Thứ bảy, 31/10/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay534
mod_vvisit_counterHôm trước828
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c (Quyển 1) E-mail
18/07/2020
Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c ( Phần 2)

15 Đại Việt Sử Lược - Quyển I

Dương Phiêu.
Nguyên trước có người trong châu là Nguyễn Bôn1 làm phản chiếm cứ thành Long Biên, tự xưng là Nam Việt Đế, sắp đặt trăm quan, đổi niên hiệu là Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân2.
Vua Vũ Đế (502-549-ND) nhà Lương phong Dương Phiêu làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm chức Tư mã để đánh Bôn. Nguyễn Bôn đốc xuất quân lính ba mươi ngàn người để chống lại. Nhưng bị thua ở Châu Diên (Phủ Vĩnh Tường trước thuộc Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên-ND) lại thua ở cửa sông Tô Lịch, Nguyễn Bôn phải chạy vào thành Gia Ninh (huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên- ND). Dương Phiêu tiến quân vây thành, Nguyễn Bôn phải chạy vào trong Tân Xương lão (tức là đất Phong Châu cũ thuộc tỉnh Vĩnh yên bây giờ-ND). Nguyễn Bôn lại đốc xuất binh lính hai mươi nghìn người, dàn quân ở hồ Điển Triệt đóng thuyền lớn đầy nghẹt cả hồ. Rồi thì ban đêm nước sông thình lình dâng lên, Trần Bá Tiên đốc suất quân lính men theo dòng nước mà tiến lên trước. Các đội quân đánh trống reo hò để tiến theo. Nguyễn Bôn không chuẩn bị trước vì thế mà thua to phải rút về giữ động Khuất Lão rồi phải bệnh
mà chết (năm 548-ND).
Dư đảng sợ thế lực binh lính của Trần Bá Kiên cả bọn kéo về xin hàng.
Con của Nguyễn Bôn là Thiên Bảo3 vào Cửu Chân, Bá tiên cất binh lính đánh dẹp yên được cả, rồi đổi Cửu Chân làm Aí Châu.
Trần Bá Tiên.
Vì có công đánh Nguyễn Bôn nên được (vua Vũ Đế nhà Lương-ND) cho giữ chức Binh oai Tướng quân Thứ sử Giao Châu rồi thì được gọi về Bắc.
Lưu Phương.
Đời vua Văn Đế4 nhà Tùy năm thứ 2 niên hiệu Nhân thọ (năm Nhâm Tuất-602-ND) giữ chức Soái Giao Châu là Nguyễn Phật tử5 chiếm cứ thành Việt Vương làm loạn.
Con của người anh là Đại Quyền chiếm giữ Long Biên.
Vua Văn Đế dùng Lưu Phương làm chức Hành quân Tổng quản để đánh Phật Tử. Nguyễn Phật Tử sợ xin hàng.
Trong khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616-ND) đời Dưỡng đế nhà Tùy6 vì lâm Ấp làm phản
nên vua (nhà Tùy- ND) đổi Nhật Nam làm Hoan Châu, dùng Lưu Phương làm chức Hoan đạo Hành quân Tổng quản để đánh Lâm Ấp.
Quân lính của Lưu Phương kéo đến sông Xà Lê (còn gọi là Đồ Lê), binh Lâm Ấp đều cỡi voi lớn bốn mặt mà tiến tới. Lưu Phương bèn đào nhiều hố nhỏ, lấy cỏ phủ lên trên rồi ra đánh và giả thua chạy.
Quân Lâm Ấp đuổi theo, voi nhiều con bị sụp chết. Nhân đó, dùng binh hùng tiếp tục đuổi đánh, quân
1 Nguyễn Bôn tức Lý Bôn có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ là 7 đời thành ra người bản xứ. Sau khi dấy binh đánh đuỗi quan Thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư, ông lên ngôi
Hoàng đế và ở ngôi được 5 năm (544-548). Ông là người tài kiêm văn võ và là người đầu tiên đặt niên hiệu cho nước Nam ta.
2 Vạn Xuân: Sách "Thái Bình hoàn vũ ký" của Nhạc Sử đời Tống chép là huyện Long Biên có đài Vạn Xuân. Lý Bí đất Giao Chỉ xây đài này vào năm Đại Đồng nhà Lương. Nay là xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì có hồ Vạn Xuân, cũng có tên là đầm Vạn Phúc, điện Vạn Xuân.
Theo "Khâm định Việt sử thông giám cương mục": Năm Giáp Tý-544 Tây lịch, niên hiệu Thiên Đức thứ nhất tháng giêng, Lý Bí xưng Nam Việt đế và lấy tên nước là Vạn Xuân là ý mong xã tắc được lâu bền muôn đời. Ngài cho xây điện Vạn Xuân làm nơi triều hội.
3 Theo nhiều sách sử thì Thiên Bảo (tức Lý Thiên Bảo) là người anh họ của Nguyễn Bôn (tức Lý Bôn). Ở đây nói là con của Bôn. Có
sự nhầm lẫn ở đây chăng?
4 Tùy Văn Đế, họ dương, tên Kiên, người ở Hoành Nông, làm quan nhà Chu, được phong là Tùy vương, được Chu nhường ngôi, ở ngôi 16 năm (589-604).
5 Đúng là Lý Phật Tử.
6 Tùy Dưỡng Đế tên Quảng, con của Văn Đế, ở ngôi 12 năm (605- 616) bị Vũ Văn Hóa Cập giết.

16 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Lâm Ấp thua to, bị bắt cắt tai có đến vạn cái. Lưu Phương đuổi đánh nhiều lần đều được thắng lợi cả.
Đuổi theo hướng nam, qua trụ đồng của Mã Viện, tới ngày thứ tám thì tới kinh đô của nước Lâm Ấp. Vua nước Lâm Ấp là Phạm Chí phải bỏ thành mà chạy trốn. Lưu Phương vào thành lấy thần chủ trong miếu
18 cái đều đút bằng vàng cả.
Lưu Phương khắc đá ghi công rồi trở về. Giữa đường bị bệnh mà chết.
Khâu Hòa.
Vào năm thứ 5 niên hiệu Vũ Đức (năm Nhâm Ngọ- 622- ND) vua Cao Tổ1 nhà Đường trao cho Khâu Hòa chức Đại tổng Quản, tước Đàm quốc công, Hòa lại tâu xin đặt chức Đô hộ Phủ chúa.
Lưu Diên Hựu.
Năm thứ nhất niên hiệu Điều lộ (năm Kỷ Mão- 679-ND) vua Cao Tông2 nhà Đường đổi chức Thứ sử An Nam làm Đô hộ phủ Giao Châu, dùng Diên Hựu làm quan Đô hộ.
Theo lệ cũ đối với di lão3 chỉ phải thâu phân nữa số thuế, Lưu Diên Hựu lãnh trách nhiệm thâu thuế, ra lệnh thâu vào đủ nguyên số. Dân chúng oán giận. Người đầu sỏ trong đám oán giận là Lý Tự Tiên4 bị Lưu Diên Hựu giết chết. Dư đãng bèn nổi loạn vây phủ thành mà giết Diên Hựu.
Khúc Lãm.
Khúc Lãm, thời vua Trung Tông (705- 710-ND)5, nhà Đường làm quan Đô hộ, vì tham lam tàn
bạo mất lòng dân nên bị chức Tư lục là Cam Mãnh giết.
Trương Thuận.
Thời vua Túc Tông (756-762-ND)6 nhà Đường làm quan đô hộ.
Trương Bá Nghi.
1 Đường Co Tổ họ Lý, tên uyên, dòng dõi của Tây Lương Vương, Lý Nhật Cao, nối theo tước của tổ tiên làm Đường Công, giữ Thái Nguyên, dấy binh, được phong làm Đường Vương, sau cướp ngôi nhà Tùy. Lên ngôi ở Trường Sa, ở ngôi được 9 năm (618- 626).
2 Đường Cao Tông tên Trị, con của Thái Tông, ở ngôi được 34 năm (650 - 683).
3 Di lão: theo ông Nguyễn Khắc Thuần thì không nên dịch hoặc nếu dịch thì: "người già ở miền đất man di". Riêng chúng tôi, không dịch không chịu được mà dịch ra cũng không hợp ý. dịch tàm tạm để bớt bực mình thì: "người già cả nghèo hèn quê kệch", rườm quá không ổn! Đó, người Trung Quốc thế đấy, họ thường gọi các nước nhỏ ở chung quanh họ là di. Nói gì thì nói, khi dùng chữ di, không thể họ không có ý miệt thị ở trong đó. Cũng bỡi chữ "di" này mà xảy ra chuyện sau đây.
Triều vua Quang Trung, sứ giả Võ Huy Tấn sang nhà Thanh tiến cống. Ngồi chờ ở quán, bất chợt Ông Võ thấy quyển sổ do viên quan lại thuộc nhà Thanh chép những vật tiến cống. Cuối dòng có hai chữ "di quan" nghĩa là của viên quan nước man di, để chỉ sứ bộ An Nam ta. Giận lắm nhưng nghĩ, to tiếng nặng lời với tên lại thuộc không ích gì. Ông Võ bèn chiết tự chử Di và thấy: chữ cung là cung nỏ hợp với chữ qua là giáo mác thì thành chữ Di và ông ghi ngay vài quyển sổ ấy bài thơ:
"Cứ gọi là Di cũng chẳng sao
"Di này sẵn có đủ cung đao
"Giang sơn thường xuất trang hào kiệt
"Trọng nghĩa nhân mà tỏ chí cao.
Cả vua quan trong triều đều chuyền tay nhau đọc bài thơ và rất kính phục, rất trọng đãi sứ giả nước An Nam. Và, từ đó khi nói về nước ta, dân ta họ không dùng chữ Di nữa.
Bài thơ bằng chữ Hán, tôi nghe được cách đây hơn 30 năm. bây giờ chỉ nhớ đại ý, cho nên chuyển sang Việt ngữ, tất nhiên không được sát nghĩa.
4 Lý Tự Tiên: "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: Mùa thu tháng 7 năm Đinh Hợi- Tây lịch 687, sau khi Lý Tự Tiên tuẫn nạn Đinh Kiến tụ hợp nhân dân vây phủ thành và Đinh Kiến giết Lưu Diên Hựu.
5 Đường Trung Tông, tên Triết, con của vua Cao Tông lên ngôi năm Giáp Thân (năm 684) ở ngôi chưa được một năm thì bị Vũ Hậu
phế, dời ngai về Phong Châu rồi cho em ngài lên thay, tức Đường Duệ Tông. Đến năm Ất Tỵ (705) ngài lại lên ngôi, năm Canh Tuất (năm 710) bị ngộ sát.
6 Đường Túc Tông tên Hạnh, con vua Huyền Tông, ở ngôi được 7 năm.

17 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Trương Bá Nghi là con của Trương Thuận.
Năm thứ 2 niên hiệu Chí Đức (năm Đinh Dậu- 757-ND) vua Túc Tông nhà Đường đổi An Nam
thành Trấn Nam đô hộ phủ dùng Trương Bá Nghi làm quan đô hộ.
năm thứ 2 niên hiệu Đại Lịch (năm Đinh Tỵ-767-ND) đời vua Đại Tông nhà Đường, Trương Bá
nghi xây lại La Thành.
Đến năm thứ 3 (năm Mậu Thân- 768-ND) thì đổi lại là An Nam đô hộ phủ.
Cao Chánh Bình.
Đời vua Đại Tông1 nhà Đường làm quan đô hộ.
Triệu Xương, lên thay Cao Chánh Bình làm quan đô hộ.
Đến năm thứ nhất niên hiệu Trình Nguyên (năm Ất Sửu- 785-ND) đời vua Đức Tông2 nhà
Đường, Triệu Xương tâu lên xin đặt ra Nhu Viễn quân.
Bùi Thái, lên thay Triệu Xương làm quan đô hộ, bị người ở trong phủ là Vương Quí Nguyên giết rồi dùng Triệu Quân làm quan đô hộ3.
Triệu Quân.
Lý Tượng Cổ.
Đời vua Hiến Tông (806-820)4 nhà Đường, Triệu Quân và Lý Tượng Cổ làm quan đô hộ bị người trong phủ là Dương Thanh giết5.
Nguyễn Nguyên Gia (đúng là Lý Nguyên Gia-ND).
Vào năm thứ 2 niên hiệu Trường Khánh (năm Nhâm Dần- 822- ND) vua Mục Tông6 nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan đô hộ. Nguyên Hỷ thấy gần cửa thành có dòng nước chảy ngược mới sợ rằng người trong châu đa số sẽ sinh chuyện phản trắc. Nhân đó mới bói quẻ, xem cái thành hiện tại ấy như thế nào. Lúc bấy giờ, có cái thành nhỏ vừa mới đắp. Người xem bói, xem tướng nói rằng sức ông không đủ để bồi đắp cái thành lớn, 50 năm sau sẻ có người họ Cao đóng đô ở đấy mà xây dựng vương phủ.
Đến khoảng niên hiệu Hàm Thông (841- 873-ND) đời vua Ý Tông7 nhà Đường, Cao Biền đắp
thêm La Thành.
Hàn Ước người Võ Ninh, thuộc lãng châu, vốn tên là Trọng Cách. Trong khoảng niên hiệu Thái Hòa (827- 835- ND) vua Đường Văn Tông8 bãi bỏ chức đô đốc Giao Châu, toàn cõi Giao Châu đều thuộc về An Nam Đô Hộ phủ. Nhà vua dùng Hàn Ước làm quan đô hộ.
Võ Hồn người thời Vũ Tông (841- 846- ND) nhà Đường1.
1 Đường Đại Tông tên Dự, con Túc Tông, ở ngôi được 17 năm (763-779).
2 Đường Đức Tông tên Quát, con của Đại Tông, ở ngôi được 25 năm (780- 804).
3 "Đại Việt sử ký toàn thư " chép:Triệu Xương sang đô hộ cõi An Nam, dân rất cảm phục. Ông tại chức suốt 17 năm An nam yên ổn, sau vì đau nơi chân nên xin về cố quốc. Nhà Đường cho Đinh Bộ Lang trung Bùi Thái sang thay Triệu Xương. Đến năm Quý Tỵ- Tây lịch 803, tướng trong châu là Vương Quý Nguyên đuổi Bùi Thái. Vua nhà Đường thấy Triệu Xương tuổi ngoại thất tuần song trình bày việc gì cũng tinh tường minh bạch, vua lấy làm lạ, lại trao cho Triệu Xương chức Giao Châu đô hộ.
4 Đường Hiến Tông tên Thuần, con của Thuận Tông ở ngôi được 15 năm.
5 Dương Thanh, người Giao Châu là tù trưởng của người Mán, về sau làm Hoan Châu Thứ sử. Lúc bấy giờ có Lý Tượng cổ là dòng giống tông thất nhà Đường, được nhà Đường cho làm An Nam Đô hộ. Tham lam, hà khắc, mất lòng dân Lý Tượng Cổ bị Dương
Thanh đang đêm kéo quân về đánh úp, lấy Giao Châu giết Lý Tượng Cổ.
6 Đường Mục Tông tên là Hằng, con của Hiến Tông, ở ngôi được 4 năm (821- 824).
7 Đường Ý Tông tên là Xác (Giác), con của Tuyên Tông, ở ngôi được 14 năm (860- 873).
8 Đường Văn Tông tên là Ngang, con vua Mục Tông, ở ngôi được 14 năm (827- 840).
18 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Bùi Nguyên Hữu2 người thời Vũ Tông nhà Đường.
Nguyễn Trác3 đời Tuyên Tông (847- 859- ND)4 nhà Đường làm quan đô hộ Kinh Lược sứ.
Vương Thúc.
Thân phụ là Vương Khởi. Vương Thúc lá con (trai) của Vương Khởi vậy.
Vương Yhức đậu Tiến sỉ đệ5 và là người giỏi nhất trong các hàng quan lại. Được thăng chức Điện trung Thị ngự sử.
Trong khoảng niên hiệu Đại Trung (847- 859- ND) đời vua Tuyên Tông nhà Đường, Vương Thức làm Thứ sử Tấn Châu thì được thuyên chuyển sang làm quan đô hộ An Nam.
Lý Hộ6.
Năm thứ 12 niên hiệu Đại Trung (năm Mậu Dần- 858-ND) đời vua Tuyên Tông nhà Đường, Lý Hộ lên thay Vương Thức làm quan Đô hộ. Tháng chạp người Mường đưa quân Nam Chiếu vào đánh úp cướp phá bản phủ, Lý Hộ phải chạy sang Võ Châu.
Năm sau, Lý Hộ tập hợp thổ binh đánh quân Mường lấy lại phủ thành.
Vua Ý Tông nhà Đường chê trách Lý Hộ về việc để cho phủ thành thất thủ, mới giáng xuống làm chức Tư Hộ ở Đam Châu.
Trong khoảng niên hiệu Hàm Thông (860- 873- ND), vua Ý Tông nhà Đường bãi bỏ phủ An Nam Đô hộ, đặt hành Giao Châu ở Hải Môn, rồi cải đổi trở lại.
Vương Khoang thay Lý Hộ làm quan Đô hộ.
Thái Tập7.
Trong khoảng niên hiệu Hàm Thông (860- 873- ND) đời vua Ý Tông nhà Đường, Nam Chiếu đốc suất Man binh kéo sang cướp phá.
Vua Ý Tông dùng Quan Sát sứ Hồ Nam là Thái Tập thay Vương Khoang, rồi đem các đạo binh:
Đan, Hoạt, Từ, Biện, Kinh, Tương Đàm và Ngạt đi đánh quân Nam Chiếu. Man binh bèn kéo nhau đi. Lúc bấy giờ Quan Tiết độ sứ Lãnh Nam là Thái Kinh sợ Thái Tập lập được công mới bãi binh. Thái tập thấy Man binh mãi cướp phá chưa yên mà quân lính thì mệt mỏi trễ biếng, lương thực thì hết, đánh nhau
1 Đường Vũ Tông tên là Triền, con Triền, con của vua Mục Tông, ở ngôi được 6 năm.
2 "Đại việt sử ký toàn thư" chép: là Bùi Nguyên Hựu, "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chép là Bùi Nguyên Dụ.
3 Đúng là Lý Trác.
4 Đường Tuyên Tông tên là Thầm, con của Hiến Tông ở ngôi 13 năm.
5 Bên nước ta mãi đến thời nhà Lý mới bắt đầu có thi cử. Nhưng thi hội phải đợi đến nhà Trần. Năm 1232 vua Trần Thái Tông mở khóa thi Thái học sinh (tức tiến sỉ). Đến năm Đinh Mùi (1247) đặt ra tam khôi: Trạng nguyên, Bảng Nhãn, Thám hoa. Khoa thi năm 1247 này có ông Lê Văn Hưu đỗ Bảng mhãn. Ông là sử gia có tài của nước ta.
6 Có sách chép năm 858 nhà Đường dùng Vương Thức làm quan Kinh lược Đô hộ sứ. Đến năm 860 nhà Đường dùng Lý Hộ làm quan Đô hộ và cũng năm này quân Nam Chiếu công hãm thành phủ, Lý Hộ bỏ chạy.
Lại theo "Tư trị thông giám" thì sử này chép: Lý Hộ đến phủ liền giết viên tù trưởng Mán là Đỗ Thủ Trừng. Bộ hạ của Đỗ Thủ Trừng xúi giục quân Nam Chiếu vây đánh phủ thành. Lý hộ thua chạy về Vũ Châu. Vua Đường trách Lý Hộ về tội sát hại Thủ Trừng, lại làm mất phủ thành bèn giáng Lý Hộ làm Tư Hộ Đam Châu, sau lại lưu đày dài hạn ở Nhai Châu và Diêm Châu. Đồng thời muốn thu phục lòng dân, cốt cho yên, vua Đường mới truy tặng cho thân phụ của Thủ Trừng là Đỗ Tồn Thành chức kim ngô tướng quân.
"Khâm định Việt sử Thông giám cương mục" chép: Đỗ Tồn Thành bị quan Đô hộ Lý Trác giết. Đám dân Mán oán giận, đem quân Nam Chiếu vào cướp phá. Lý Trác là một viên quan tham lam tàn bạo, hà khắc và tham nhũng. Y thường mua ép bò ngựa của người Mán, mỗi đấu muốn đổi một con bò.
7 Thái Tập: "Đại Việt sử ký toàn thư" cũng chép là thái tập, song có sách chép là Sái Tập.
19 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
mười phần ắt chết. Do đó, mới làm tờ trạng giải bày dâng lên viên quan Trung Thư là Tỉnh Thời1. Tỉnh Thời xem bài trạng mà vì tin lời của Thái Kinh nên rốt cuộc không cứu xét gì cả.
Đến năm thứ 4 (niên hiệu Hàm Thông năm Quý Vị- 863- ND) mùa xuân, tháng giêng Nam Chiếu lại đốc suất năm vạn Man binh sang đánh. Phủ thành lại bị công hãm mà viện binh thì không đến. Quân tả hửu của Thái Tập ra sức đánh. Thái Tập, mình trúng mười mũi tên, muốn xuống thuyền mà không kịp phải chết chìm dưới nước. Lúc ấy có tướng được phong tước Ngu hầu Kinh Nam là Nguyên Duy Đức bảo binh sĩ rằng: "Bọn chúng ta không có thuyền bè, xuống nước thì chết, chi bằng hãy quay trở lại phủ
thành cùng với Man binh đánh nhau, mỗi một thân xác của chúng ta đổi hai mạng quân Man cũng có lợi". Rồi bèn từ phía đông cửa La Thành mà tiến vào. Quân Man không phòng bị. Nguyên Duy Đức tung lính vào đánh giết hơn hai chục ngàn người. Ngày hôm sau, tướng của Man binh là Dương Tư Tấn ra đánh. Nguyên Duy Đức tử trận. Man binh nhân đó mà giết địch quân gồm mười lăm vạn.
Sau đó, vua ý Tông nhà Đường cho lưu lại hai vạn người2. Các đạo binh còn lại được gọi về. lại bãi bỏ phủ Đô hộ An Nam đặt Hành Giao Châu ở Trấn Hải Môn3, dùng Tống Nhung làm Thứ sử Giao Châu. Đến tháng 7 thì đặt phủ Đô hộ trở lại.
Năm thứ 5 niên hiệu Hàm Thông (năm Giáp Thân- tức 864- ND) vua Đường Ý Tông cho Quan
Tổng Quản Kinh Lược sứ là Trương Ân đương luôn các việc ở An Nam. Trương Ân dừng lại, chứ không chịu tiến nhiệm. Hạ Hầu tiến cử Cao Biền đến thay Trương Ân.
Cao Biền4.
Cao Biền tự là Thiên Lý cháu của Cao Sùng Văn vậy. Ở trong quân ngũ thì nhún nhường. Thích đọc sách, ưa đàm luận về người xưa. Lúc nhỏ theo giúp ông Châu Thúc Minh. Một hôm có hai con chim (diều hâu) đang bay, Cao Biền trương cung mà khấn rằng: "Nếu tôi được phú quý thì bắn trúng vậy". Rồi bắn một phát mà hai con chim đều xâu vào mũi tên. Dân chúng vô cùng kinh ngạc mới gọi Cao Biền là:
"Lạc điêu thi ngự". Sau vì có công, Cao Biền được thăng làm Phòng ngự sứ Tần Châu (thuộc tỉnh Thiểm Tây bây giờ-ND).
Lúc bây giờ đất đai Giao Châu đã lọt vào tay quân Nam Chiếu5 Hết cả.
Năm thứ 5 niên hiệu Hàm Thông (tức năm Giáp Thân- 864 đời vua Ý Tông nhà Đường) vì Cao Biền là Kiêu vệ tướng quân6 nên được cho lãnh chức Kinh lược chiêu thảo sứ phủ Đô hộ An Nam. Nhà
1 Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" thì chép là: "Thời Tướng" và dịch giả sách ấy dịch là "Quan tể tướng đương thời". Riêng sách này chép là "Tỉnh Thời".
2 Sách "Đại việt sử ký toàn thư" chép: Quân nam chiếu lưu ở đấy hai vạn quân sai tướng Man là Dương Tư Tấn chiếm giữ thành Giao Châu. Sách này lại chép số quân hai vạn là quân nhà Đường (?)
3 Trấn Hải Môn: "Đại Thanh nhất thống chí" chép: Trấn Hải Môn ở cách phía Tây Huyện Bác Cạch Châu thuộc Uất Lâm 15 dặm, xưa là lối sang An Nam. Hải Môn ở đây không phải là cửa biển tức không phải Hải Môn thuộc Hải Dương. Nơi Ngô Quyền đánh Hoằng Tháo.
4 Trong sách này chép: Tháng 9 năm Giáp Thân- Tây lịch 864 Cao Biền đến Châu Nam Phong, dân Man đông đến 50.000 người đang mùa gặt, Cao Biền đánh úp một trận, giết hại dữ dội... Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: Tháng 9 năm Ất Dậu Tây lịch 865 Cao Biền đến Nam Định. Quân Mán ở Phong Châu gần 5 vạn vừa gặt lúa ngoài ruộng, Cao Biền đánh úp cả phá quân Mán.
Ta thấy hai bộ sách chép về năm mà họ Cao đánh lén không hợp nhau. Nhưng việc đánh dân Mán thì phù hợp. Nhân lúc đàn ông, đàn bà, già trẻ đang gặt lúa mà đánh úp một trận sát hại sinh linh vô tội quá mức như thế rõ là bất nhân, bất nghĩa, hèn hạ. Về sau lại chiếm giữ bản châu rồi xưng vương thì rõ là phản quốc.
Sách "Đường thư" đã liệt Cao Biền vào một trong tám truyện kẻ phản quốc.
5 Nam Chiếu: Một dân tộc gốc người Thái, Đã dựng nên một vương quốc trải dải từ Vân Nam (Trung Quốc) đến phía tây bắc Giao Châu. Lãnh thổ này gồm một phần đất tỉnh Vân nam. Trước đó có sáu vương quốc là Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng
Đạm, Thi Lãng, Mông Xá. Người các vương quốc này gọi chiếu là vua. Mông Xá là Nam Chiếu. Dần dần Nam Chiếu được dùng như tên trước.
Lúc bấy giờ tại Giao Châu Vua Nam Chiếu là Mông Thế Long cho Đoàn Tù Thiên làm Tiết độ sứ và phong cho Đông Tư Tấn quản lãnh việc quân.
6 Vị tướng dũng mãnh đóng quân ở ngoài cõi.

20 Đại Việt Sử Lược - Quyển I

vua lấy hết binh tướng của Trương Ân mà ủy thác cho. Tháng 9 Cao Biền đến châu Nam Phong. Dân Man đông đến năm mươi ngàn người, đang mùa gặt lúa, Cao Biền đánh úp một trận, phá hại dữ dội rồi tiến sang đánh quân Nam Chiếu. Lại phá được quân Nam Chiếu, giết tướng ấy là Đoàn Tù Thiên và chém binh Mường (thổ Man) hơn vạn cái thủ cấp1.
Vua Đường Tông bèn bỏ phủ Đô hộ đặt quân Tĩnh Hải dùng Cao Biền làm Tiết Độ Sứ. Cao Biền chiếm giữ bản châu rồi xưng vương.
Đám người Man vào cướp phá vừa đúng mười năm, đến lúc bấy giờ mới yên được.
Cao Biền đắp La Thành chu vi dài 1980 trượng2linh năm thước, cao 2 trượng 6 thước. Chân
thành rộng 2 trượng 6 thước. Bốn thành có nữ tường3 cao 5 thước 5 tấc. Địch lâu4 55 sở. Môn lâu5 5 cái.
Ủng môn (cửa tò vò)6 6 cái. Ngòi nước 3 cái. Đường bộ (?) 34 đường7 lại đắp chu vi dài 2125 trượng 8 thước, cao một trượng 5 thước. Chân đê rộng 3 trượng xây cất nhà cửa hơn 5000 căn. Cao Biền nhận thấy từ Giao Châu8 ta đến Ung Châu (tức thành Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng tây) và Quảng Châu đường biển có nhiều đá ngầm, thường làm nghiêng đổ thuyền bè. Việc chuyên chở bằng đường thủy khó khăn bèn sai quan Trưởng sử là bọn Lâm Phúng đào đá ấy. Mùa hè, tháng tư, ngày mồng năm bắt đầu làm. Trong khoảng hơn một tháng công việc sắp muốn hoàn thành, chỉ còn ở đoạn giữa (cửa quảng đường) bị gặp những tảng đá lớn trải dài liền nhau đến vài trượng mà cứng như sắt.
Dùng dao phạng xuống, dao cong lưỡi. Dùng búa bửa vào, búa gẩy cán. Người làm nhìn nhau, làm gần đến nữa chừng rồi thôi.
Đến tháng 5 hôm 26, đang lúc ban ngày mây đen đùn lên, gió lớn nổi lên một cách dữ dội.
Khoảnh khắc, sấm dậy ầm ầm, sét đánh khủng khiếp liên tiếp mấy tiếng. Rồi bổng nhiên trời quang mây tạnh thì tảng đá lớn đã phá hủy cả rồi. Chỉ còn hai nơi nữa đến tháng 6 nhày 21 lại nổi sấm sét như trước và tảng đá lớn một lát cũng bị tan vỡ cả. Công việv được hoàn thành, vì thế mới gọi chổ ấy là:
"Thiên Oai Kinh".
Đến năm thứ 9 (đời vua Ý Tông nhà Đường tức năm Mậu tý- 868) vua Ý Tông dùng Cao Biền
làm "Hữu kim ngô Đại tướng quân", gia phong chức Kiểm hiệu Thượng thư Hữu bộc xạ, cho chuyển đến làm Tiết độ sứ ở Thiên Bình rồi mất.
Cao Tầm.
Cao Tầm là cháu của Cao Biền9.
1 Thời Đông Chu, Vệ Ưởng giúp vua Tần Hiếu Công, đặt ra tân lệnh bắt dân phải theo và đã làm cho nước Tần trở nên giàu mạnh.
Điều thứ sáu trong bản Tân lệnh là Khuyến chiến: Cứ theo quân công mà định quan tước. Ai chém được một cái đầu giặc thì hưởng một cấp; ai lui một bước sẽ bị chém ngay. Về sau người ta gọi đầu quân định chém được là thủ cấp.
2 Đơn vị đo lường ngày xưa linh bốn thước, 1 trượng có mười thước ta.
3 Bức tường nhỏ xây cơi thêm trên cái thành lớn gọi là nữ tường.
4 Cái lầu xây trên thành để nhìn xem quân địch có đến không gọi là địch lâu.
5 Môn Lâu: cái lầu xây trên cái cửa ra vào.
6 Ủng Môn: Ủng (có sách phiên Úng) là cái vò còn gọi là cái ui làm bằng đất nung dùng để đựng nước, rượu v.v... Môn là cửa. Dùng
những cái vò sắp chồng lên ở hai bên, giữa chừa khoảng trống làm cửa ra vào gọi là Ủng Môn.
7 Nguyên bản là đạp đạo (?).
8 Giao Châu: Thời Tam Quốc năm 226 Ngô Tôn Quyền chia đất từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu. Từ Hợp Phố về Nam gọi là Giao Châu (Hợp Phố tức Quảng Đông. Sách này phần Vệ Dương nhà Triệu cho là Quảng Châu). Đến đời nhà Đường vua Cao Tông
chia đất Giao Châu ra làm 12 châu. Có 59 huyện và đặt An Nam Đô hộ phủ, 12 châu là: Giao Châu (Hà Nội, nam Định v.v...) có 8
huyện, lục châu (Quảng Yên, Lạng Sơn) có 3 huyện, phúc Lộc Châu (Sơn Tây) có 3 huyện, Phong Châu (Sơn Tây) có 3 huyện,
Thang Châu có 3 huyện, Huyền Châu có 4 huyện, Chi Châu có 7 huyện, Võ Nga Châu có 7 huyện, Hoan Châu (Nghệ An) có 4
huyện, Diễn Châu (Nghệ An) có 7 huyện.
9 Nguyên bản là Tòng Tôn: cháu của người anh hay người em của Cao Biền.

21 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Vào triều vua ý Tông (860-873) nhà Đường, Cao Biền thấy Cao Tầm những lúc ra trận thường đi hàng đầu mới tiến cử lên thay thế, nhận lãnh việc cai trị Giao Châu ta1.
Tăng Cổn2.
Đời vua Hy Tông (874-888- ND)3 nhà Đường, Tăng Cổn lên thay Cao Tầm làm Tiết độ sứ. Vì một lòng vỗ về cùng chăm sóc đến việc sinh trưởng4 trong dân mà nổi tiếng. Người trong châu gọi ông là Tăng Thượng Thư.
Ông có soạn quyển "Giao Châu Ký" một thiên.
Chu Toàn Dục là anh của Chu Toàn Trung lên thay Tăng Cổn làm Tiết độ sứ5.
Độc Cô Tổn, đời vua Chiêu Tông (889- 903)6 nhà Đường làm tể tướng. Vua Ai Đế (tức Chiêu
Tuyên Đế nhà Đường)7 trao cho chức Tiết độ sứ Tĩnh Hải để thay thế Toàn Dục. Người trong châu gọi Toàn Dục là Ngục Thượng thư.
Khúc Hạo8 vào năm thứ nhất niên hiệu Khai bình nhà Lương (năm Đinh Mão- 907- ND)9 lên thay Độc Cô Tổn làm Tiết độ sứ.
Khúc Toàn Mỹ10 là em trai của Khúc Hạo vậy. Đời vua Minh Tông (926- 933- ND)11 nhà Hậu
Đường, thay thế Khúc Hạo làm Tiết độ sứ.
Sau Khúc Toàn Mỹ bị tướng Nam Hải là Lương Khắc Chân1 bắt đưa về Nam Hán rồi cho Nguyễn Tiến sang thay.
1 Có sách chép năm Ất vị (875) vua Đường Hy Tông thuyên chuyển Cao Biền làm Tiết độ sứ ở Tây Xuyên và dùng Cao Tầm thay thế Trấn thủ Giao Châu.
2 Tăng Cổn: giỏi về chính trị, lúc còn là viên tiểu hiệu đã giúp Cao Biền không ít trong việc thu phục dân tâm. Nhưng mãi về sau Tăng Cổn mới thay Cao Tầm làm Tiết độ sứ Giao Châu. Cao Biền không có lòng cân nhắc người hiền tài (?) Một sử liệu cho biết:
Một năm, lúc tại chức, quân trong phủ nổi loạn. Các thủ hạ xin tăng cổn hãy lánh nạn, Tăng không nghe mà lại đem uy đức ra để cảm hoá. Bọn làm loạn đều ngưng tay, kéo đến xin chịu tội. tăng Cổn không làm tội. Do đó quân các đạo đều theo về với Tăng Cổn. Tăng Cổn trấn nhậm được 14 năm, nhà Đường mới cho Chu Toàn Dục sang thay. ta thấy Cao Biền dùng uy võ lực trị dân. lại dùng tà thuật mê hoặc lòng người và kết cục chỉ được 9 năm rồi cháu là Cao Tầm 4 năm nữa. Tổng cộng họ Cao hai người trấn nhậm Giao Châu chỉ được 13 năm. Cho nên đức thằng tài là vậy.
3 Đường Hy Tông tên Nghiễm, con của ý Tông, ở ngôi được 15 năm.
4 Nguyên bản là tự phủ: phủ là vỗ về, an ủi (một trong chín chữ cù lao) tự là sinh sản nuôi nấng.
5 Chu Toàn Dục bị em là Chu Toàn Trung (tức là Lương Thái Tổ, xem chú thích) cho là dốt nát, tham bạo, không có khả năng trị an và bãi chức.
6 Đường Chiêu Tông, tên Diệp, con của ý Tông, ở ngôi 15 năm.
7 Ai Đế nhà Đường tên Chúc được lập lên ngôi năm 904 sau khi vua Chiêu Tông bị Chu Toàn Trung giết.
8 Khúc Hạo là con của Tiệt độ sứ Giao Châu Khúc Thừa Dụ. Khúc Thừa Dụ quê ở Hồng Châu (thuộc tỉnh Hải Dương bây giờ) người khoan hòa, được nhiều người tin phục. Sau Khúc Thừa Dụ làm đến Tĩnh hải Tiết độ sứ, gia phong làm Đồng bình Chương sự.
Trong thực tế họ Khúc, người bản xứ đã dựng nên một chính quyền độc lập và tự chủ vào năm (906- 907), Khúc Hạo (907-917),
Khúc Thừa Mỹ (917- 923). Hán chủ sai Kiêu tướng là Lý Khắc Chính đưa quân sang đánh Giao Châu bắt Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ vào năm 923 tức năm Quí mùi, tháng bảy (nhà Đường Trang Tông Lý Tồn Húc niên hiệu Đồng Quang nguyên niên), theo Đại Việt sử ký toàn thư.
9 Lương: tức Hậu Lương. Em của Chu Toàn Dục là Chu Toàn Trung, người Đảng Sơn, lúc đầu theo Hoàng Sào. Năm 904 theo vua Chiêu Tông. Sau đầu hàng nhà Đường, được phong vương và được nhường ngôi, ở ngôi 7 năm (907- 913) truyền đến con là Lương Mạt Đế thì dứt. Sử gọi là nhà Hậu Lương.
10 Bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Khúc Thừa Mỹ và là con của Khúc Hạo. Thừa Mỹ kế nghiệp Khúc Hạo vào năm Đinh Sửu- Tây lịch 917 đời vua Lưu Nham nhà Nam Hán, niên hiệu Kiến hanh năm thứ nhất, năm ấy đúng là đời Mạt Đế nhà Lương niên hiệu Trinh minh năm thứ ba. Đến năm Quí Mùi đời vua Trang Tông nhà Đường, niên hiệu Đồng quang năm thứ nhất- Tây lịch 923. Nhà Lương, niên hiệu Long Đức năm thứ ba thì Thừa Mỹ bị Lý Khắc Chính bắt, xem lời chú số 151.
11 Đường Minh Tông: tên tự là Tự Nguyên, con nuôi của Lý Khắc Dụng, người Đại Bắc, được loạn binh ở nghiệp đô lập làm vua sau khi Trang Tông bị giết, ở ngôi được 8 năm.
22 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Nguyễn Tiến (đúng là Lý Tiến- ND).
Năm thứ nhất niên hiệu Trường Hưng (năm Canh Dần-930- ND) đời vua Minh Tông nhà Hậu
Đường, chúa Nam Hán là Lưu Cung2 sai tướng là bọn Lương Khắc Chân3 sang đánh Giao Châu ta, bắt được quan Tiết độ sứ là Khúc Toàn Mỹ, rồi cho tướng là Nguyễn Tiến thay thế.
Dương Đình Nghệ4.
Dương Đình Nghệ người Ái Châu (Thanh Hóa). Trong khoảng niên hiệu Trường Hưng (930- 933- ND) đời vua Minh Tông nhà Hậu Đường, Dương Đình Nghệ phát binh đánh Nguyễn Tiến. Nguyễn Tiến phải chạy về. Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ.
Năm thứ hai niên hiệu Thiên Phúc (năm Đinh Dậu- 937) đời vua Cao Tổ5 nhà Hậu Tấn, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết6. Kiều Công Tiễn.
Kiều Công Tiễn là người Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch hạc, tỉnh Vĩnh Yên-ND).
Năm thứ 2 niên hiệu Thiên Phúc (năm 937) đời vua Cao Tổ nhà Hậu Tấn, mùa xuân, tháng 3 Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ rồi lên thay. Sau bị Ngô Vương7 giết chết.
Quan thủ nhậm trải qua các thời đại, kể từ năm thứ nhất niên hiệu Nguyên Phong đời Vũ Đế nhà Tây Hán, tức năm Tân Mùi (năm 110 trước công nguyên), đến năm thứ 3 niên hiệu Thiên Phúc đời Cao Tổ nhà Hậu Tấn, tức năm Mậu Tuất (938 sau công nguyên), gồm có 1048 năm thì nhà Ngô bắt đầu khởi nghiệp.
Trong khoảng thời gian đó, hoặc là do người phương Bắc trao chức tước cho hoặc là do chính người trong nước tự xưng, kể có hơn 100 người mà chỉ thấy chép có 83 người.
1 "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: Lưu nham nhà Nam Hán tháng bảy năm Quí Mùi sai Lý Khắc Chính đánh Giao Châu bắt Khúc Thừa Mỹ. Sách này chép là Lương Khắc Chân (?) theo ông Nguyễn Khắc Thuần thì sử Trung Quốc chép là Lương Khắc Trinh.
2 Lưu Cung là em Lưu Ẩn. Năm 907 Lưu Ẩn được nhà Lương (Chu Toàn trung) phong làm Nam Bình Vương kiêm Tiết độ sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải (An Nam) đóng ở Phiên Ngung. Lúc bấy giờ tại Giao Châu Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo kế nghiệp. Lưu Ẩn muốn mưu hại Khúc Hạo. Năm 911, Lưu Ẩn chết, em là Lưu Cung lên thay. Lưu Cung còn có nhiều tên nữa là Nham, Trắc, Nghiễm. Không phục nhà Lương, Lưu Cung tự xưng là Đế, đặt quốc hiệu là "Đại Việt", sau đổi lại là Nam Hán. Năm 917 tại Giao Châu Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên kế nghiệp. Khúc Thừa Mỹ nhận phù tiết và búa việt của nhà Lương mà
không thần phục nhà Nam Hán. Đã có ý muốn thôn tính toàn cõi An Nam, nay lại thấy Khúc Thừa Mỹ không thần phục, Lưu Cung sai Lý Khắc Chánh đánh chiếm Giao Châu bắt Khúc Thừa Mỹ.
3 Xem chú thích 155.
4 Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo. Nhiều sách chép là Dương Diên Nghệ.
5 Tấn Cao Tổ họ Thạch, tên Kính Đường, người Thái Nguyên, lấy chức Lưu thủ Bắc kinh dấy binh, được Khất Đơn lập làm vua, ở ngôi 7 năm (936- 942).
6 Kiều Công Tiễn: có sách chép Kiểu Công Tiễn. Sách sử Trung Quốc thường chép là Kiểu Công Tiễn. Riêng bộ "Cương mục" Tàu lại chép Kiểu Công Hạo. Theo sách An Nam kỷ yếu thì Kiểu Công Tiễn là Người Phong Châu. Ban đầu là con nuôi của Dương Đình Nghệ, về sau là gia tướng của Dương Đình Nghệ. Năm Mậu Tuất- 938 Tây lịch, Kiều Công Tiễn giết cha nuôi Dương Đình Nghệ, cướp quyền Tiết độ sứ ở Giao Châu. Tham Lam, bất nghĩa, hành độnh như Lã Bố thời Tam quốc!
7 Ngô Vương tức Ngô Quyền, người huyện Đường Lâm. Cha của Vương là Ngô Mân làm chức mục ở bản châu.
Ngô Quyền: khôi ngô, mắt sáng, đi đứng khoan thai, can đảm và mưu lược lại có sức khỏe. Lúc đầu Ngô Quyền làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ, sau làm rể Dương Đình Nghệ (Đại Việt sử ký toàn thư).
Khi đánh tan quân Nam Hán, giết Vạn Vương Hoằng Tháo, Ngô Quyền sắp định bá quan, chế triều nghi, định màu sắc triều phục tỏ rõ được tinh thần độc lập, quyền tự quyết của dân có thể nói Ngô Quyền là người đã dọn đường thắp đuốc soi sáng một hướng đi, quang minh chính trực mà các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần sẽ đi.
23 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Chép Về Nhà Ngô1
Tiền Ngô Vương
Ngô vương húy là Quyền, họ Ngô là con của vị Tiên phủ.
Ngô vương theo giúp Dương Đình Nghệ làm chức Tướng quân.
Năm thứ 2 niên hiệu Thiên Phúc (năm Đinh Dậu- 937) đời vua Cao Tổ nhà Hậu Tấn, Ngô Quyền từ Ái Châu cất binh ra đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn sai người sang cầu cứu bên Nam Hán. Lưu
Cung2 (chúa Nam Hán -ND) cho con là Vạn Vương Hoằng Tháo3 làm chức Tĩnh hải quân Tiết độ sứ đem binh sang cứu Kiều Công Tiễn. Hoằng Tháo cho thuyền đưa quân từ sông Bạch Đằng tiến vào sắp muốn đánh Ngô Quyền thì Ngô Quyền đã giết được Kiều Công Tiễn. Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo tiến quân vào nơi cửa biển, bèn cho cắm cọc lớn đầu có bịt sắt (dưới lòng sông- ND). Đến lúc nước thủy triều dâng lên mới sai quân dùng thuyền nhỏ ra khiêu chiến mà giả vờ thua. Hoằng Tháo đuổi theo. Lúc ấy nước thủy triều rút xuống, cọc bày ra. Hoằng Tháo chống trả túi bụi, rồi thì nước chảy rất mạnh vào hết các thuyền đang vướng mắc nơi cọc. Ngô Quyền ra sức đánh phá dữ dội. Quân Nam chết chìm quá nửa và Hoằng Tháo bị giết, Ngô Quyền mới xưng vương.
Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai vận đời vua Xuất Đế nhà Hậu Tấn4 (tức năm Giáp Thìn- 994- ND) thì vương (Ngô Vương Quyền-ND) mất, ở ngôi được 7 năm.
Dương Bình Vương
Tên húy là Chủ Tướng, họ Dương5 là gia thần củaTiền Ngô vương vậy.
Khi Ngô Vương (Ngô Quyền) mất, Dương Chủ Tướng tự lập làm vương6, con của Ngô Vương là Ngô Xương Ngập phải chạy đến nhà của Phạm Lệnh Công ở Trà Hương (thuộc huyện Kim Thành- ND).
Dương Chủ Tướng bắt em Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Văn làm con mình. Em của Ngô Xương Văn là Nam Hưng, Càn Hưng đều còn nhỏ. Ít lâu sau đó Dương Chủ Tướng sai người đem lính đến nhà Phạm Lệnh Công để tìm bắt Ngô Xương Ngập. Phạm Lệnh Công sợ hãi đem giấu Ngô Xương Ngập trong hang.
Đến năm thứ 3 niên hiệu Càn Hựu (năm Canh Tuất- 950- ND) đời vua Ẩn Đế7 nhà Hậu Hán, Chủ Tướng sai Xương Văn và hai sứ quân là Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đem quân đi đánh hai
1 Xem chú thích 161.
2 Xem chú thích 156. Có người nói là Lưu Yểm, ấy là đọc nhầm chữ Nghiễm. Lưu Cung: nguyên trước kia Cung có tên là Nham, sau đổi là Trắc, sau nữa vì thấy điềm rồng trắng hiện ra mới đổi tên Cung (Cung có chữ long là rồng và chữ cộng= Cung là cung kính). Sau có vị tăng nhân nói, trong sấm thư có câu: "Diệt lưu thị giả cung giả" (nghĩa là kẻ diệt họ Lưu là Cung vậy). Bởi vậy câu
sấm ấy, lại vì Vạn Vương Hoằng Tháo bị Ngô Quyền giết, Lưu Cung sợ mà đổi tên là Nghiễm. Nghiễm gồm chữ Long là rồng và chữ thiên là trời, ứng với điềm thấy rồng bay và hợp với câu trong Kinh dịch: "Phi long tại thiên nghĩa là rồng bay trên trời".
3 "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Hoằng Tháo giống như bản "Đại Việt sử lược". Có người nói, là Hồng Tháo, lại nói là Hoành Tháo (có nhầm không).
4 Vua Cao Tổ băng thì con của người anh Cao Tổ là Trùng Quí lên nối ngôi tức là Tấn Xuất Đế, không cải đổi niên hiệu, ở ngôi được 5 năm (942- 946).
5 Nhiều sách chép là Dương Tam Kha, nguyên trước kia Ngô Quyền lấy Dương thị là con gái của Dương Đình Nghệ lập làm Vương hậu, Dương Chủ Tướng là em của Dương thị tức với Ngô Xương Ngập là cậu cháu.
6 Khi sắp mất Ngô Quyền ủy thác Ngô Xương Ngập cho Chủ Tướng, nhân đó Dương Chủ Tướng mới cướp quyền của cháu mà xưng vương.
7 Vua Ẩn Đế nhà Hậu Hán, tên Thừa Hựu, con của Hán Cao Tổ, ở ngôi được 3 năm (958- 950).

24 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
thôn Thái Bình, Đường Nguyễn (Điều thuộc Sơn Tây- ND). Đi đến Từ Liêm, Ngô Xương Văn bảo hai sứ rằng: "Tiên vương ta, đức hợp lòng dân, chẳng may lìa bỏ quần thần. Dương Chủ Tướng tự ý hành động một cách bất nghĩa, tội lớn vô cùng. Nay lại sai ta đi đánh các ấp vô tội1. May mà thắng thì kẻ kia rốt cũng không phục. Vậy chúng ta phải làm sao?". Hai sứ thưa rằng:"Ngài dạy
bảo, chúng tôi xin nghe". Bèn đem binh quay trở lại lẻn đánh Bình Vương (Dương Chủ Tướng) và lật đổ được y. Ngô Xương Văn thấy Dương Bình Vương với mình có cái ơn riêng bèn giáng xuống làm Trương Dương sứ. Cho hưởng lộc nơi ấp của y. Dương Bình Vương ở ngôi 7 năm.
Hậu Ngô Vương
Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương.
Nam Tấn húy là Xương Văn là con thứ hai của Ngô Vương Quyền vậy.
Đến năm thứ 3 niên hiệu Càn Hựu (năm Canh Tuất- 950- ND) đời vua Ẩn Đế nhà Hậu Hán, Ngô Xương Văn bỏ Dương Bình Vương đi rồi tự lập lên, xưng là Nam Tấn Vương.
Đến năm thứ nhất niên hiệu Quảng Thuận (năm Tân Hợi- 951- ND) đời vua Thái Tổ nhà Hậu
Chu2 Ngô Xương Văn3 sai sứ đi rước anh là Ngô Xương Ngập4 về coi việc nước. Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương.
Lúc bấy giờ có người ở động Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh nương tựa nơi khe núi hiểm trở, kiên cố mà ở, không chịu tu sửa cho đúng cái chức vụ của bầy tôi. Hai vị vương muốn đánh, Đinh Bộ Lĩnh sợ hãi sai con là Liễn vào triều cống. Liễn đến, hai vị vương chê trách sao không vào chầu, rồi bắt giữ Liễn và đem binh đi đánh Đinh Bộ Lĩnh.
Đánh hơn một tháng vẫn không thắng được, vương bèn treo Liễn lên cần tre rồi bảo Bộ Lĩnh
rằng: "Nếu không hàng tất giết Liễn". Đinh Bộ Lĩnh tức giận đáp rằng: "Đại trượng phu há vì đứa con nhỏ mà làm lụy đến việc lớn sao?". Rồi ra lệnh cho hơn 10 tay cung nỏ bắn Liễn. Hai vị vương kinh sợ rồi đem quân trở về. Lúc bấy giờ Thiên Sách Vương tự tiện tác oai tác phúc mà Nam Tấn Vương thì không dự vào việc chính trị nữa.
Đến năm thứ nhất niên hiệu Hiến Đức (năm Giáp Dần- 954- ND) đời vua Thế Tông5 nhà Hậu
Chu, Thiên Sách Vương mất. Nam Tấn Vương sai sứ sang Nam xin được phong. Chúa Nam Hán là Lưu Xương6 cho Vương làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải7. Đến năm thứ 3 niên hiệu Càn Đức (năm Ất Sửu- 965- ND)
1 Có sách chép dân hai thôn ấy làm loạn, cũng là cái cớ của Dương Chủ Tướng đem binh đến đánh vậy.
2 Vua Thái Tổ nhà Hậu Chu họ Quách, tên Uy, người hình châu lấy chức lưu thủ Nghiệp đô mà soán ngôi, ở ngôi 3 năm (951- 953).
3 Ngô Xương Văn đã trải qua những ngày đen tối: cha mất, anh là Ngô Xương Ngập trốn nạn, các em là Ngô Nam Hưng, Ngô Kiều Hưng đều còn bé dại, tấm thân lại phải nương tựa vào kẻ thù, một nghịch thần bất nghĩa là Dương Tam Kha. Trong thời gian đó Ngô Xương Văn phải luôn luôn gìn giữ ý tứ, nói năng thận trọng, nếu không tất sẽ bị sát hại hoặc bị tù đày, hành hạ cay cực hơn
nữa. Thế nhưng, giữa cảnh đau lòng ấy Ngô Xương Văn đã khôi phục lại cơ nghiệp của Tiên Vương, đã đánh và bắt được Dương Tam Kha. Dương Tam Kha không bị giết, chỉ bị giáng và được cấp thực ấp cho để hưởng. Ngô Xương Ngập được đón rước về
triều để anh em cùng nhau chung lo việc trị nước. Xương Ngập, phẩm đức kém, đã không biết nhường em lại còn tỏ rõ những hành động bất nhã: tác oai, tác quái áp chế em, đến nổi Ngô Xương Văn phải rút lui, không tham dự quốc chính nữa.
Ta thấy: không giết Dương Tam Kha thì Ngô Xương Văn nghĩ tình cậu cháu, nhớ công nuôi dưỡng. Ngô Xương Văn đả tỏ rõ được lượng cả bao dung và có đức nhân nghĩa. Việc rước anh về triều để cùng chung lo quốc chính, chung hưởng cảnh an vui, tỏ rõ Ngô Xương Văn là người thảo thuận. Việc này hẳn là hồn linh đức Tiên vương cũng là người phải sung sướng. Tóm lại, ta có thể nói Ngô Xương Văn là người mà nhân, nghĩa, hiếu, để đều có đủ vậy.
4 Ngô Xương Ngập là ngưòi mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã phê rằng ý chí thấp hèn quê vụng.
5 Vua Thế Tông nhà Hậu Chu tên Vinh, con nuôi của Thái Tổ, vốn họ Sài, cháu của vợ Thái Tổ, ở ngôi được 5 năm (954- 958).
6 Nhà Nam Hán mất, Lưu Xương lên, tự xưng là Hậu chúa, tính hay làm càn, không chịu nghe ai, lại hay đa nghi mà hoang dâm vô độ, triều chính mỗi ngày một đổ nát. Tống Thái Tổ sai Phan Mỹ đi đánh, bèn xin hàng, ở ngôi được 30 năm thì mất.
7 Vua nhà Đường đổi An Nam làm Tĩnh Hải.

25 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
đời vua Thái Tổ, nhà Hậu Tống1 Vương đốc xuất binh lính đi đánh thôn Thái Bình và Đường Nguyễn Vương ngự trên thuyền lớn quan sát trận chiến bị tay cung nỏ núp bắn trúng mà chết. Lúc bấy giờ 12 sứ quân đều nổi dậy. Mỗi sứ quân chiếm giữ riêng châu quận mà tự cai trị.
Thiên Sách Vương ở ngôi 3 năm.
Nam Tấn Vương ở ngôi 13 năm nhằm vào khoảng niên hiệu Hiến Đức đời vua Thế Tông nhà Hậu Chu.
Từ Tiền Ngô Vương đến Hậu Ngô Vương gồm có 3 đời vua. Bắt đầu từ năm Mậu Tuất (năm 938- ND) và chấm dứt vào năm Ất Sửu (năm 965- ND) cộng tất cả 28 năm thì mất.
Mười Hai Sứ Quân
1.Kiểu Tam Chế tên là Công Hãn chiếm giữ Phong Châu (ở vào khoảng phủ Vĩnh Tường, trước thuộc tỉnh Sơn Tây nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên- ND).
2. Nguyễn Thái Bình tên Khoan, một tên nữa là Ký, chiếm giữ Vũng Nguyễn Gia (thôn Vĩnh Mộ, huyện Yên Lạc-ND)2.
3. Trần Công Lãm3 tên là Nhật Khánh chiếm giũ Đường Lâm (bây giờ là làng Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây- ND).
4. Đỗ Cảnh Công tên là Cảnh Thạc, chiếm giữ Đỗ Động (thuộc huyện Thanh Oai) (Đỗ Cảnh Thạc là tướng của nhà Ngô- ND).
5. Nguyễn Du Dịch tên là Xương Xí4 chiếm giữ Vương Cảo (?).
6. Nguyễn Lãng Công5 tên Khuê chiến, giữ Siêu Loại (nguyên trước là làng Thổ Lội, sau đổi là
Siêu Loại, lại đổi là Thuận Quang thuộc tỉnh Bắc Ninh- ND).
7. Nguyễn Lịnh Công tên là Thủ Tiệp chiếm giữ Tiên Du (thuộc tỉnh Băc Ninh- ND).
8. Lữ Tả Công tên là Quánh6 chiếm giữ Tế Giang (Văn Giang, Bắc Ninh- ND).
9.Nguyễn Hữu Công tên là Siêu, chiếm giữ Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Đông).
1. Kiểu Lệnh Công tên là Thuận giữ Hồi Hồ (tức Cấm Khê, nay ở địa hạt phủ Vĩnh Tường, tỉnh
Vĩnh Yên- ND).
2. Phạm Phòng Át tên là Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên).
12.Trần Minh Công tên Lãm chiếm giữ Giang Bố Khẩu (kỳ Bố, tỉnh Thái Bình).
Mười hai sứ quân nổi lên bắt đầu năm Ất Sửu (năm 965) và chấm dứt vào năm Đinh Mão (năm 967) gồm có 3 năm thì Đinh Tiên Vương (Đinh Bộ Lĩnh) mới thôn tính được hết cả1.
1 Vua Thái Tổ nhà Hậu Tống họ Triệu, tên Khuông Dận, người Trác quận, làm quan cho nhà Chu, soán ngôi, ở ngôi tất cả được 16
năm (960- 975).
2 Nguyễn Khoan chiếm giữ Tam Đái, một tên phủ về đời Hậu Lê thuộc Sơn Tây, gồm 6 huyện: Phù Ninh (nay là Phú Thọ), Bạch Hạc, Lập Thạch, Yên Lạc (nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên), Yên Lãng (nay thuộc Phúc Yên) và Tân Phong (nay là Quảng Oai thuộc Sơn
Tây).
3 "Đại việt sử ký toàn thư" chép là Ngô Lãm Công.
4 Nhiều Sách chép họ Ngô, tên Xương Xí là con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập và chiếm giữ Bình Kiều (nay là làng Bình
Kiều, phủ Khoái Châu, Hưng Yên).
5 Nguyên là họ Lý: Lý Khuê.
6 Có sách chép tên Đường: Lữ Đường.

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn