, vào xã hội loài người, còn hậu thiên dùng nặng về mặt con người, về mặt xã hội có điều tiết, có uốn nắn tính chất thiên nhiên để cho hợp với lòng người , với xã hội loài người, nói cách khác, cho hợp với ý chủ quan của con người, dù có khi trái với tự nhiên. Do đó, về mặt triết học, người ta nói: Tiên thiên mới là chân, còn hậu thiên là nguỵ, chân và nguỵ theo nghĩa triết học, không lẫn với chân và nguỵ theo nghĩa thông thường về mặt luân lý xã hội như thiện và ác, hoặc về mặt sản xuất trong xã hội như thật và giả, đành rằng truy đến gốc thì các khái niệm trên đều dính dấp với nhau, mặt này mặt khác –Cũng từ khái niệm triết học tiên thiên, hậu thiên nói trên, người ta nói tiên thiên là tính, còn hậu thiên là tình, đành rằng tình cũng từ tính mà ra.
Chân và nguỵ qua hai thuật ngữ chân tâm và nguỵ tâm nói lên hai tính chất khoa học và không khoa học qua hai Bát Quải đồ Tiên thiên và Hậu thiên. Hai trọng tâm trong Bát Quải đồ là Vị và Thời. Bản Tiên thiên đúng Vị và đúng Thời, còn bản Hậu thiên thì ngược lại. Bởi thế, trong quyển Kinh Dịch của mình, sách đã dẫn, Nguyễn Hiến Lê viết:
“Nếu quả là do Văn Vương sắp lại Bát quải thì tại sao ông lại thay đổi như vậy. Ông để ở phương Nam có lý, mà khảm ở phương Bắc, kể như cũng có lý. Vì khảm trái với ly, nước trái với lửa, bắc đối với nam. Nhưng tại sao Ông lại không cho kiền đối với khôn, như ở đồ hình Tiên thiên, mà lại cho nó đối với tốn và cho khôn đối với cấn? Chúng tôi thú thực không hiểu nổi!...”
Quả nhiên, bản Hậu thiên đã không tuân theo hai trọng tâm Vị và Thời, hai trọng tâm quyết định sự tồn tại cuả đồ hình, bất chấp quy luật đối xứng bốn phương tám tiết, tương ứng với bốn mùa tám tiết chính. Đặc biệt bản Hậu thiên đã đụng đến tính đối xứng nghiêm khắc của hai phạm trù triết học cơ bản là khôn, kiền, tức âm, dương. Dịch của Phục Hy quy lại là dịch của hai quẻ cơ bản âm, dương, quẻ mẹ của các quẻ con. Phá vỡ quy luật đối xứng Âm Dương tức là phá vỡ toàn bộ hệ thống bát Quải đồ Phục Hy. Có lẽ vì lý do phản khoa học của nó mà hệ thống quẻ kép (trùng quải) của Cơ Chu, không được truyền lại một cách phổ biến như quẻ kép của Phục Hy, hệ thống mà Leibniz xác nhận là rất khoa học. Lại cũng có lẽ như vậy mà từ đời nhà Chu về sau, người ta sợ không dám theo hệ thống quẻ kép của Phục Hy, nhưng người ta cũng không theo hệ thống quẻ kép của Cơ Chu, mà người ta (có thể là các bốc quan) tạo ra một hệ thống, thực ra chẳng theo quy luật nào cả, đó là hệ thống hiện hành trong các sách gọi là Chu Dịch, chuyên dùng để bói.
Thiệu Ung đời Tống tuy có tham khảo Hậu Thiên Bát Quải đồ, nhưng lại dựa theo Tiên Thiên Bát Quải đồ của Phục Hy mà viết cuốn Hoàng cực kinh thế trong đó ông chú trọng lẽ tiêu trưởng tuần hoàn của vũ trụ theo hai cái mốc Vị và Thời trong không gian và thời gian. Ông lấy số 4 của bốn chất lớn như “Đất, Nước, Gió, Lửa” như “Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần” làm chuẩn. Từ đó Ông tạo ra thuyết Nguyên (Nhật) Hội (Nguyệt) Vận (Tinh) Thế (Thần). Đối với vũ trụ Nguyên như một năm, Hội như một tháng, Ông tính 12 tháng kí hiệu từ cung Tí đến Hợi và lấy 12 quẻ kép mốc, ứng với 12 quẻ kép theo hệ thống Phục Hy là: Phục, Lâm, Thái, Quyết, Kiền, Cấu, Độn, Bĩ, Quán, Bác và Khôn. Về sau con trai ông là Thiệu Bá Ôn, theo sách của thân phụ mình soạn ra sách và biểu đồ: Kinh thế nhất nguyên tiêu trưởng chi số.
Ở Việt Nam, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, khi áp dụng Kinh Dịch (Sách Chu Dịch với hệ thống quẻ hiện hành) vào y học để xác định vị trí hai quả thận trong khoang Mệnh môn, một thứ “vacuum minimum” vô hình, nhận thấy hệ thống Hậu thiên Bát Quải không chuẩn xác về vị và thời, bèn áp dụng cả hệ thống Tiên thiên Bát Quải. Nhờ đó, Ông giải thích rõ hơn y lý về chân âm, chân dương, chân thuỷ, chân hoả, định rõ quân hoả, tướng hoả theo phương châm quân, thần, tá, sứ…trong việc trị bệnh cứu người.
Trên cơ sở tìm hiểu bối cảnh lịch sử…Tổ Phục Hy của các cộng đồng Bách Việt từ xưa, cũng như tìm hiểu Bát Quải đồ truyền thống của ông, trên cơ sở học tập và tiếp nối các bậc học giả trong và ngoài nước, tôi cố gắng biên soạn cuốn kinh dịch phục hy, đạo người chung chính thức thời, trừ phần Dẫn nhập và phần Kết thúc gồm có 4 phần sau đây:


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn