Thứ tư, 25/11/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay908
mod_vvisit_counterHôm trước1053
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c (Quyển 1) E-mail
21/07/2020

  Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c ( Phần 3)

26 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Chép Về Nhà Đinh
Đinh Tiên Vương
Tên húy là Bộ Lĩnh2, người ở động Hoa Lư3. Lúc nhỏ mồ côi (cha), vương cùng với mẹ và 5 bà lão vào ở trong núi, bên cạnh ngôi đền thờ thần. Ngoài cửa có bụi sen núi. Dấu của loại ốc sên bò trên lá sen thành chũ Thiên tử.
Vương lúc nhỏ thường cùng bọn chăn bò ở chốn sơn dã, được lũ trẻ tôn lên làm trưởng. Chúng lấy lễ quân thần để theo giúp vương. Những lúc cùng nhau chơi giỡn thì bọn trẻ đâu tay làm ghế ngồi để khiêng vương. Lại lấy cờ bông lau4 cho cầm đi trước dẫn đường. Có kẻ tả hữu theo bên, biểu tượng nghi vệ của bậc Thiên tử. Lúc rảnh rổi bọn trẻ lại giục nhau đi nhặt củi để cung cấp cho vương như cách nạp thuế vậy. Chiều về, bà mẹ của Vương thấy vậy vui mừng mới nấu thịt heo cho ăn. Các bậc già cả trong làng đều kháo nhau rằng: "Đứa trẻ này có cái khí lượng, cái nghi dung phi thường ắt có thể giúp đời,
đem lại yên lành cho dân. Bọn chúng ta nếu không sớm theo về, ngày khác ắt hối lại thì đã muộn". Rồi thúc giục con em đi theo Vương.
Tại sách (làng)5 Tế Áo, chú6 của Vương một mình chiếm giữ, chứ không chịu theo về. Vương thôi thúc quân lính đến đánh, không thắng được. Thua chạy đến vũng Đàm Gia, cầu gãy, Vương bị vây hãm giữa chổ bùn lầy. Ông chú muốn đâm Vương, thì bổng thấy hai con rồng vàng che trên mình Vương. Ông chú sợ hãi rút lui rồi đầu hàng. Lúc bấy giờ ở trong cõi không có chúa. Vương nghe Trần Minh Công là người giỏi mà không con nối dòng mới sang xin nương nhờ. Trần Minh Công nhìn qua một lượt biết
Vương là người có khí lượng lớn mới nuôi làm con mình. Trần Minh Công đem binh l1inh của ngài giao hết cho Vương (Đinh Bộ Lĩnh) rồi sai đi đánh 12 sứ quân7 và đều được dẹp yên. Năm Mậu Thìn (năm 968- ND) Trần Minh Công chết. Dân chúng ở kinh phủ, lại, đa số đều theo về với Vương.
Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai bảo (năm Mậu Thìn- 968- ND) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ8, Vương xưng hoàng đế ở động Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc9 và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế1.
1 Đặc biệt mỗi sứ quân trong sách này được viết ghép cái họ với tên hiệu, thứ đến mới chép tên. Cho nên Tam Chế là tên tự xưng của Kiểu Công Hãn, Thái Bình là danh xưng của Nguyễn Khoan vậy.
2 Đinh Bộ Lĩnh: con ông Đinh Công Trứ. Vào đời Dương Đình Nghệ và Ngô Vương Quyền, Đinh Công Trứ giữ chức Thứ sử Hoan Châu. Đinh Bộ Lĩnh sớm mồ côi cha, ở với mẹ, sau đến nương nhờ sứ Trần Minh Công tức là Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (tỉnh Thái
Bình). Thấy Đinh Bộ Lĩnh là người uy nghiêm, khôi ngô và có chí khí, Trần Minh Công cho giữ binh quyền. Khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh kéo binh về ở động Hoa Lư, chiêu mộ binh sĩ và ra sức hàng phục và đánh dẹp được 11 sứ quân.
Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế đặt tê nước là Đại Cồ Việt, đóng đô tại thành Hoa Lư.
3 Hoa Lư: nơi sanh trưởng của Đinh Bộ Lĩnh thuộc sơn vận xã Uy Viễn và xã Uy Tế huyện Gia Viễn (trước là Lê Bình tỉnh Ninh Bình.
Lòng động phẳng và rộng, chung quanh có núi vây bọc như bức tường thành.
4 Lư Hoa: Hoa Lau. Các loại bông, lau, bông cây ngô (bắp) dân quê ta gọi kà cờ bông lau, cờ bắp.
5 Sách: thôn làng có hàng rào chung quanh để đem hôm ngăn chặn kẻ đạo trộm gian tà.
6 Chú của Đinh Bộ Lĩnh tên là Đinh Dự.
7 Trần Minh Công là người quản lãnh một trong 12 sứ quân. Vậy khi Trần Minh Công giao hết binh lực cho họ Đinh và sai đi đánh dẹp thì chỉ đánh 11 sứ quân còn lại.
8 Xem chú thích số (176) phần chép về Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương.
9 Xã Tắc: xã là Thổ thần hay Thần Hậu thổ tức thần giữ đất, tắc là Cốc thần hay Thần Nông, tức thần cho được mùa, Thần trông coi về nông nghiệp. Ngày xưa dựng nước lấy dân làm trọng. Dân cần đất, sợ mất đất vua dựng đền để tế thần đất. Dân cần lúa,
vua lập đền để thờ Thần Nông. Theo kinh lễ: Vua tế Nam giao (tế trời ) còn chư hầu tế Xã tắc. Xưa, mỗi khi đánh thắng kẻ địch,
người ta hay phá đền Xã Tắc, chủ tâm là phá nơi thiêng liêng sùng kính của kẻ địch. Vì thế nên về sau chữ Xã Tắc dùng để chỉ về


27 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Nhà vua đặt vạc lớn ở nơi sân, nuôi cọp trong cũi và hạ lệnh rằng: Có ai phạm pháp sẽ bị nấu,
hoặc cho cọp xé thây. Các tội nhơn đều khiếp sợ mà qui phục, chứ không dám trái lệnh.
Đến năm kỷ Tỵ (năm 969- ND) tức là năm thứ hai đời Đinh Tiên Hoàng, tháng 5 nhuần, vua
phong con trưởng là Đinh Liễn làm Nam Việt Vương.
Năm Canh Ngọ (năm 970- ND) tức là năm thứ ba đời Đinh Tiên Hoàng, vua đổi niên hiệu là Thái Bình năm thứ nhất.
Nhà Tống phong cho vua là An Nam Quận Vương2.Vua lập Vương hậu năm bà.
Năm Tân vị (tức năm 971) là năm thứ hai niên hiệu Thái Bình (đời Đinh Tiên Hoàng)3 vua định
phẩm cấp các quan văn võ và thầy tu. Dùng Lưu Cơ làm chức Thái sư ở Đô hộ phủ, Nguyễn Bặc làm Đinh quốc công, Lê Hoàng làm Thập đạo tướng quân.
Nhà Tống nghe vua xưng đế hiệu sai người mang thư sang. Trong thư đại lược rằng: "Nước
Trung Hoa4 đối với dân man mọi5 cũng như con người có tay chân vậy. Nếu lòng dạ chưa yên tay chân có thể làm lụng được chăng? Cõi Giao Châu nhỏ bé lại ở xa xôi mãi cuối trời mà cuối đời nhà Đường thì nhiều hoạn nạn nên chưa kịp phân xử. Nay thánh triều che chở cho muôn nước được an lành. Công
Nghiệp đã thành rồi. Giờ đợi nhà ngươi đến để cho yên lòng Trẫm. Nhà ngươi chớ nên quay đi khác, gây cái lo lắng nhỏ cho ta, khiến ta phải dùng cái kế là dứt tình, dứt nghĩa6 mà kéo binh sang làm thịt nước nhà ngươi. Lúc ấy hối lại thì biết chạy đi đâu?".
Năm Nhâm Thân (tức năm 972- ND) là năm thứ 3 niên hiệu Thái Bình, vua phong cho con là
Đinh Tuệ7 làm Vệ Vương lập con thứ là Hạng Lang làm Thái tử.
nước nhà. Hiếu Kinh: Nhiên hậu năng bảo kỳ xã tắc nhi hòa nhân dân (rồi sau mới có thể giữ gìn xã tắc và hòa với nhân dân ).
Hạnh thục ca:
"Vả chăng xã tắc làm đầu".
1 Bởi vậy ca dao có câu:
"Xem lên trăng bạc trời hồng,
Dạo miền sơn thủy bẻ bông Thái Bình",
vì kiêng tên húy nên phải dùng lối chiết tự. Trăng bạc là chữ nguyệt. Trời hồng là chữ nhật. Nhật nguyệt hợp lại thành chữ minh là sáng để chỉ tên hiệu của vua Đinh Tiên Hoàng.
2 Vương nghĩa là vua (roi) mà cũng có nghĩa là tước vương (prince). Tước vương lớn hơn năm tước: công, hầu, bá, tử, nam. Theo chế độ phong kiến (phong tước kiến địa) ngày xưa, nhà vua phong tước là cắt đất cho các chư hầu quản lãnh mà triều cống.
Ở đây Đinh Tiên Hoàng đường đường là một vị hoàng đế của một nước mà nhà Tống còn đem tước Quận Vương cho thì rõ là trò đời lắm chuyện.
3 Đến đâyta mới thấy nhà viết sử không dùng niên hiệu của các đời vua Trung Quốc nữa.
4 Nguyên bản là "Trung Hạ" còn gọi là "Hoa Hạ" là nước yếm bức phá tan bảy đạo quân của Vu Cấm, có câu:
Quan Công thần toán thùy nắng cập?
Hoa Hạ uy danh vạn cổ truyền.
Nghĩa là: Mưu thần Quan Vũ ai theo kị?
Hoa Hạ oai lừng đến vạn thu.
5 Nguyên bản là "Man Mạch" giống mọi phương Bắc nước Tàu.
6 Nguyên bản là: "Tuyệt phiền đoạn tiết". Rứt bỏ hẳn cái chân, chặt đứt cái đốt (phiền là chân thú vật). Nghĩa bóng là dứt tình dứt nghĩa, hành động một cánh quyết liệt chứ không nể nang gì.
7 Đinh Liễn: con ttrưởng của Đinh Tiên Hoàng. Từ những ngày còn hàn vi Đinh Liễn đã từng xông pha nơi trận mạc, đã thay thân phụ sang tiến cống bên Hậu Ngô Vương, đã từng bị Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương bắt treo ngược trên cành cây. Nhưng rồi Đinh Tiên Hoàng lại lập con thứ là Hạng Lang làm Thái tử. Mầm loạn trong nhà sinh ra từ đó. Đinh liễn đã khiến người giết Hạng Lang. Lúc Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương bị hại thì Vệ Vương Đinh Tuệ mới sáu tuổi lên ngôi. Đinh Tuệ, có sách chép là Đinh Duệ.
28 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Năm Giáp Tuất (tức năm 942- ND) là năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình, nhà vua được bài sấm
rằng:
"Đỗ Thích thí Đinh Đinh
"Lê gia xuất Thánh minh
"Cạnh đầu đa hoạnh tử
"Đạo lộ thiểu nhân hành.
Nghĩa là:
"Đinh Đinh Đỗ Thích giết
"Nhà Lê lên trị vì
"Tranh ngôi nhiều kẻ chết
"Ngoài đường ít nguời đi.
Năm Bính Tý (tức năm 976- ND) là năm thứ 7 niên hiệu Thái Bình.
Năm Kỷ Mão (tức năm 979- ND) là năm thứ 10 niên hiệu Thái Bình, mùa xuân, Việt Vương Đinh Liễn giết Thái tử Hạng Lang.
Mùa đông, tháng 11, ban đêm vua ngự tiệc thì bị Phúc Hầu Hoằng là Đỗ Thích giết, luôn cả bọn Việt Vương Đinh Liễn nữa. Nguyên trước đó Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu thấy sao rơi vào mồm, cho là điềm lành mới manh tâm làm việc thí nghịch1. Lúc vua đã bị hại rồi, Đỗ Thích lẫn vào trong cung, trốn ở dưới máng xối hơn 3 ngày. Khát nước quá, thích lấy tay hứng nước mưa uống. Bọn cung nữ thấy vậy mới báo với Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc bắt mà giết đi. Rồi Nguyễn Bặc cùng với Tướng quân là Lê Hoàn phụng lập Vệ Vương Đinh Tuệ lên ngôi vua. Truy tôn cha là Tiên Vương, mẹ là Thái Hậu.
Nhà vua (Đinh Tiên Hoàng- ND) ở ngôi 11 năm, thọ 55 tuổi, đổi niên hiệu một lần.
Vệ Vương
Tên húy là Tuệ2, là con thứ của Tiên Vương vậy.
Tiên Vương bị Đỗ Thích giết, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn cùng phụng lập Vệ Vương lên ngôi.
Vua Vệ Vương năm thứ 2 (tức năm Canh Thìn- 980- ND). Mùa thu, tháng 7, quân Tống sang
đánh nước ta. Quân thần thấy Đinh Tuệ còn nhỏ, nhu nhược mới cùng tôn Lê Hoàn làm vua và giáng Đình Tuệ xuống làm Vệ Vương.
Trên từ Đinh Tiên Hoàng xuống đến Vệ Vương cộng hai đời. Bắt đầu từ năm Mậu Thìn (năm
968) và chấm dứt vào năm Canh Thìn (năm 980) gồm có 13 năm thì mất.
1 Thí nghịch: giết vua cướp ngôi.
2 Sách này chép là Tuệ, Đinh Tuệ. "Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư", quyển thủ chép là Duệ. Có sách lại chép là Toàn.
29 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Chép Về Nhà Lê
Vua Lê Đại Hành
Vua Tên húy là Hoàn, họ Lê, người ở Trường Châu1, cha tên Mịch, mẹ là người họ Đặng.
Người mẹ lúc mới mang thai, nằm mộng thấy mọc lên cây hoa sen, chốc lát thì hết trái, mới hái đem cho mọi người cùng ăn, đến lúc thức dậy không biết cớ làm sao.
Đến năm thứ nhất niên hiệu Thiên Phúc (năm Bính Thân- 936- ND)2 tháng 7, ngày rằm thì sanh ra vua. Người mẹ thấy nơi tay của ngài có màu sắc lạ thường mơí nói với người ta rằng: "Đức trẻ này lúc khôn lớn sợ tôi không kịp hưởng lộc của nó". Hơn vài năm sau thì cha mẹ đều qua đời.
Lúc bấy giờ có người ở Quảng Châu là Lê Sát thấy đứa trẻ khác lạ mới nuôi làm con mình. Gặp phải mùa đông lạnh, ngài (nhà vua- ND) mới nghiêng cái cối giả mà nằm. Lê Quan Sát nhìn xem thì thấy có rồng vàng che trên mình của ngài. Do đó mà càng thấy lạ lắm vậy.
Đến lúc lớn lên ngài theo giúp Nam Việt Vương Đinh Liễn. Tiên Vương (Đinh Tiên Hoàng) khen ngài là người trí dũng nhiều lần thăng chức, ngài được thăng đến chức Thập Đạo Tướng Quân, Điện tiền chỉ huy sứ.
Năm thứ 10 niên hiệu Thái Bình (năm Kỷ Mão-979- ND) Tiên Vương bị giết hại, Vệ Vương còn
nhỏ, ngài mới thay thế nắm quyền trị quốc và xưng là Phó Vương. Nguyễn Bặc, Đinh Điền thấy ngài sẽ là mối bất lợi cho ấu chúa (Vệ Vương) mới cùng nhau đốc xuất khởi binh. Ngài đem quân ra đánh và chém Đinh Điền tại trận, bắt được Nguyễn Bặc đưa về Kinh Sư3 mà giết. Vệ Vương năm thứ 2 (năm Canh Thìn- 980- ND) bên nhà Tống, quan Thái Thường Bác Sĩ là Hầu Nhân Bảo xin đem binh sang đánh bản quốc (An Nam). Nhà Tống dùng Hầu Nhân Bảo làm chuyển vận Sứ Lộ Giao Châu, lãnh các đạo quân sang đánh. Lúc bấy giờ ở Lạng Châu nghe binh kéo đến. Biết được
cái tình trạng ấy, Thái hậu sai người ở Nam Sách là Phạm Cự Lượng làm Đại Tướng Quân, đốc xuất quân lính chống cự lại. Ngày xuất quân, Phạm Cự Lượng vào thẳng trong điện bảo vua rằng: "Nay chúa thượng còn nhỏ dại chưa hiểu biết được sự siêng năng, khó nhọc của bọn chúng tôi. Nếu như có một thước tấc công lao nào thì rồi ai biết cho. Không bằng cái cách là trước Thập Đạo Tướng Quân lên ngôi Thiên Tử rồi sau mới ra quân". Quân sĩ nghe vậy đều hô "vạn tuế" Thái Hậu4 thấy tình người vui thuận mới sai lấy áo long cổn5 khoác lên mình Lê Hoàn và xin ngài lên ngôi.
Năm Canh Thìn (năm 980- ND) ngài lên ngôi. Phong cha làm Trường Hưng Vương mẹ người họ Đặng làm Hoàng thái hậu6.
Năm Tân Tỵ (tức năm 981- ND) là năm thứ nhất niên hiệu Thiên Phúc1. Mùa xuân, tháng 3,
quân của Hầu Nhân Bảo kéo sang Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ tiến đến Tây Kết, Lưu Trưng kéo đến sông
1 Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" và theo ông Ngô Thi Sĩ với quyền "Việt Sử tiêu án" thì cho rằng Lê Hoàn là người Ái Châu (tức Thanh Hóa). Nhưng ở đây lại chép là Trường Châu. Trường Châu: Sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" Chú: Gồm bốn huyện là Văn Dương, Đồng Thái, Trường Sơn, Kỳ Thường, Trường Châu nay thuộc Hà Nam Ninh. Có sách chép rõ hơn: Lê Hoàn là người làng Bảo Thái huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
2 Theo sách "Việt sử tiêu án": niên hiệu Thiên Phúc thứ sáu đời nhà Tấn.
3 Kinh Sư: Kinh đô của nước theo chế độ quân chủ. Thời nhà Đinh và Tiền Lê, Kinh Sư của nước ta là Hoa Lư (thuộc Ninh Bình).
4 Thái Hậu họ Dương (Hoàng Hậu của Đinh Tiên Hoàng) đã tư thông với Lê Hoàn.
5 Long Cổn: Long là rồng, cái gì thuộc về vua (long thuyền, long bào, long sàng v.v...) Cổn là áo lễ của vua. Long Cổn là áo lễ thiêu rồng của vua.
6 Lúc bấy giờ đấng sinh thành của nhà vua đều đã qua đời.


30 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Bạch Đằng. Vua tự làm tướng đem quân ra chống cự. Vua cho cắm cọc cứng dưới sông. Quân Tống rút về giữ mặt Ninh Giang2. Vua sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo. Quân Tống thua trận, Hầu Nhân Bảo bị bắt và bị chém. Bọn Trần Khâm Tộ nghe tin thất trận phải rút lui.
Vua xưng tên hiệu là: Minh càn ứng vận thần võ thăng bình chí nhân quảng hiếu hoàng đế.
Năm Nhâm Ngọ (tức năm 982- ND) là năm thứ hai niên hiệu Thiên Phúc3 vua lập Vương hậu 5 bà. Vua lại sai bọn Từ Mục đi sứ sang Chiêm Thành, bị vua nước ấy bắt giữ. Vua oán giận bèn tự làm tướng đem binh đi đánh, chém được vua Chiêm là Bế Mi Thuế4 ở tại trận. Bắt sống được quân giặc cắt tai không có thể đếm xuể. Bắt bọn cung nữ mấy trăm người. Chở về những vũ khí nặng. Tịch thu vàng bạc, của cải quý báu kể có đến muôn số. Lại đập phá thành trì, hủy hoại tôn miếu của nước Chiêm Thành. Rồi cũng trong năm đó trở về kinh. Năm ấy có nạn đói lớn.
Năm Quí Vị (Mùi) (tức năm 983- ND) là năm thứ 3 niên hiệu Thiên Phúc5. Trước kia, vua đánh
Chiêm Thành, đi qua núi Đồng Cổ6 đến Bà Hòa thấy đường biển hiểm trở khó đi, mới sai đào một con kênh (nay là sông Đồng Hòa ở tỉnh Thanh Hóa- ND) do đó mà thuyền bè lưu thông được. Năm Giáp Thân (tức là năm 984- ND) là năm thứ 4 niên hiệu Thiên Phúc7. Xây điện Bách Bảo Thiên Tuế8 những cây cột đều nạm Vàng bạc. Phía đông xây điện Phong Lưu. Phía tây xây điện Vinh Hoa. Bên tả xây điện Bồng Lai. Bên hữu xây điện Cực Lạc. Thứ đến, dựng lầu Hỏa Vân và điện Trường Xuân liền nhau. Cạnh đó lại dựng điện Long Lộc, dùng ngói bạc mà lợp.
Năm thứ năm niên hiệu Thiên Phúc (năm Ất Dậu- 985- ND). Mùa thu, tháng 7, ngày Đinh Tỵ là
ngày lễ sinh nhật của vua vậy. Vua cho đóng thuyền để trong sông, dùng tre làm núi giả ở trên ghe. Núi giả ấy gọi là Nam Sơn. Rồi thì bày cuộc đua thuyền cho ngày lễ.
Năm Bính Tuất (tức năm 986- ND) là năm thứ sáu niên hiệu Thiên Phúc nhà Tống trao cho vua chức Linh Hải Quân Tiết Độ Sứ.
Năm Đinh Hợi (tức năm 987- ND) là năm thứ 7 niên hiệu Thiên Phúc vua bắt đầu cày ruộng
(Tịch điền) ở núi Đội9 bắt được hủ vàng. Lại một lần cày ở núi Bà Hối10 bắt được hũ bạc. Do đó ruộng được mang tên là Kim Ngân Điền.
Năm Mậu Tý (tức năm 988- ND) là năm thứ 8 niên hiệu Thiên Phúc.
Năm Kỷ Sửu (tức năm 989- ND) là năm thứ 9 niên hiệu Thiên Phúc11 Quản Giáp Dương Tiến Lộc lấy châu Hoan, châu Ái mà sát nhập vào Chiên Thành. Vua đi đánh bắt được Lộc, lấy lại hai châu. Nhà vua phong cho người con thứ ba làm Nam Phong Vương. (Tức Lê Long Việt là anh ruột cùng mẹ của Lê Long Đĩnh- ND).
1 Có sách chép vua Lê Đại Hành đặt niên hiệu Thiên Phúc (980- 988), Hưng Thống (989-993) và Ứng Thiên (994-1005). Vậy là năm 981 là năm thứ hai niên hiệu Thiên Phúc. Năm 982 là năm thứ ba. Năm 983 là năm thứ tư niên hiệu Thiên Phúc v.v...
2 Ninh Giang: theo "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là sông Chi Lăng (nay là sông Thương).
3 Xem chú thích (206).
4 Bế Mi Thuế cũng tức là Phê Mi Thuế, tên phiên âm Hán Việt của Parama và Varavarman.
5 Xem chú thích số (206).
6 Núi Đồng Cổ: Theo sách "Việt Sử tiêu án" núi này ở xã Đan Nê, huyện An Định, Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay).
7 Theo chú thích sồ (206) ở trên, những năm: 984, 985 v.v... lần lượt phải là năm thứ 5, năm thứ sáu v.v... niên hiệu Thiên Phúc.
8 Theo sách "Việt Sử Tiêu Án" điện này xây ở núi Đại Vân (Hoa Lư, Ninh Bình).
9 Đội Sơn tức là Núi Đội ở huyện Duy Tiên Nam Hà.
10 Núi Bà Hối có sách chép là núi Bàn Hải có lẽ cùng ở trong phạm vi Hà Nam Ninh ngày nay chăng?
11 Cũng theo chú thích số (191) ở trên thì năm Kỷ Sửu (năm 989) là năm thứ nhất niên hiệu Hùng Thống.


31 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Năm Canh Dần (tức năm 990-ND) là năm thứ nhất niên hiệu Hưng Thống, Mùa Xuân, tháng
giêng, đối niên hiệu là Hưng Thống1 nhà Tống sai Tả Chánh Ngôn Cảo sang gia phong cho vua.
Năm thứ 2 niên hiệu Hưng Thống (năm Kỷ Mão- 991- ND) vua phong cho con của người em
(trai) làm Ngữ Man Vương ở Phong Châu (ở vào khoảng phủ Vĩnh Tường, trước thuộc tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên- ND).
Năm Nhâm Thìn (năm 992- ND) là năm thứ 3 niên hiệu Hưng Thống, mùa xuân vua ngự ở lầu
Càn Nguyên để xem đèn.
Năm Giáp Ngọ (tức năm 994- ND) là năm thứ 5 niên hiệu Hưng Thống2 vua phong cho người con thứ 11 làm Hành Quân Vương ở bên bờ phía Bắc thuộc châu Cát Lãm.
Năm Ất vị (tức năm 995) là năm thứ nhất niên hiệu Ứng Thiên, vua đổi niên hiệu và sai Đỗ Hanh đi sứ bên nhà Tống. Vua phong cho Nghĩa (Họ? dòng dõi?) làm Phù Đới Vương ở Phù Đới3.
Năm Bính Thân (tức năm 996) là năm thứ 2 niên hiệu Ứng Thiên, vua đi đánh 3 động: Ma
Hoàng, Đại Phát và Châu Ba, phá được tất cả.
Năm Đinh Dậu (tức năm 997) là năm thứ ba niên hiệu Ứng Thiên. Mùa thu, tháng 7, vua đi đánh Đỗ Động Giang4 bắt được giặc. Năm ấy có nạn lụt lớn.
Năm Mậu Tuất (tức năm 998) là năm thứ tư niên hiệu Ứng Thiên.
Năm Kỷ Hợi (tức năm 999) là năm thứ năm niên hiệu Ứng Thiên, vua đi đánh Hà Đông5 mười
chín châu đều dẹp yên được cả.
Năm Canh Tý (tức năm 1000) là năm thứ sáu niên hiệu Ứng Thiên, đánh giặc ở Phong Châu bắt được Trịnh Hàng. Vua sai Lưu Thiện sang Tống.
Năm Tân Sửu (tức năm 1001) là năm thứ 7 niên hiệu Ứng Thiên. Vua đánh giặc ở Cử Long.
Quân giặc thấy vua trương cung nhắm đích sắp muốn bắn, tên bỗng rơi. Vua lại tiếp tục bắn, quân giặc sợ mà rút lui. Lúc bấy giờ vua ngự trên lâu thuyền tiến vào sông Cùng Giang để đuổi theo. Quân giặc
bày trận ở hai bên bờ sông cùng với nhà vua đánh nhau.
Quân lính nhà vua bị đánh ép trên sông. Vệ Vương Đinh Tuệ6 trúng tên chết. Nhà vua kêu "Trời" ba tiếng, giặc tự nhiên thua.
Năm Nhâm Dần (tức năm 1002) là năm thứ 8 niên hiệu Ứng Thiên, chế tạo mũ trận7 bằng bạc hơn vài nghìn cái, đem phân phát cho quân nhân.
Năm Quý Mão (tức năm 1003) là năm thứ 9 niên hiện Ứng Thiên, nhà vua đi viếng Hoan Châu (Nghệ An).
Nhà vua cho đào con kinh Đa Cái thẳng đến Châu Ám (?).
1 Năm Canh Dần(990) là năm thứ 2 niên hiệu Hưng Thống, xem chú thích số (191) ở trên. Theo đó những năm 991, 992 lần lượt là
năm thứ 3, năm thứ 4 niên hiệu Hưng Thống.
2 Năm Giáp Ngọ (994) là năm thứ nhất niên hiệu Ứng Thiên (theo chú thích số 191 ở trên). Và những năm 995, 996...1005 lần lượt là năm thứ 2, thứ 3...năm thứ 12 niên hiệu Ứng Thiên.
3 Có sách chép là nghĩa tử (con nuôi). Lê hoàn có 11 người con trai ruột và 1 người con nuôi (không rõ tên). Sách này chép thiếu chữ tử. Phù Đới nay là Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
4 Đỗ Động Giang thuộc Thanh Oai- Hà Tây ngày nay.
5 Hà Đông tức động Hà Nam, nay thuộc Thạch Thành (Thanh Hóa).
6 Xem chú thích số (199).
7 Nguyên bản chữ Hán chép là đâu mâu tức loại mũ chỉ đội khi đánh trận (như nón sắt của quân đội ngày nay). Đại Nam quốc sử
"Rồng vàng trao vuốt giắt vành đâu mâu".


32 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Năm Giáp Thìn (tức năm 1004) là năm thứ 10 niên hiệu Ứng Thiên, vua kéo lưới được con rắn lớn, bỗng nhiên ngược dòng nước mà bỏ đi. Cũng năm này nhà vua sai Hành Quân Vương1 sang Tống.
Năm Ất Tỵ (tức năm 1005) là năm thứ 11 niên hiệu Ứng Thiên, vua qua đời tại điện Trường
Xuân. Lúc bấy giờ thường gọi ngày là vua Đại Hành, nhân đó mà đặt làm miếu hiệu.
Ngài ở ngôi được 27 năm2 thọ 65 tuổi, đổi niên hiệu 3 lần. An táng ngài tại Đức Lăng thuộc
Trường Châu. Lê Trung Tông
Tên húy là Long Việt là con thứ ba của vua Đại Hành. Thân mẫu của Trung Tông trước kia là cô gái làm công giúp việc cho người.
Năm lên 9 tuổi, Trung Tông được phong làm Nam Phong Vương. Vua Đại Hành vừa mới qua đời thì Vương (Trung Tông) cùng với Đông Thành Vương3, Trung Quốc Vương4, Khai Minh Vương5 tranh ngôi. Trải suốt 9 tháng6 trong nước không có chúa. Đông Thành Vương thua chạy sang Chiêm Thành và bị giết.
Năm thứ nhất (năm Ất Tỵ- 1005- ND)7 tháng giêng, Vương (Nam Phong Vương) lên ngôi được ba ngày thì bị Khai Minh Vương giết. Sử gọi là Trung Tông, thọ 25 tuổi8.
Lê Ngọa Triều
Tên húy là Long Đĩnh, là con thứ năm của vua Đại Hành và là em trai cùng mẹ của vua Trung
Tông.
Năm thứ 3 (năm Nhâm Thìn- 992- ND) ngài được phong làm Khai Minh Vương.
Khai Minh Vương cướp ngôi của Trung Tông mà lên làm vua.
Năm Bính Ngọ (tức năm 1006) là năm thứ nhất9 lên ngôi tôn hiệu là "Khai thiên ứng vận thánh thần võ tắc thiên sùng đạo đại thăng minh quang hiếu hoàng đế".
Tính vua ưa chém giết. Có người phạm tội sắp phải hành hình thì vua bắt lấy cỏ tranh quấn vào người rồi đốt. Lại sai tên hề10 là Liêu Thủ Tâm cầm con dao cùn nhụt mà xả vào người phạm tội để cho lâu chết. Như thế, phạm nhân phải kêu la ai oán thống thiết đến vài ngày. Liêu Thủ Tâm thấy vậy cợt
rằng: "Mày không quen chịu chết".
1 Hành Quân Vương tức là Lê Long Đề, có sách chép là Minh Đề, con thứ 11 của Lê Hoàn.
2 Lê Đại Hành trị vì từ năm Canh Thìn đế năm Ất Tỵ (980- 1005) tức 26 năm.
3 Đông Thành Vương tức là Lê Long Tích.
4 Trung Quốc Vương tức là Lê Long Kính.
5 Khai Minh Vương tức là Lê Long Đĩnh.
6 "Việt sử tiêu án" chép 8 tháng.
7 Vừa mới lên ngôi được kể là năm thứ nhất trong đời làm vua của Nam Phong Vương.
8 Nhiều bộ sử chép là thọ 23 tuổi.
9 Năm thứ nhất trong đời làm vua của Khai Minh Vương.
10 Nguyên bản chữ Hán chép là ưu nhân, tức là những kẻ hát xướng, đóng trò để mua vui trong điện vua.
33 Đại Việt Sử Lược - Quyển I
Nhà vua cười rộ lên lấy làm thích thú. Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông. Lúc nước thủy triều rút xuống thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng. Khi nước thủy triều dâng lên, tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết. Lại bắt
(tù nhân) treo lên cây cao rồi sai người ở dưới chặt cây. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi. Còn phàm những con vật (nuôi để cúng tế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp. Lại khi,
nhà vua đặt mía trên đầu bậc tu hành là đức tăng Thống Quách Mão1 mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên. Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tướng vương xơi. Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mữa thốc mữa tháo cả lên. Mỗi
khi đến buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo luôn mồm để làm khỏa lấp lời những ai bảm bạch về việc gì. Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn.
Các tước vương chống đối. Nhà vua đều dẹp yên tất cả. Đánh Ngự Man Vương (con ông chú của vua) toàn thắng rồi đổi Phong Châu làm phủ Thái Bình.
Tôn mẹ làm "Hưng quốc quảng thánh thái hậu".
Năm Đinh Vị (Mùi) (tức năm 1007) là năm thứ 2, vua sửa định lại quan chế văn võ theo nhà
Tống.
Năm Mậu Thân (tức năm 1008) là năm thứ 3, tháng giêng, vua đổi niên hiệu là Cảnh Thụy năm thứ nhất. Vua đi đánh hai châu Đô Lương và Vị Long bắt được dân Man và ngựa đến vài trăm con. Vua sai người dùng gậy đánh số người Man bị bắt ấy. Nhân vì đánh quá đau, họ kêu la ầm lên lỡ phạm đến
tên húy của vua Đại Hành. Vua lại cười rộ lên, sai đánh nữa và sai đánh mãi. Nhiều lần bị đánh và nhiều lần người man xúc phạm đến tên húy của vua Đại Hành mà nhà vua lại rất vui. Lại khi đi đánh Ái Châu
(Thanh Hóa- ND) bắt được người châu ấy, vua cho làm cái vựa rồi nhốt họ vào trong mà cười.
Năm Kỷ Dậu (tức năm 1009) là năm thứ hai niên hiệu Cảnh Thụy. Mùa thu, tháng 7 vua đi đánh các châu: Hoan, Đường, và Hà Thạch.
Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Hợi, vua qua đời tại phòng ngủ trong điện. Hiệu là Ngọa Triều, vì vua có bệnh trĩ phải nằm để thị triều.
Năm thứ 22 (nhà Tiền Lê-ND)2 vua lên ngôi, ở ngôi 4 năm, đến năm thứ 25 đổi niên hiệu 1 lần.
Nhà Lê, trên từ Lê Đại Hành xuống đến Lê Ngọa Triều cộng ba đời, bắt đầu năm Canh Thìn
(980) và dứt vào năm Kỷ Dậu (1009) gồm có 30 năm thì mất.
1 Việt sử tiêu án cùng nhiều bộ sử cổ chép là Quách Ngang.
2 Năm thứ 22 (?) đây là một sự nhầm lẫn, bỡi nếu long Đĩnh cướp ngôi anh vào năm thứ 22 nhà Tiền Lê và làm vua 4 năm thì tổng
thời gian trị vì của ba đời vua Lê, kể từ Lê Hoàn chỉ có 26 năm. Đó là sự sai lầm vì chính bộ sử này cùng nhiều bộ sử khác đều
chép là 30 năm (980-1009). Còn như nói rằng năm Long Đĩnh 22 tuổi lên ngôi vua và tại ngôi 4 năm thì cũng sai vì Long Đĩnh chỉ hưởng thọ 24 tuổi.
Vậy, chép đúng là "năm thứ 26 nhà Tiền Lê".


34 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c
Quyển II
Chép Về Triều Nguyễn
(tức là triều Lý)
Vua Thái Tổ
VuaThái Tổ tên húy là Uẩn, họ Nguyễn (tức họ Lý- ND) người ở Cổ Pháp thuộc Bắc Giang1. Mẹ là người họ Phạm, sanh ra ngài vào ngày 17 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình (đời Đinh Tiên Hoàng,
tức là năm Giáp Tuất- 974- ND).
Lúc nhỏ, vua thông minh, tính khí khôi hoạt rộng rãi. Tới học ở chùa Lục Tổ2 thiền sư Vạn Hạnh3 thấy cho là khác lạ, nói: "Đây là người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ".
Đến lúc lớn lên, vua, tánh khẳng khái, có chí lớn, không màng của cải, thích xem hết kinh sử.
Trong khoảng niên hiệu Ứng Thiên (994- 1005- ND) vua theo giúp Lê Trung Tông. Lúc Trung Tông bị bọn Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) giết, quần thần đều chạy trốn mất hết cả, chỉ có một mình vua (Nguyễn Thái Tổ- ND) ôm thây Trung Tông mà khóc. Ngọa Triều khen là người trung, phong làm Tả thần vệ Điện
tiền đỗ chỉ huy sứ.
Trong làng vua có cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn rằng:4
Phiên âm:
Thụ Căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bác tử thành
1 Cổ Pháp: tức là làng Cổ Pháp, sau là làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ở làng có lăng và đền thờ nhà Lý (sách này chép
là nhà Nguyễn). Làng ấy buổi xưa gọi là làng Diên Uẩn. Thời Bắc thuộc có vị thiền sư là Đinh không đào đất đắp nền nhà chùa, đã
bắt được mười chín chiếc khánh cổ, do đó làng ấy được đổi tên là Cổ Pháp.
2 Nguyên bản là "Du học ư Lục Tổ", nhưng ở đây là chùa Lục Tổ của đức Lục Tổ Thiền Ông, bâc thầy của ngài Vạn Hạnh.
3 Sư Vạn Hạnh người cùng làng với Lý Thái Tổ. Không rõ năm sinh và tên tục của ngài, chỉ biết ngài là người họ Nguyễn và qui tịch vào năm Ất Sửu (1025). Gia tiên ngài đời đời thờ Phật. Thuở nhỏ ngài thông minh và hiếu học vô cùng. Ngài tinh thông tam giáo (Nho, Phật, Lão), khảo cứu nhiều kinh sách Phật Giáo như Tam Tạng (Kinh Tạng, Luật Tạng,Luận Tạng). Năm 21 tuổi ngài cùng với Đinh Huệ thiền sư xuất gia theo học với đức Lục Tổ Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Khi đức Lục Tổ Thiền Ông qui tịch rồi, học lực
của ngài đã cao siêu lắm. Những câu nói của ngài đều được người đời coi như lời sấm. Vua Lê Đại Hành rất mực kính trọng, tôn ngài làm Quốc sư. Ngài làm cố vấn cho các triều Đinh, Lê, nhưng đến triều Lý thì nổi tiếng hơn cả. Khi tạ thế, hài cốt ngài được
vua và sĩ thứ xây tháp lớn để táng.
4 Nguyên bản của chúng tôi dịch là "Xuất nhựt".
Còn bản của ông Nguyễn Khắc Thuần người hiệu đính bản dịch này lại cho rằng "Hiện nhật".
Sách "Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ chép, trước câu "Chân cung xuất nhật" có hai câu: "Đông a nhập địa, Dị mộc tái sinh" nghĩa là: Đông a vào đất, cây khác lại sinh. Đông A chỉ nhà Trần, Dị mộc chỉ Hậu Lê.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn