Thứ tư, 25/11/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay959
mod_vvisit_counterHôm trước1053
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đại Việt Sử Lược - Quyển II E-mail
26/07/2020

     Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c ( Phần 4)

34 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c
Quyển II
Chép Về Triều Nguyễn
(tức là triều Lý)
Vua Thái Tổ
VuaThái Tổ tên húy là Uẩn, họ Nguyễn (tức họ Lý- ND) người ở Cổ Pháp thuộc Bắc Giang1. Mẹ là người họ Phạm, sanh ra ngài vào ngày 17 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình (đời Đinh Tiên Hoàng, tức là năm Giáp Tuất- 974- ND).
Lúc nhỏ, vua thông minh, tính khí khôi hoạt rộng rãi. Tới học ở chùa Lục Tổ2 thiền sư Vạn Hạnh3 thấy cho là khác lạ, nói: "Đây là người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ".
Đến lúc lớn lên, vua, tánh khẳng khái, có chí lớn, không màng của cải, thích xem hết kinh sử.
Trong khoảng niên hiệu Ứng Thiên (994- 1005- ND) vua theo giúp Lê Trung Tông. Lúc Trung Tông bị bọn Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) giết, quần thần đều chạy trốn mất hết cả, chỉ có một mình vua (Nguyễn Thái Tổ- ND) ôm thây Trung Tông mà khóc. Ngọa Triều khen là người trung, phong làm Tả thần vệ Điện tiền đỗ chỉ huy sứ.
Trong làng vua có cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn rằng:4
Phiên âm:
Thụ Căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bác tử thành
1 Cổ Pháp: tức là làng Cổ Pháp, sau là làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ở làng có lăng và đền thờ nhà Lý (sách này chép là nhà Nguyễn). Làng ấy buổi xưa gọi là làng Diên Uẩn. Thời Bắc thuộc có vị thiền sư là Đinh không đào đất đắp nền nhà chùa, đã bắt được mười chín chiếc khánh cổ, do đó làng ấy được đổi tên là Cổ Pháp.
2 Nguyên bản là "Du học ư Lục Tổ", nhưng ở đây là chùa Lục Tổ của đức Lục Tổ Thiền Ông, bâc thầy của ngài Vạn Hạnh.
3 Sư Vạn Hạnh người cùng làng với Lý Thái Tổ. Không rõ năm sinh và tên tục của ngài, chỉ biết ngài là người họ Nguyễn và qui tịch vào năm Ất Sửu (1025). Gia tiên ngài đời đời thờ Phật. Thuở nhỏ ngài thông minh và hiếu học vô cùng. Ngài tinh thông tam giáo (Nho, Phật, Lão), khảo cứu nhiều kinh sách Phật Giáo như Tam Tạng (Kinh Tạng, Luật Tạng,Luận Tạng). Năm 21 tuổi ngài cùng với Đinh Huệ thiền sư xuất gia theo học với đức Lục Tổ Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Khi đức Lục Tổ Thiền Ông qui tịch rồi, học lực của ngài đã cao siêu lắm. Những câu nói của ngài đều được người đời coi như lời sấm. Vua Lê Đại Hành rất mực kính trọng, tôn ngài làm Quốc sư. Ngài làm cố vấn cho các triều Đinh, Lê, nhưng đến triều Lý thì nổi tiếng hơn cả. Khi tạ thế, hài cốt ngài được vua và sĩ thứ xây tháp lớn để táng.
4 Nguyên bản của chúng tôi dịch là "Xuất nhựt".
Còn bản của ông Nguyễn Khắc Thuần người hiệu đính bản dịch này lại cho rằng "Hiện nhật".
Sách "Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ chép, trước câu "Chân cung xuất nhật" có hai câu: "Đông a nhập địa, Dị mộc tái sinh" nghĩa là: Đông a vào đất, cây khác lại sinh. Đông A chỉ nhà Trần, Dị mộc chỉ Hậu Lê.

 35 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Chấn cung xuất nhựt
Đoài cung ẩn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình1
Tạm dịch:
Gốc rễ thăm thẳm
Vỏ cây xanh xanh
Lúa dao cây rụng
Mười tám con thành
Phương đông nhựt mọc
Phương tây sao tàn
Khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ thái bình
Vạn Hạnh bèn nói với vua rằng: "Gần đây tôi thấy bài sấm văn lạ, biết nhà Lê đương mất mà nhà Nguyễn (tức nhà Lý) đương lên. Họ Nguyễn lại không có ai khoan hòa, nhơn hậu và trung thứ như ông, nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã hơn 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận". Vua sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn ở Ba Sơn2.
Đến năm thứ 2 niên hiệu Cảnh Trị (năm Kỷ Dậu- 1009- ND)3. Ngọa Triều Mất, con nối ngôi thì
còn nhỏ. Lúc ấy vua (Nguyễn Thái Tổ- ND) 36 tuổi, đem 500 quân Tùy Long vào làm túc vệ. Bấy giờ ở trong nội có quan Chi hậu là Đào Cam Mộc thăm dò biết vua có ý muốn lên ngôi, bèn đem lời lẽ xa xôi nói khích rằng: "Chúa thượng (Ngọa Triều) tâm trí u tối, ương ngạnh, làm nhiều điều bất nghĩa. Trời đã chán cái đức của chúa thượng rồi nên không cho sống lâu được. Con Nối ngôi thì còn nhỏ, chưa đảm lượng được nhiều việc khó khăn, nhiều sự phiền nhiễu, trăm vị thần không có chổ nương tựa, hạ dân xôn xao mong muốn có vị chúa. Thân vệ (Nguyễn Thái Tổ- ND) sao không nhân lúc này mà theo dấu thuở xa xưa là vua Thang4, vua Võ5 noi gương gần đây là họ Dương1, họ Lê2 để làm, trên thuận lòng trời, dưới
1 Nguyên bản sách này còn thêm: "Đoài cung xuất nhật", chúng tôi cho là bị chép nhầm nên loại bỏ câu này.
Câu 3 và 4, trong "Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên" quyển II chép lời bàn của sư Vạn Hạnh rằng:
"Hòa Đao Mộc là chữ Lê
Thập Bác Tử là chữ Lý lời văn ấy có nghĩa: nhà Lê đạo lạc mà nhà Lý tất được lập thành..."
Theo đó hai câu này có thể dịch: nhà Lê suy sụp, nhà Lý lập thành.
Cung chấn thuộc mẹo phương đông
Cung đoài thuôc dậu phương tây
Có sách bàn rằng: Cung chấn mọc mặt trời chỉ nhà Mạc. Cung đoài sao ẩn chỉ Tây Sơn lục thất chỉ nhà Nguyễn.
2 Ba Sơn: theo "Thiền uyển tập anh" tức là núi Ba Sơn ở Tiên Sơn, trên núi có chùa Cảm Ứng là nơi Vạn Hạnh trụ trì. Sách "Việt sử tiêu án" chép: Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, sai người giấu Vạn Hạnh vào núi Tiêu Sơn.
3 Nhiều bộ sử đều chép là niên hiệu Cảnh Thụy.
4 Vua Thang tức là vua thành Thang, vua tên Lý, họ tử Thị, tự Thiên Ất, người khai sáng ra triều nhà Thương, vua lên ngôi năm Mậu Dần (năm 1783, tạ thế 1754 trước công nguyên).Ở ngôi 30 năm. Năm Ất Vị (1766) vua thắng Côn Ngô, bèn đánh nhà Hạ, đuổi vua Kiệt ra ở Nam Sào. Nhà Hạ mất từ đó. Một vế của câu đối đề trên lá cờ nổi dậy của Cao Bá Quát: "Mục Dã Minh Điều hữu Võ Thang". Nghĩa là vua Võ Vương đánh đuổi bạo quân Trụ ở Mục Dã (thuộc tỉnh Hà Nam), vua Thang đánh đuổi bạo quân Kiệt ở Minh Điều (thuộc tỉnh Sơn Tây). Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh chép rằng vua Thang đánh vua Trụ là nhầm.
5 Vua Võ tức là vua Võ Vương nhà Chu, tên Phát, con Tây Bá Xương, lên ngôi năm Đinh Mão- 1134 (trước Công nguyên) thay nhả Ân, ở ngôi được 19 năm. Năm Kỷ Mão- 1122 (trước công nguyên) vua đánh Mục Dã, bạo Trụ phải tự thiêu mà chết.

36 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
theo cái nguyện vọng của dân, mà còn bo bo giữ cái tiểu tiết hay sao?" Vua trong lòng vui vì lời nói ấy mà lại nghi ngờ có mưu gian, bèn nổi mắng rằng: "Sao ông lại dám phát ra lời nói như thế, ta tất phải bắt ông đưa lên quan". Đào Cam Mộc chậm chạp thưa rằng: "Tôi thấy thiên thời nhân sự như thế mới dám nói, nay ngài đưa tôi lên quan thì thật không tránh khỏi cái chết". Vua nói: "Ta không nhẩn tâm tố cáo ông, chỉ sợ lời nói lộ ra thì đều chết hất cả". Đào Cam Mộc lại thưa với vua rằng: "Người trong nước đều nói họ Nguyễn đáng lên thay nhà Lê, sấm đồ đã xuất hiện không thể che giấu được. Chuyển họa thành phúc là đúng lúc này vậy, Thân Vệ còn nghi ngờ gì nữa sao!" Vua nói: "Ta xem chí ông cùng với Vạn Hạnh không khác nhau. Nếu thực như lời nói ấy thì kế phải làm sao?" Cam Mộc đáp rằng: "nay trăm họ mỏi mệt, dân không chịu nổi mệnh lệnh. Nếu Thân vệ lấy ân đức vỗ về, trăm họ tất cùng nhau mà theo về, cũng như nước chảy xuống chổ thấp, ai ngăn cản lại được!". Cam Mộc biết sự việc gấp gáp sợ sinh biến bèn bàn với các quan khanh sĩ ở trong triều, ngay ngày hôm đó tất cả đều họp ở chổ triều đường mà lập mưu thưa rằng: "Nay ấy là lúc mà ức triệu người đã có lòng khác, trên dưới đều xa lìa nhân đức, người ta oán giận cái chính sách hà khắc bạo ngược của Tiên Vương (Ngọa Triều) nên không muốn theo về với tự quân3 nữa. Hết thảy mọi người đều có ý tôn kính mà cử Thân Vệ lên thay. Bọn chúng ta không nhân lúc này mà lập Thân Vệ làm Thiên tử rồi bất chợt có biến thì còn giữ được người thủ lãnh không?". Do đó mà tất cả cùng theo giúp vua (Nguyễn Thái Tổ- ND) lên chánh điện lập làm Thiên Tử. Trăm quan đều hô: "Vạn tuế". (Muôn năm- ND).
Năm thứ nhất. Mùa đông,tháng 11 vua lên ngôi, tha hết những người bị tù tội, đốt bỏ những
dụng cụ tra tấn4. Quần thần dâng tôn hiệu lên là: "Phụng thiên chí lý ứng vận tự tại thánh minh long hiển duệ văn anh võ sùng nhân quảng hiếu, thiên hạ thái bình khâm minh quang trạch chiêu ngưỡng vạn bang hiển ứng phù cẩm oai chấn phiên man duệ mưu thần công thánh trị tắc thiên đạo chánh".
Vua truy tôn cha là "Hiển khánh Vương", mẹ là "Minh Đức Thái Hâu", sách lập vương hậu sáu
người, lập con trưởng là Mã làm Thái tử, những người con trai còn lại đều phong tước hầu. Con gái vua vua mười ba người đều là Công chúa cả. Vua đem người con gái lớn là An Quốc công chúa gả cho Đào Cam Mộc và phong Cam Mộc là Nghĩa Tín Hầu. Anh của vua làm Võ Oai Vương. Em trai là Dực Thái Thái Vương. Trần Cảo làm tướng công. Ngô Đinh làm Xu Mật Sứ. Qui Thạc Phụ làm Thái Bảo. Đặng Văn Hiều làm Thái Phó. Bùi Xa Lỗi làm Tả Kim Ngô. Đàm Than làm Tả Võ Vệ. Đỗ Giám làm Hữu Võ Vệ.
Trước kia ở chùa Ứng Thiên trong làng có con chó sanh ra một con chó con trắng, trên lưng lại có lông đen làm thành chữ Thiên Tử. Thế rồi đến năm Giáp Tuất5 thì nhà vua được sanh ra. Năm Canh Tuất (năm 1010) tức là năm thứ 2, tháng giêng vua đổi niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất.
Lúc ban đầu vua thấy thành Hoa Lư chật hẹp, ẩm thấp, bèn dời đô đến thành Đại la. Lúc khởi sự dời đô, thuyền đậu dưới thành thì có rồng vàng hiện ra nơi thuyền của vua, nhân đó mà gọi là Thăng Long (tức Hà Nội bây giờ-ND). Đổi Hoa Lư thành phủ Trường An, sông Bắc Giang là sông Thiên Đức và cổ pháp là phủ Thiên Đức.
Trong kinh đô Thăng Long, dựng điền triều Nguyên (Càn Nguyên?- ND) bên tả đặt viện Tập
Hiền, bên hữu đặt điện Giảng Võ. Bên tả mở cửa Phi Long, bên hữu mở cửa Đan Phượng. Nơi giữa ở phía nam mở cái Cao điện6 thềm điện gọi là Long Trì. Có nhà cầu vòng quanh che thềm. Bốn mặt là điện
1 Họ Dương ở đây là Dương Tam Kha, trong sách này có chép là Dương Chủ Tướng.
2 Họ Lê tức là Lê Hoàn, tức Lê Đại Hành.
3 Tự quân: vua nối ngôi.
4 Dưới triều Lý Thái Tổ, luật pháp được quy định lại. Ngoài việc bỏ những hình án độc ác của Lê Ngọa Triều ra, nhà vua còn tự mình
giải quyết những vụ tố tụng của ngục tù. Ngài phóng thích những phạm nhân từng bị bắt giam một cách oan uổng, lại còn cấp phát áo quần, thuốc men v.v... cho họ nữa.
5 Sinh năm Tuất: cầm tinh con chó. Sách "Việt sử tiêu án" chép: Thân mẫu của Công Uẩn họ Phạm đi chơi núi Tiêu Sơn, cùng với thần giao hợp mà sinh ra vua. Thiền sư ở chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn xin nuôi làm con và cho mang họ Lý. Sử lại chép: Mẹ vua
ở quanh quẩn trong rừng Cổ Pháp bổng nhiên qua đời, kiến, mối xông đất đầy, thành mã cao 7 thước. Ấy là gặp chổ đất chung linh.
6 Có bản chép: "Cao Minh điện" nghĩa là điện Cao Minh; nếu đúng vậy thì ở đây nguyên bản chép thiếu chữ Minh.


37 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Càn Nguyên. Sau đó dựng hai điện Long An và Long Thụy. Bên hữu xây điện Nhật Quang. Bên tả xây điện Nguyệt Minh. Phía sau có cung Thúy Hoa. Bốn mặt thành mở bốn cửa, đông là cửa Tường Phù, tây
là cửa Quảng Phúc, nam là cửa Đại Hưng, bắc là cửa Diệu Đức. Ở trong thành lại dựng chùa Hưng Thiên, lầu Ngũ Phượng Tinh, nơi ngoài thành dựng chùa Thắng Nghiêm.
Năm Tân Hợi (năm 1011- ND) tức là năm Thuận Thiên thứ 2, vua đem lính đi đánh giặc Cử Long ở Ái Châu và dẹp yên được. Năm đó ở trong thành lại dựng cung Đại Thanh, chùa Vạn Tuế, kho Trấn Phúc. Ngoài thành dựng chùa Tứ Thiên Vương, chùa Y Cẩm1 chùa Long Cụ Thánh Thọ, lại dựng điện Hàm Quang ở bến Lô Đông2.
Nước Chiêm Thành dâng con sư tử.
Năm Nhâm Tý (năm 1012- ND) tức là năm Thuận Thiên thứ 3:
Xây cung Long Đức để cho Thái tử ở để Thái tử biết hết cả những sự việc trong dân.
Tháng chạp dấu tích thần nhân còn lại vững vàng trên mõm núi phía đông nam, rộng 3 thước,
sâu 1 thước.
Nước Chân Lạp sang cống.
Nhà vua thân chinh đánh Diễn Châu.
Năm Quý Sửu (năm 1013- ND) là năm Thuận Thiên thứ 4: Vua ngự ở điện Hàm Quang xem đua thuyền. Mùa đông, tháng 10 vua thân chinh đánh và thắng được quân Man ở châu Vị Long.
Năm Giáp Dần (1014- ND) là năm Thuận Thiên thứ 5: nhà vua sai Dực Thánh Vương đi đánh và thắng được tướng Man là Đỗ Trương Huệ ở Lộ Kim Hoa, chém vạn đầu giặc, bắt được quân sĩ và ngựa nhiều vô số.
Ly Châu dâng con Kỳ Lân.
Đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh.
Chân Lạp sang cống.
Năm Bính Thìn (năm 1016) là năm Thuận Thiên thứ 7:
Được mùa to, lúa 30 bó, giá tiền là 30 đồng.
Miễn thuế cho trong cõi 3 năm3.
Dựng chùa Thiên Quang, chùa Thiên Đức và đắp tượng Tứ Thiên Đế.
Động đất.
Tế vọng các danh sơn.
Giúp cho hơn 1000 người ở chốn kinh sư làm tăng đạo.
Năm Đinh Tỵ (năm 1017- ND) là năm Thuận Thiên thứ 8:
Điện Càn Nguyên rung chuyển.
Tống Chân Tông phong vua là Nam Bình Vương4.
1 Theo tài liệu về lịch sử Phật giáo Triều Lý thì thấy chép là chùa Cẩm Y.
2 Bến này ở sông Nhị Hà.
3 Nhờ vậy mà dưới triều vua Thái Tổ không còn tỉnh trạng dân đen vì thiếu thuế khóa phải bỏ nhà cửa trốn tránh đi nơi khác như những thời trước.
4 Sách "An Nam chí lược" cuả Lê Tắt chép: "Tháng hai niên hiệu Thiên Hy năm đầu Tống Chân Tông phong vua làm Nam Bình Vương. Như vậy Tây lịch là năm 1018. Có sách lại chép việc phong vương này vào năm 1016 (?).


38 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Năm Mậu Ngọ (năm 1018) là năm Thuận Thiên thứ 9: Sai Nguyễn Thanh Đạo sang nhà Tống xin được kinh Tam Tạng1.
Năm Canh Thân (năm 1020) là năm Thuận Thiên thứ 11 vua sai con đi đánh và thắng được
Chiêm Thành. Trước kia, điện Càn Nguyên rung chuyển nên phải cho thị triều ở điện phía đông, nay lại rung chuyển nữa nên cho thị triều ở điện phía tây.
Năm Tân Dậu (năm 1921) là năm Thuận Thiên thứ 12, mùa xuân, tháng 2, ngày Mậu Tý là ngày sinh nhật của vua. Dùng ngày ấy là tiết thiên Thành. Vua cho làm "Vạn tuế Nam sơn"2 ở ngoài cửa Quảng Phúc, làm nhiều hình chim bay thú chạy bày la liệt trên đó.
Năm Nhâm Tuất (năm 1022- ND) là năm Thuận Thiên thứ 13, vua sai Dực Thánh Vương đi đánh Đại Nguyên Lịch3.
Năm Quí Hợi (năm 1023) là năm Thuận Thiên thứ 14 đổi trấn triều Dương làm Vĩnh An Châu4.
Năm Giáp Tý (năm 1024- ND) là năm Thuận Thiên thứ 15, sai Thái tử đi đánh châu Phong Luân5, sai Khai Quốc Vương đi đánh Châu Đô Kim6. Xây thành Thăng Long.
Năm Ất Sửu (năm 1025- ND) là năm Thuận Thiên thứ 16, thầy Vạn Hạnh hóa (viên tịch). Chân
Lạp sang cống. Nhà vua xuống chiếu lập phiên trại ở Hoan Châu để làm ranh giới phía Nam.
Năm Bính Dần (năm 1026- ND) là năm Thuận Thiên thứ 17, sai Thế tử đi đánh Diễn Châu. Sai sứ giả sang Tống.
Năm Đinh Mão (năm 1027- ND) là năm Thuận Thiên thứ 18, sai Thái tử đi đánh châu Thất
Nguyên, sai Đông Chinh Vương đánh Châu Văn7.
Năm Mậu Thìn (năm 1028-ND) là năm Thuận Thiên thứ 19, mùa xuân, tháng 2 vua không được khỏe, đến ngày Mậu Tuất vua từ trần ở điện Long An, hưởng thọ 50 tuổi. Miếu hiệu là Thái Tổ. Long thể được táng tại Thọ Lăng thuộc phủ Thiên Đức.
Thái Tổ trị vì được 20 năm, đổi niên hiệu một lần.
1 Kinh Tam Tạng: ba bộ kinh lớn của Phật giáo là Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng.
Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Nguyễn Đạo Thanh "Việt sử tiêu án" chép là vua sai em tên Hạc (không phải Hạp) sang Tàu (cùng đi với Nguyễn Đạo Thanh ). Ở đây chép là Nguyễn Thanh Đạo.
2 Người ta thường chúc mừng nhau: Điều lành như Đông Hải, sống lâu như Nam Sơn (Phúc như Đông hải, Thọ Tỷ Nam Sơn). Ngày sinh nhật này cũng là ngày lễ chúc thọ vua vậy.
3 Theo nguyên tác: "Mệnh Dực Thánh Vương tác Đại Quang Lịch" nghĩa là sai Dực Thánh Vương làm lịch Đại Quang. Chúng tôi đã
tra cứu nhiều sách sử, nhưng chưa gặp sách nào chép về việc sáng tạo ra lịch pháp của ta, nhất là lịch Đại Quang dưới triều Lý Thái Tổ. Gần đây ông Tố Nguyên- Nguyễn Thọ Dực đã viết một thiên biên khảo về phương thức làm lịch của bốn dân tộc: Hoa,
Việt, Miên, Lào, bài đăng trên "Văn hoá Tập san" số 1 năm 1971, đoạn về lịch phàp Việt Nam, tác giả nhấm mạnh: "Lịch Việt Nam đích thực là lịch cũ của Trung Hoa". Chúng tôi cho rằng chữ "phạt" sách này chép nhầm thành chữ "tác", chữ "nguyên" đã chép nhầm ra chữ "quang".
Sách "Việt sử tiêu án" chép: Đại Nguyên Lịch quấy nhiễu biên giới, vua sai Dực Thánh Vương đánh dẹp, tiến quan sâu vào trai Như Hồng thuộc đất Tống ở giáp giới trấn triều Dương (châu Vĩnh An của ta).
Đại Nguyên Lịch là vùng đất heo hút, sau Nùng Trí Cao đặt lại là Đại Lịch Quốc.
4 Châu Vĩnh An: Thời nhà Đường thuộc Lục Châu, thời nhà Đinh và Tiền Lê đổi ra trấn triều Dương, nhà Lý đổi lại là châu Vĩnh An, nhà Trần đổi là Lộ Hải Dung, sang thời Lê lại cho thuộc về An Bang. Nay là tỉnh Quảng Ninh.
5 Có lẽ là Phong Châu mà nguyên bản chép nhầm chăng (?)
6 Đô Kim: nay thuộc huyện Hàn Yên, tỉnh Tuyên Quang.
7 Châu Văn là Văn Uyên, nay thuộc huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn.


39 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Vua Thái Tông Vua Thái Tông húy là Đức Chánh, tên là Phật Mã, là con trưởng của vua Thái Tổ, mẹ người họ Lê.
Khi vua Thái Tổ lên ngôi phong Phật Mã làm Khai Thiền Đại Vương1 và lập làm Thái tử.
Năm Thuận Thiên thứ 11 (năm Canh Thân - 1020), Thái tử Phật Mã phụng mệnh vua đi dẹp yên được các bọn giặc rợ, có công. Khi vua Thái Tổ mất, quần thần vâng theo di chiếu, đến cung Long Đức mời Thái Tử lên ngôi. Lúc bấy giờ các vị vương là Dực Thánh Vương, Võ Đức Vương2 đều đem binh phục ở ngoài cửa Quảng Đức muốn đánh lén vua (Thái tử Phật Mã). Vua từ cửa Tường Phù vào đến điện Càn Nguyên, binh ở ba phủ kéo đến đánh càng gấp, vua phải sai bọn Nguyễn Nhân Nghĩa3 chống cự chúng.
Quan của ba phủ thất bại. Võ Đức Vương bị Lê Phụng Hiểu4 giết. Ngày ấy vua lên ngôi. Trước linh cữu (vua Thái Tổ), vua (Thái Tông) hạ lệnh đại xá kẻ tù tội và đổi niên hiệu, lấy năm Thuận Thiên thứ 19
(tức là năm Mậu Thìn- 1028- ND) là năm Thiên Thành thứ nhất. Đặt tôn hiệu là: "Khai thiên thống vận tôn đạo quý đức thánh văn quảng võ sùng nhân thượng thiện chính lý dân an thần phù long hiện ngự cực thể nguyên5 ức tuế công cao ứng chân bửu lịch thông nguyên chí áo hưng long, đại định thông minh từ hiếu hoàng đế".
Trước kia, khi vua được sanh ra ở phủ Trường An, thì nhà dân ở trong phủ nuôi nhiều trâu bò,
trâu bò thay sừng, có nhà bói toán nói rằng: "Năm Sửu6 sanh người làm Thiên tử". Nói thế rồi thôi không thấy đâu nữa. (Sau thấy quả đúng là) nhà vua vào năm sửu thì sinh ra.
Khai Quốc Vương chiếm cứ phủ Trường An làm phản, vua thân chinh đánh dẹp. Khai Quốc
Vương đầu hàng, vua xuống chiếu tha tội cho.
Tháng năm thần nhân hiện ra, có dấu tích ở chùa Vạn Tuế. Nhà vua dùng Lương Nhiệm Văn làm Thái sư,
Ngô Thượng Đinh7 làm Thái phó, Đào Xử Trung làm Thái bảo, Nguyễn Đạo Kỷ8 làm khu mật,
Nguyễn Triệt9 làm Tả Tham tri chính sự, Liêu Gia Chân làm Trung thư thị lang, Kiểu Bồng làm Hữu tham tri Chính sự, Hà Viễn làm Gián Nghị Đại phu, Qui Văn Lôi10 là Tả tâm phúc, Nguyễn Nhân Nghĩa11 làm Hữu tâm phúc.
1 Nhiều bộ sử khác chỉ chép là: "Khai Thiên Vương".
2 "Vệt sử tiêu án" cùng nhiều bộ sử khác chép về loạn tam vương thì có Đông Chinh Vương. Nguyên bản "Đại Việt sử Lược" chép thiếu vị vương này.
3 Đúng là Lý Nhân Nghĩa.
4 Lê Phụng Hiểu: Sách Việt sử tiêu án chép: Ông người làng Băng Sơn, Ái Châu, khôi ngô, hùng dũng, mỗi bửa ăn đến vài đấu gạo.
Gặp lúc hai thôn Cổ Bi và Đàn Xá tranh giành địa giới, đem quân đánh nhau. Phụng Hiểu thưa với các bô lão làng Cổ Bi rằng: "Một
mình tôi có thể đánh tan bọn chúng" rồi liền nhổ cây đánh ngay. Thôn Đàm Xá sợ lắm, phải trả ruộng cho thôn Cổ Bi. Vua Thái Tổ nghe tiếng, triệu vào cho làm tướng. Đến bây giờ có công dẹp nạn loạn tam vương, sau lại theo vua Thái Tông đi đánh giặc, lúc khải hoàn xét định công. Phụng Hiểu thưa: "Không muốn quan tước gì, chỉ xin đứng trên núi Băng Sơn ném thanh đại đao rơi xuống chổ nào thì được nhận đến chổ ấy làm ruộng thế nghiệp". Vua y cho, Phụng Hiểu lên núi ném đại đao đi xa hơn mười dặm rơi xuống làng Đa My. Vua cho ông nhận ruộng đến chổ ấy và miễn việc nộp thuế.
Vua Minh Mạng triều Nguyễn cho linh vị ông vào thờ ở miếu Lịch Đại Đế Vương (miếu này ở xả Dương Xuân ngoài kinh đô Huế).
5 Phần tôn hiệu của Thái Tông, nhiều bộ sử không thấy chép hai chữ "thể nguyên", riêng sách "Đại Việt sử lược" này lại chép.
6 Sanh năm sửu cầm tinh con trâu.
7 Sách "Việt sử tiêu án" và "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Đinh Thượng Ngộ.
8 Nguyễn Đạo Kỷ, Nguyễn Triệt: Nguyên là người họ Lý.
9 Xem 269.
10 Qui Văn Lôi: Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Đào Văn Lôi.
11 Xem chú thích số (264).


40 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Đặt ra Điện tiền quân1, có 10 vệ là1. Quảng Thánh, 2. Quảng Võ, 3. Ngự Long, 4. Phủng Nhật, 5. Trừng Hải...Mỗi vệ đều có chia làm tả hữu.
Tháng 6, lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Thiên Thánh. Làm núi Vạn Tuế ở Long Trì. Có năm chỏm núi. Chỏm giữa có dựng bức tranh Trường Thọ Tiên, hai bên đầu có con hạc trắng. Trên núi còn làm hình tiên bay, chim, thú. Sườn núi lại có hình rồng thần vờn quanh. Lại trưng dụng cờ xí, treo vàng,
ngọc bích, sai bọn linh nhi2 đứng ở trong khoảng đất đá mà chơi ống sáo, thổi các sanh (sênh) ca hát, nhảy múa làm vui thú.
Năm Kỷ Tỵ (Năm 1029- ND) tức là năm Thiên Thành thứ 2: Gả công chúa Bình Dương cho quan Lạng Châu Mục là Thân Thiệu Thái. Đản Mãi Giáp ở Ái Châu làm phản, vua thân chinh đánh và bắt được.
Thần nhân hiện ra có dấu tích ở chùa Thiên Thắng.
Rồng xuất hiện ở nền điện Càn Nguyên. Vua nói rằng: "Cái điện ấy đã đổ nát, chỉ còn lại mỗi
một cái nền, nay rồng lại hiện ra ở đó,ý chừng rồng chịu ở đất ấy chăng? rồi vua bèn cho mở rộng thêm ra một cách qui mô để trùng tu cái điện ấy. Và, đổi tên là điện Thiênn An. Phía tả điện Tuyên An dựng điện Tuyên Đức, phía hữu dựng điện Diên Phúc. Phía trước là Long Trì, phía đông xây điện Văn Minh,
phía tây xây điện Quảng Võ. Trên thềm hai bên đối nhau thì là lầu chuông để lên nghe việc của người bị ngục tù oan ức. Đằng trước có điện An Phụng Thiên, ở trên xây lầu Chánh Dương để làm nơi xem giờ.
Đằng sau dựng điện Trường Xuân, ở trên đất cái Long Các3, bên ngoài Long Các làm cái thành, gọi là Long Thành.
Mùa thu, tháng 8, dân Hoan Châu đem dâng một con kỳ lân4.
Mùa đông, tháng 10, trước chùa Vạn Tuế trời đổ mưa gạo trắng thành đống.
Năm Canh Ngọ (năm 1030- ND) là năm Thiên Thành thứ 3:
Dựng điện Thiên Khánh, sau đó lại cất lầu Phượng Hoàng.
Mùa đông, tháng 10, nhà vua đi Ô Lộ5 xem gặt lúa.
Vua sai Lê Ốc Thuyên6, trong Đại Liêu Ban đi sứ sang Tống.
Được mùa to.
Năm Tân Mùi (năm 1031- ND) là năm Thiên Thành thứ 4, dân Châu Hoan (Nghệ An- ND) làm
phản, vua thân chinh đánh diệt và dẹp yên được. Xây cất chùa chiền gồm có 150 ngôi.
Năm Nhâm Thân (năm 1032- ND) là năm Thiên Thành thứ 5:
Ở chùa Thích Ca (còn gọi là Thích Già- ND)7 nhiều cây sung trổ hoa1.
1 Có bản chép là "Điện tiền trúc quân" sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là "Điện tiền cấm quân".
2 Linh nhi: Bọn hát xướng, diễn tuồng.
3 Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Long Đồ.
4 Có bản chép là dâng hai con kỳ lân.
5 Ô Lộ: Sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" đoán là tổng Vĩnh Xương (nay thuộc Hưng Yên).
6 Có bản chép là Lê Ác Thuyên.
7 Thích Ca hay Thích Già (Sâykya) nguyên là thái tử nước Capila ở Ấn Độ, cha là Tịnh Phạn Vương (Suddhodana), mẹ là Ma Da (Maya), họ Cồ Đàm (Gotama), tên là Tất Đạt Ma (Siddhârtha). Thích ca là tên chủng tộc. Ngài sanh vào thế kỷ thứ sáu và mất vào khoảng năm 480 trước công nguyên, nghĩa là ở cùng thời với đức Khổng Tử. Ngài thấy nhân sinh vật thường, xuất gia tu luyện,
mong tìm lối thoát cho chúng sinh. Khổ hạnh sáu năm biết không đạt được đích, ngài bèn tới núi Ca Da dưới gốc cây Bồ Đề ngồi xếp bằng nhập định, khuếch thiên đại ngộ thành Vô Thượng Chính Giác. Sau đó, ngài đi thuyết pháp độ sinh trong 45 năm. Đến năm 80 tuổi tịch ở thành Thi Na, giữa hai cây Sa la và vào Nát Bàn. Phật tịch rồi, các đại tử của ngài là Đại Ca Diếp, A Nan v.v...
nhóm họp nhiều lần để kết hợp những di giáo mà biên chép ra hai thứ chũ là chữ Phạn và chữ Pali. Phật điển truyền bá ở phương Nam theo kinh bản Pali, ở phương bắc theo kinh bản chữ Phạn. Và, đức Thích ca trở thành vị Phật Tổ của Phật Giáo vậy.
41 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Tháng 4, Vua đi Đỗ Động Giang cày Tịch điền. ruộng này cho giống lúa "chín bông". Vua xuống chiếu đổi ruộng ấy là Ứng Thiên.
Năm Quý Dậu (năm 1033- ND) là năm Thiên Thành thứ 6. Mùa xuân, châu Định Nguyên2 làm
phản vua đi đánh dẹp và dẹp yên được.
Tháng 9, châu Trệ Nguyên làm phản, vua thân chinh đánh dẹp.
Năm Giáp Tuất (năm 1033- ND) là năm Thiên Thành thứ 7: vua đổi niên hiệu là Thông Thụy năm thứ nhất.
Vua xuống chiếu cho quần thần đi tâu trình sự gì với vua thì trước hết xưng với vua là triều đình.
Mùa thu, tháng 9 vua đi thăm chùa Trùng Quang3 ở núi Tiên Du, hạ chiếu dựng điện Trùng
Hưng.
Ở chùa Pháp Vân thuộc Cổ Châu có nhà sư nói, trong chùa phát ra mấy đường ánh sáng. Rồi
theo chổ có ánh sáng ấy mà đào lên thì được một cái hộp bằng đá, trong hộo bằng đá có cái hộp bằng bạc, trong hộp bằng bạc có cái hộp bằng vàng, trong hộp bằng vằng có cái bình bằng lưu ly (một thứ thủy tinh trong suốt), trong cái bình bằng lưu ly có xá lợi Phật.
Năm Ất Hợi (năm 1035- ND) là năm Thông Thụy thứ 2, trước điện Thiên Khánh mọc cỏ chi4.
Nhà vua phong cho con là Nhật Trung làm Thừa Càn Vương.
Xây cất chợ Tây5 và chợ Trường Lan.
Làm cầu Thái Hòa ở sông Tô Lịch.
Ái Châu làm phản, vua thân chinh và thắng được.
Tại Hành Cung6 ờ Ái Châu vua ngự tiệc cùng quần thần, rồi kín đáo chỉ Định Thắng tướng quân Nguyễn Khánh rằng là, ông ấy tất sẽ làm phản. Kẻ tả hữu đều hỏi cái nguyên cớ. Vua đáp rằng: "Xem người ấy có vẻ lạ thường, sẽ có hành động đi đến cái mức không giữ tròn tiết tháo nên thấy tôi thì có cái
sắc diện thèn thẹn. Biết được cái cớ là như thế. Năm ấy, quả nhiên Nguyễn Khánh làm phản.
Năm Bính Tý (năm 1036- ND) là năm Thông Thụy thứ 3. Mùa xuân, tháng 3 vua gả công chúa
Khánh Thành cho quan Châu Mục Châu Phong là Lê Thuận Tông.
Tháng 4, xây hành cung ở Hoan Châu (Nghệ An)7.
Các châu Đô Kim8, Thường Tân9, Bình Nguyên10 làm phản.
1 Nguyên bản là "Ưu đàm thụ khai hoa". Đàm thụ tức là cây sung, thân cây cao lớn, có hoa nở về mùa hè, theo pháp hoa kinh thì hoa Ưu Đàm là hoa thiêng liêng của nhà Phật, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi khi có hoa tức có phật ra đời.
2 Châu Định Nguyên" Châu này trải dài từ phía trên Lâm Thao (tức Vĩnh Phú) đến gần Yên Bái ngài nay.
3 Có sách chép là Trung Tiên, Trọng Quang. Phải chăng chữ TRùng còn đọc là Trọng. Chữ Quang viết ra chữ Tiên, Quang.
4 Cỏ chi cũng như cỏ lan là thứ cỏ thơm, hương nó hòa hợp lẫn nhau. Người ta ví anh em bạn tốt như cỏ chi cỏ lan. Sách Khổng Tử Gia Ngữ: "Cùng ở với người hiền như vào trong nhà cỏ chi cỏ lan, lâu ngày hóa thơm mà không biết, cùng ở với người ác như vào trong quán ướp cá khô lâu ngày không biết thối vì quá quen vậy".
5 Chợ Tây "Sách Đại Việt sử ký toàn thư" chép là chợ Tây Nhai.
6 Hành Cung: Cung điện xây ở các tỉnh xa kinh đô để phòng khi vua tuần du mà nghỉ ngơi.
7 Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" cho biết, nhân đó đổi Hoan Châu thành Nghệ An.
8 Xem chú thích nơi cuối chương Lý Thái Tổ.
9 Thường Tân (?)
10 Bình Nguyên: Nay thuộc Hà Giang.
42 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Năm Đinh Sửu (năm 1037- ND) là năm Thông Thụy thứ 4; Dùng Khai Hoàng Vương làm Nguyên soái đi đánh các châu Đô Kim, thắng trận.
Trong vườn dâu ở Ô Lộ tượng Phật xưa lồi lên.
Bày cuộc lễ đua thuyền.
Có trận lụt lớn.
Năm Mậu Dần (năm 1038- ND) là năm Thông Thụy thứ 5; Vua đi Bố Hải Khẩu1 cày Tịch điền.
Mùa thu, tháng 8, vua ngự ở điện Hàm Quang xem đua thuyền.
Tháng 9, thần nhân xuất hiện, có dấu tích ở chùa Thiên Thắng.
Tống Nhân Tông2 phong vua là Nam Bình Vương.
Con vua Chiêm Thành là bọn Địa Bà Thích sang chầu3.
Năm Kỷ Mão (năm 1039) là năm Thông Thụy thứ 6. Mùa xuân, tháng giêng, người cầm đầu châu Quảng Nguyên là Nùng Tồn Phúc làm phản xưng là Chiêu Thánh Hoàng Đế, phong con trưởng là Trí Thông làm Nam Nhại Vương4, đổi châu ấy là nước Trường Kỳ5. Vua thân chinh đánh dẹp. Binh lính nhà vua vượt qua bến Lĩnh Phù, có con cá trắng phóng vào trong ghe của nhà vua. Khi đến châu Quảng Nguyên, Nùng Tồn Phúc đốt bỏ sào huyệt của hắn rồi chạy trốn. Vua cho quân đuổi theo, bắt được Tồn Phúc. Con của Tồn Phúc là Trí Cao chạy thoát. Vua cho giữ Tồn Phúc rồi đưa về kinh sư mà giết.
Mùa hạ, tháng 5 châu Quảng Nguyên dâng một khối vàng sống, nặng 112 lượng.
Tháng 6, đổi niên hiệu Càn Phù Hữu Đạo năm thứ nhất.
Mùa đông, tháng chạp nước Chân Lạp sang cống.
Sai sứ sang Tống.
Năm Canh Thìn (năm 1040) là năm Càn Phù Hữu Đạo thứ 2; Mùa hạ, tháng 5 vua định phảm
cấp cho các cung nữ.
Tháng 6, Điện Tiền chỉ huy sứ là Đinh Lộc và Phùng Luật, âm mưu làm phản, sự việc bị phát giác phải chịu tội chết.
Mùa đông, tháng 11 dùng Minh Oai Hầu6 làm Tri Châu Nghệ An.
Nùng Trí Cao cùng với người mẹ của y là A Nùng từ động Lôi Hỏa trở lại chiếm cứ châuThảng
Do, đổi châu ấy là nước Đại Lịch. Vua hạ lệnh đánh, bắt sống được Trí Cao. Vua thương Tồn Phúc đã bị giết, vì thế mà tha tội cho Trí Cao rồi ban cho các châu; Quảng Nguyên, Lôi Hỏa, Bình Bà, Tư Lãng7.
Năm Nhâm Ngọ (1042- ND) là năm Càn Phù Hữu Đạo năm thứ 4; Mùa xuân, vua đi cày ruộng
Tịch Điền ở vùng cửa biển Già Lãm.
Động đất.
1 Bố Hải Khẩu: nay thộc huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình.
2 Tống Nhân Tông: con của vua Tống Chân Tông, lên ngôi năm 1023, ở ngôi 43 năm.
3 Bản sử khác chép rằng: sự kiện này xảy ra năm 1039 tháng 4 và có đến 5 người con của vua Chiêm Thành là Địa Bà Thích, Lạc
Thuấn, Sa Đầu, La Kê, A La Thích đến xin qui phục.
4 Nam Khai là địa danh. Thời nhà Lý đó là châu Vạn Nhai. Nay đất này thuôc hai huyện võ Nhai và Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn.
5 Trường Kỳ Quốc có sách chép là Trường Sanh Quốc.
6 Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Oai Minh Hầu và ghi tên là Nhật Quang.
7 Tất cả đất này đều thuộc Cao Bằng và một phần nhỏ của Trung Quốc ngày nay. Châu Tư Lãng, sách "Đại Việt sử ký toàn thư"
chép là Tư Lang.
43 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Giao Châu làm phản1.
Mùa đông, tháng 10 đổi niên hiệu là Minh Đạo năm thứ nhất.
Xuống chiếu cho các Trung thư sảnh cứu xét và san định luật sư.
Tháng 11, xuống chiếu cho các lộ, mỗi lộ đặt trạm gác để tiện việc quan sát và hiểu biết được
các nơi.
Phàm những bậc già yếu và có công mà phạm tội nặng thì dùng tiền để chuộc tội.
Đúc tiền Minh Đạo.
Lương Mậu Tài đi sứ bên Tống.
Năm Quí Mùi (năm 1043- ND) là năm Minh Đạo thứ 2; Tháng 4, Ái Châu làm phản.
Tháng 5, sai Khai Hoàng Vương làm Đô Thống Đại Nguyên Soái đi đánh Ái Châu, Phụng Càn
Vương làm đô thống nguyên soái đi đánh Văn Châu, Văn Châu được yên ổn.
Mùa hạ, tháng 4, vua đi thăm chùa Tùng Sơn thuộc châu Vũ Ninh2 thấy ở trong cái điện đã đổ
nát cửa chùa có cây cột đá bị nghiêng. Vua động lòng mới có ý trùng tu, cột đá bổng nhiên đứng ngay trở lại. Nhân đó mới sai bậc nho thần3 làm bài phú để ghi điều lạ ấy.
Mùa thu, tháng 9 sai Ngụy Trưng sang châu Quảng Nguyên trao ấn Quận Vương4 cho Trí Cao, lạiphong cho làm chức Thái Bảo.
Xuống chiếu đóng thuyền lớn mấy trăm chiếc, đều có làm hình rồng, phượng, cọp, cá, rắn, và
chim anh vũ.
Mùa đông, tháng 10 cái thuẩn của vua ở trong điện Trường Xuân tự nhiên lay động.
Năm Giáp Thân (năm 1044- ND) là năm Minh Đạo thứ 3, tháng hai:
Cái thuẩn của vua lại lay động.
Ngày Quý Mão vua thân chinh đánh Chiêm Thành, dùng Khai Hoàng làm chức lưu thử. Ngày
Giáp Thìn phát binh từ kinh sư (thủ đô). Ngày Ất Tý đóng quân tại cửa biển Đại Ác5 lúc bấy giờ sóng đã ngừng yên, có lợi cho đại quân đi từ Đại An (tức Đại Ác- ND) qua Ma Cô6, có mây tía che khuất mặt trời.
Đến Não Loan7 có mây che thuyền vua. Đến cửa Tư Minh8 có con cá trắng nhảy vào thuyền.
1 Có lẽ nguyên bản chép nhầm chữ Văn ra chữ Giao
Văn Châu: Châu Văn làm phản.
Văn Châu: nay thuộc Bình Gia, Lạng Sơn.
2 Vũ Ninh: nay thuộc Bắc Ninh.
3 Nho thần: Sách pháp ngôn chép: Thông thiên, địa nhân viết nho nghĩa là người thông hiều thiên văn, địa lý và nhân sư thì gọi là nho, tức là bậc trí giả mà Khổng Mạnh đào tạo ra để giúp dân, giúp nước.
4 Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Đô ấn nghĩa là ấn của Ngô tướng quân. Quảng Nguyên về sau là Quảng Uyên.
5 Đại Ác: cửa biển này thuộc xã Cần Liêu, huyện Hải Hậu tỉnh Nam Hà. Lúc vua Lý đóng quân ở cửa biển này thì sóng yên, gió lặng,
thấy vậy, vua bèn đổi Đại Ác ra Đại An.
6 Ma Cô tức Ma Cô Sơn, lại còn có tên nữa là Lễ Để thuộc vùng Kỳ Anh (Hà Tỉnh).
7 Sách này chép Não Loan sách việt sử tiêu án chép là Hà Não. Ông Nguyễn Khắc Thuần thì gọi là Vũng Truy (Nếu là Vũng Truy thì có lẽ hán tự là Truy Loan. Nay chưa biết ở đâu).
8 Tư Minh: Sách "Việt sử tiêu án "chép Tư Dung. Hai bộ sử, đoạn chép về phần việc này đều giống nhau. Duy chỉ khác về tên gọi cửa biển này, và ông Ngô Thùy Sĩ viết cặn kẽ, Tư Dung, trước có tên là Ô Long thuộc huyện Hương Trà, Thuận Hóa, eo biển hiểm
ác, núi non khuất khúc rất cao. Vua Trần Nhân Tôn gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm, thuyền đậu ở đó, nhân thế mới đổi
tên là Tư Dung. Sau Mặc Đăng Dung lấy cớ đồng âm với tên của y mới cải là Tư Khách. Vậy, có lẽ vào triều nhà Lý nó là Tư Minh (?) Ngày nay là cửa Thuận An.
44 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Nhà vua nghe vua Chiêm Thành đã dàn trận trước ở sông Ngũ Hồ để đợi quan quân ta. Vua
(Thái Tông) bèn xuống chiếu cho quân sĩ bỏ thuyền, lên đất liền. Vua lại cho một phần binh lính dựng cờ, đánh trống như sắp muốn đánh nhau với giặc Chiêm Thành. Quân giặc thấy binh lính oai nghiêm, lại quá nhiều mới sợ mà thua sớm. Vua cho quân đuổi theo chém được ba đầu giặc. Tướng giặc là Quách Gia ý1 chém Nhân Đẩu2 để dâng vua, quân lính nhà vua bắt được voi 30 con, bắt sống quân giặc 5000 người. Số còn lại bị loạn binh giết vô số. Vua lấy làm thương xót mới xuống chiếu: "Hễ ai giết người Chiêm Thành thì bị chém".
Mùa thu, tháng 7 đại quân của nhà vua vào thành Phật Thệ (nay ở làng Nguyệt Bậu, huyện
Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên- ND) bắt được những cung nữ là những thê thiếp của vua Chiêm.
Tháng 8 rút quân về, khi đến phủ Trường An thì có rồng vàng xuất hiện ở trong thuyền vua.
Tháng 9, vua từ nước Chiêm Thành đã về đến nơi.
Mùa đông, tháng 10 đổi niên hiệu là Thiên Cảm Thánh Vũ năm thứ nhất, năm ấy được mùa to.
Tháng chạp đặt ra trạm Hoài Viễn ở Gia Lâm để làm nhà trọ cho khách sứ bốn phương.
Quan Thái Bảo Nùng Trí Cao sang chầu..
Năm Ất Dậu (năm 1045- ND) là năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 2. Mùa xuân, tháng 3 dựng bia ở Đại Nội.
Mùa hạ, tháng 5 chế tạo xe Thái Bình, dùng vàng làm vật trang sức.
Năm Bính Tuất (năm 1046- ND) là năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 3, Mùa hạ, tháng 5 dựng Ngân Hà ở hậu uyển để cho các cung nhân (cung nữ) Chiêm Thành ở.
Năm Đinh Hợi (năm 1047- ND) là năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 4; Đặt ra trấn Vọng Quốc và
bảy trạm là Qui Đức, Bảo Khang, Tuyên Hóa, Thanh Bình, Vĩnh Thông, Cảm Hóavà An Dân. Ở mỗi trạm có lập cột mốc để cho người Man Di làm chổ lưu trú nghĩ ngơi. Sứ Chiêm Thành sang triều cống, vua
xuống chiếu lưu giữ sứ ấy lại ở châu Chân Đăng3, vì vua Chiêm là Úng Nặc (còn gọi là Ung Ni) vô lễ, cho nên phải làm như thế.
Năm Mậu Tý (năm 1048- ND) là năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 5 (nguyên bản viết: "nhị niên" là nhầm- ND): Nùng Trí Cao ở động Vật Ác4 làm phản, vua sai Võ Oai Hầu và quan Thái uý là Quách Thạch Ích đi đánh dẹp, ngày đánh nhau, trời đất tối tăm mù mịt, chốc lát thì sấm sét ầm ầm ở trong động. Tù trưởng trong động ấy chân tay bủn rủn sợ hãi bèn xin hàng5.
Tháng 3, lập xã đàn ở ngoài cửa Ttrường Quảng để làm nơi bốn mùa cầu cúng thần lúa.
Mùa thu, tháng 9 mở 3 khu vườn: Quỳnh Lâm, Thắng Cảnh, Xuân Quang.
Mùa đông, tháng chạp nhà vua xuống chiếu định lại phép chọi trâu vào dịp xuân.
Phạm Khứ Liêu mưu phản, sự việc được cáo giác. Liêu bị rót thịt ra ở chợ Đông.
Năm Kỷ Sửu (năm 1049- ND) là năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 6:
1 Sách "Việt sử tiêu án" chép là Quách Gia Di cùng nhiều sử bộ khác cũng chép như thế. Quách Gia Di là tướng của vua Chiêm, một viên tướng phản phúc, trong trận này y đã chém chết ông vua của nước y rồi đem dâng đầu cho vua Lý Thái Tông mà xin hàng
(!) Có người cho rằng Quách Gia Di không phải là tướng của triều Lý nước ta, có nhầm không (?).
2 Nhiều bộ sử chép khác nhau, bộ chép của Sạ Đẩu, bộ chép Nhân Đẩu. Có lẽ chữ Sạ người chép sách chép thiếu một nét ngang ở trên thành chữ Nhân.
3 Châu Chân Đăng: nay là Lâm Thao, Vĩnh Phú.
4 Vật Ác: động này xưa thuộc Cao Bằng, nay thuộc Trung Quốc.
5 Nguyên bản chép nhầm, Nùng Trí Cao không hàng mà lại chiếm cứ Ung Châu của nhà Tống. Về sau lại xin nội thuộc nhà Tống, dâng biểu tiến cống lễ vật. Nhưng nhà Tống không thuận, Cao bèn cướp chiếm Ung Châu của Tống và tiếm xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế lại nhân vì đất Tống, nơi biên giới không phòng bị nên Cao đánh thắng lớn. Sau Cao bị Tuyên Huy Sứ của nhà Tống là Địch Thanh đánh bại phải chạy sang phủ Đại Lý và bị giết chết. Theo "Việt sử tiêu án".


45 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Mùa xuân, tháng 3 đổi niên hiệu là Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ nhất.
Mùa thu, tháng 8 đào Ngự Câu1 ở ngoài Phượng Thành, lại đào ao Kim Minh Vạn Tuế. Bắt đầu đào, lúc bấy gờ khua động trong ao là có tiếng, đào lên được thì hoàng kim một khối, nặng 50 lượng, nhân đó mà lấy tên cho cái ao. Lại làm ba chỏm núi đá trên ao, xây cầu Vũ Phượng.
Năm Canh Dần (năm 1050- ND) là năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 2:
Đặt các động Huyết Hạn, Đại Phát và Văn Tương ở châu Tây Bình thuộc cõi nhà Tống làm ranh giới.
Nùng Trí Cao chiếm cứ động Vật Dương2 ở Châu An Đức thuộc địa giới nhà Tống, dùng động ấy làm nước Nam Thiên, đổi niên hiệu là Cảnh Thụy.
Giáp Long Trì3 ở Ngũ Huyện Giang4 thuộc Ái Châu làm phản.
Năm Tân Mão (năm 1051- ND) là năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 3:
Đào hồ Thụy Thanh5 và ao Úng Minh ở vườn Thắng Cảnh.
Trong ngoài có đặt quân Tùy Long.
Sai Tả Kiêu Vệ Tướng quân là Trần Mẫn đem người ở 5 huyện đào hồ Cá Lẫm6.
Năm Nhâm Thìn (năm 1052- ND) là năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 4:
Trí Cao xin phụ thuộc vào nhà Tống, vua Tống không nhận, Trí Cao bèn cướp phá nhà Tống.
Tháng 5, Trí Cao đánh phá dinh trại ở Hoành sơn của nhà Tống rồi công hãm Ung Châu. Lấy
châu ấy làm nước Đại Nam, tự xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế.
Năm Quý tỵ (năm 1053- ND) là năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 5:
Nhà Tống đánh Trí Cao. Vua Tống (Nhân Tông- ND) sai Lương Châu sang xin vua giúp binh lực.
Vua hạ chiếu sai Điện Tiền Chỉ Huy Sứ là Võ Nhỉ làm Chiêu thảo sứ đi tiếp viện quân Tống. Tháng đó
Địch Thanh (tướng- ND) nhà Tống đánh bại Trí Cao ở Qui Nhơn7. Trí Cao chạy sang nước Đại Đản8.
Tháng 3, đúc chuông đặt ở Long Trì, ra lệnh cho dân chúng, hễ ai có điều oan ức mà không thể chuyển đạt lên cho hiểu, thì hãy đánh cái chuông ấy để bày tỏ.
Thạch Giám nhà Tống theo vào đạo Đặc Ma đánh lén mẹ của Trí Cao là A Nùng. A Nùng tuổi đã ngoài 60. (trước đó đã bắt được Trí Cao)9, người Đại Đản chém và gói đầu Trí Cao đem dâng vua Tống.
Lại chém A Nùng ở nơi đô thị. Các lính Nùng bị diệt hết cả.
Năm Giáp Ngọ (năm 1054- ND) là năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6, tháng 9, ngày Mậu Dần vua mệt. Đến mùa đông, tháng 10, ngày Tân Mão vua từ trần ở điện Trường Xuân, thọ 54 tuổi, ở ngôi 26
năm. Đổi niên hiệu 6 lần, thì có 3 lần dùng niên hiệu bốn chữ.
1 Ngòi nước dành riêng cho vua, dân không được đánh cá hay tắm giặt ở đấy. Vua hành động gọi là ngự, cái gì thuộc về riêng vua,
như ngự giá, ngự bút v. v...
2 Vật Dương: động này thuộc Cao Bằng.
3 Long Trì vốn đã có tên này từ đời thường.
4 Ngũ Huyện Giang nay là vùng Tĩnh Giang, Thanh Hóa.
5 Nguyên bản là Thanh Thụy Chiểu. Chiểu là cái hồ hình cong. Có sách chép là Thụy Thanh.
6 Nguyên bản là Lẫm Cảng, song tên nôm thường gọi là Cá Lẫm, nay thuộc Tống Sơn Thanh Hóa.
7 Qui Nhơn nay chưa biết ở đâu. có sách chép: Tướng nhà Tống là Địch Thanh đánh bại Trí Cao tại cửa Côn Lôn (gần phủ Nam
Định).
8 Nhiều sách chép là nước Đại Lý "Việt sử tiêu án" chép là phủ Đại Lý, phủ chứ không phải nước. Ttrí Cao bị quan phủ Đại Lý giết.
9 Mấy chữ trong ngoặc này là do chúng tôi tự thêm vào, cho ý nghĩa được mạch lạc, chứ nguyên bản không có.


46 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Vua được táng ở Thọ Lăng thuộc phủ Thiên Đức.
Vua Thánh Tông Thánh Tông tên húy là Nhật Tôn, con thứ ba của vua Thái tông, mẹ là người họ Mai.
Hoàng hậu họ Mai nằm mộng thấy mặt trăng rơi vào bụng, nhân đó có thai. Đến năm Thuận
Thiên thứ 14 (năm Quí Hợi- 1023- ND) tháng 2, ngày 25 thì sanh tại cung Long Đức.
Năm Thiên Thành thứ nhất (năm Mậu Thìn- 1028- ND) lập làm Thái tử.
Đến lúc lớn lên, tinh thông kinh truyện, hiểu âm luật, lại càng giỏi về võ lược. Vua Thái Tông sai đi đánh dẹp giặc giã, tới đâu cũng đều đánh thắng được cả.
Khi vua Thái Tông qua đời, vâng theo di chiếu mà lên ngôi. Ở trước linh cửu, tháng 10, vua đổi niên hiệu, lấy năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6 làm năm Long Thụy Thái Bình thứ nhất (năm 1054- ND).
Tôn mẹ họ Mai làm "Linh Cảm Thái Hậu".
Đặt tôn hiệu là: "Pháp thiên ứng vận sùng nhân Chí đức Anh văn duệ võ khánh cảm long tường hiểu đạo thánh thần Hoàng đế".
Xuống chiếu đốt bỏ những hình cụ tra tấn.
Cho những con gái ở trong cung Thúy Hoa ra về.
Phong chức tước cho các bậc văn võ ở đông cung và hàng quan lại. Mỗi người mỗi cấp bậc sai biệt nhau.
Dùng Bùi Gia Hựu làm Văn Minh Điện Đại Học Sĩ. Phạm Di làm Tả Oai Vệ. Trần Cải làm Hữu Oai Vệ. Lưu Khánh làm Tả Thanh Đạo. Vương Hành làm Hữu Thanh Đạo. Đổi Thần Vệ Khuông Thánh Đô làm Củng Thánh; Quảng Đức Đô làm Trung Võ; Quảng Võ Đô làm Chiêu Võ, và đặt thêm Tả Hữu Long Dực
Đô. Mỗi đô 100 người.
Ngày Bính Ngọ an táng vua Thái Tông.
Lập hoàng hậu 8 người.
Dùng Nguyễn Đạo Thành1 làm Thái sư, Quách Kinh Nhật làm Thái úy.
Xây điện Vinh Thọ.
Năm Ất Mùi (năm 1055- ND) là năm Long Thụy Thái Bình thứ 2: sửa sang lại các điện trong đại nội.
Ngày Quý Sửu lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Càn Hưng.
Chiêm Thành sang cống.
Mùa thu, tháng 8, vua ngự điện Thủy Tinh xem đua thuyền.
Mùa đông, tháng 10 lạnh lắm, vua bảo kẻ tả hữu rằng: "Ta ở trong cung sâu, sưởi là than2, mặc áo hồ cừu mà còn lạnh như thế này, huống chi những kẻ ở trong tù, khốn khổ vì trói buộc, phải trái chưa
phân minh mà quần áo không đủ, thân thể không có gì che, nên mỗi khi bị cơn gió lạnh khắc nghiệt thì há không chết được người vô tội hay sao! Ta vô cùng thương xót". Rồi lệnh vua truyền xuống quan Hữu ty phải cấp phát chân chiếu ở trong kho phủ ra cho tù nhơn, luôn luôn cung cấp cơm ngày hai bữa.
1 Nguyên là Lý Đạo Thành. Ông là người rất đoan chính. Lúc nào cũng nghĩ đến dân đến nước. Những lúc sớ tấu hay nhắc đến việc lợi hại của dân. Lại hay chọn bậc hiền tài mà tiến cử để cùng lo việc nước. Thực là bậc hiền thần khả kính vậy.
2 Nguyên bản: "Ngự thú thán" sưởi là than có vẽ hình con thú.


47 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Năm nay (năm Ất Mùi) trong cõi được miễn tiền thuế một nửa.
Xây chùa Đông Lâm và chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cưu.
Tống Nhân Tông phong vua làm Quận Vương.
Sai sứ sang Tống.
Năm Bính Thân (năm 1056) là năm Long Thụy Thái Bình thứ 3: Bày ra hội La Hán1 ở điện Thiên An.
Mùa thu, tháng 8 Chân Lạp sang cống.
Dựng chùa Sùng khánh Báo Thiên. Lấy 11000 cân2 đồng ở trong phủ ra đúc chuông, đặt tại chùa ấy. Nhà vua thân hành làm bài minh khắc vào chuông.
Mùa đông, tháng 10, ngày Kỷ Dậu hạ chiếu khuyến nông.
Đổi quan Thủ Lãnh làm Thứ Sử.
Năm Đinh Dậu (năm 1057- ND) là năm Long Thụy Thái Bình thứ 4:
Mùa xuân, tháng 3, xây bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên ở chùa Sùng Khánh Báo Thiên, cao 20
trượng. Xây tháp ấy làm 30 tầng.
Mùa hạ, tháng 4, vua sai Viên Ngoại Lang là Mai Nguyên Thanh đem hai con kỳ lân biếu nhà
Tống.
Ngày Giáp Ngọ con rồng vàng từ vườn Quỳnh Lâm hiện ra ở trước điện Trường Xuân.
Đạo A Châu làm phản.
Mùa đông, tháng 10 vua đi thăm cửa biển Đại Bàng, rồng vàng hiện ra ở trong thuyền Kim
Phượng. Nhân đó đổi (tên thuyền) là Tường Long.
Tháng chạp dựng chùa Thiên Phúc và chùa Thiên Thọ, dùng vàng đúc tượng Phạn Vương3,
tượng Đế Thích4 để an trí vào chùa ấy.
Chiếm Thành sang cống.
Năm Mậu Tuất (năm 1058- ND) là năm Thụy Long Thái Bình thứ 5: dựng điện Bát Giác Khổn
Thiên5 ở ao Kim Minh.
Tháng 3, mở cửa Trường Phủ, trên cửa dựng lầu.
Mùa hạ, tháng 5, con rồng vàng từ cung Long Đức hiện ra ở điện Vĩnh Thọ.
Tháng 6, dựng điện Linh Quang, phía bên tả dựng điện Kiến Lễ, bên hữu dựng điện Sùng Nghi.
Trước điện xây một cái cột hình lục giác, chạm hoa sen để làm lầu chuông.
Mùa thu, tháng 9 vua đi thăm cửa biển Ba Lộ, nhân tiện vua đi thăm Đồ Sơn, vua cho xây tháp ở xứ này.
1 La Hán: tức là viết tắt chữ A La Hán: Bậc tu hành đã dứt được hết các mối phiền não, tức là đắc đạo, nhưng địa vị thấp hơn Bồ
Tát.
2 Nhiều bộ sử chép là 12000 cân đồng.
3 Phạn Vương còn được gọi là Phạm Vương tức là Đại Phạn Thiên Vương, là vị thần cao nhất trong giáo phái Bà la Môn (Ấn Độ) làm
thị giả Phật.
4 Đế Thích: một vị thần trong phật giáo. Vị thần này ngự ở tầng trời thứ 2 trong 6 tầng trời ở cõi dục. Đó là trời Đao Lợi
là tiếng Phạn. Tàu dịch là "Tam thập tam". Trời Đao Lợi ở tại núi Tu Di, chia làm 33 nước trời. 32 nước ở bốn phương
chung quanh, mỗi phương 8 nước, chính giữa là Thiện Kiến Thành, cung của Đế Thích ngự, vị thần Đế Thích này quyền
thống nhiếp cả 33 nước trời.
5 Có sách chép là Hồ Thiên.


48 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Năm Kỷ Hợi (năm 1059- ND) là năm Long Thụy Thái Bình thứ 6:
Mùa xuân, tháng 3 vua đi săn ở sông Nam Bình thuộc Lạng Châu, nhân tiện vua ghé thăm nhà của phò mã là Thân Cảnh Nguyên1
Xây chùa Sùng Nghiêm Báo Quốc ở châu Võ Ninh.
Mùa hạ, tháng 6 rồng vàng hiện ra ở điện Vĩnh Thọ.
Ngày Quý Vị đổi niên hiệu, lấy năm Long Thụy Thái Bình thứ 6, làm năm Chương Thánh Gia
Khánh thứ nhất.
Mùa thu, tháng 8, ngày Đinh Sửu vua ngự ở điện Thủy Tinh cấp cho quần thần mũ phốc đầu2 và ủng (giày). Quần thần đội mũ, mang ủng bắt đầu từ đấy.
Ngày Bính Tuất rồng vàng hiện ra ở điện Trường Xuân.
Đặt cho ngôi tháp ở Đồ Sơn tên hiệu là tháp Tường Long.
Tuyển chọn những người ở trại Kinh Sư làm Hoàng nam3.
Dựng cửa Diên Hưng Thổ Hằng.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Canh Tý (năm 1060- ND) là năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 2: Vua hạ lệnh cấm bọn lính Ngự thuyền hoả, Củng thánh hỏa và Tùy Long hỏa cùng với bọn nhà bếp không được ra vào thềm ngự nói chuyện với bọn tiểu chi hậu, trao đổi tin tức hay đồ vật cho nhau4.
Kẻ nào trái lệnh bị tội chết mà gặp kỳ xá tội cũng không tha.
Tháng 2, ngày Nhâm Tý vua đi châu Tây Nguyên5 bắt voi, bắt được ba con voi trắng.
Mùa thu, tháng 6 quan Lạng châu mục là Thân Thiệu Thái đem binh vào huyện Nhử Ngao ở châu Tây Bình thuộc địa giới nhà Tống để bắt người bản châu đào vong. Bắt sống được nhóm ấy, tính ra, có sứ là Dương Lữ Tài và Nam, Nữ, trâu, ngựa không thể đếm xuể. Nhà Tống sai quan Lại Bộ Thị Lang là
Dư Tĩnh đến Ung Châu thảo luận về việc ấy. Vua lại sai Bùi Gia Hựu tới Ung Châu bàn nghị. Dư Tĩnh đem nhiều của đút lót Bùi Gia Hựu và gỡi thư cho Hựu mang về, xin vua trả lại Dương Lữ Tài. Nhà vua không xét.
Mùa thu, tháng 8 vua đi giao Hải Khẩu (cửa biển Giao), rồng vàng hiện ra ở trong thuyền Diêu
Xuân, nhân đó mà đổi Giao Hải Khẩu là cửa biển Thiên Phù.
Nhà vua thân hành phiên âm nhạc khúc và điệu trống6 Chiêm Thành, rồi sai nhạc công ca.
Mùa đông, tháng 10 xây hành cung ở Diêu Đàm xem cá.
Chiêm Thành sang cống.
Châu Vị Long dâng con voi trắng.
1 Chồng của công chúa Bình Dương.
2 Mũ phốc đầu là mũ cánh chuồn. Loại mũ này xuất xứ từ đời nhà Đường (Trung Quốc), ta bắt chước theo.
3 Sách "Việt sử tiêu án " chép: Triều Lý sai xét số nhân khẩu rất tường tế, dân đinh đến 18 tuổi (Nam) thì biên vào sổ vàng, gọi là
Hoàng Nam, 20 tuổi gọi là Đại Nam. Các quan chức, đô chủ quán, cấm quân chỉ được nuôi một tên Hoàng Nam làm đứa ở. Còn như có ý ẩn giấu người Đại Nam thì sẽ bị tội.
4 Cũng theo "Việt sử tiêu án" chép: Vua Thái Tổ định số quân ra từng giáp, mỗi giáp 15 người, dùng một người làm quản giáp, rồi đổi họ là Hỏa đầu, làm chánh thủ. Riêng bọn chèo hát vẫn gọi là quản giáp. Ông Nguyễn Khắc Thuần một chuyên gia về lịch sử học thì bảo rằng: Hỏa là đơn vị quân đội. Cứ 10 người là một hỏa. Mượn chữ Hỏa vì cứ 10 người là một bếp.
5 Tây Nguyên: tức Tây Nùng hay Tây Nông, nay thuộc Bắc Cạn.
6 Nguyên bản là "Tiết cổ âm". Ông Nguyễn Khắc Thuần bảo rằng: Tiết cổ là một nhạc cụ gồm có trống và một dụng cụ hình như cái bàn cờ, trên có khoét lổ tròn để đặt trống vào. Phép sử dụng "Tiết Cổ" chỉ người Chiêm mới giỏi.


49 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Năm Tân Sửu (năm 1061- ND) là năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 3: Châu La Thuận dâng
con voi trắng.
Động Sa Đãng làm phản, vua thân chinh đánh dẹp yên được.
Năm huyện ở Ái Châu cùng Giang Long làm phản.
Vua cầu tự ở Ba Sơn, rồng vàng hiện ra nơi lễ đàn.
Năm Nhâm Dần (năm 1062- ND) là năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 4:
Quận Gia Lâm dâng con rùa có sáu mắt, ba chân.
Mùa thu, tháng 9 sai người nhặt lá vàng ở động Vũ kiện, nhặt bạc ở huyện Hạ Liên.
Năm Quý Mão (năm 1063- ND) là năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 5:
Mùa hạ, tháng 6 dựng cung Động Tiên ở phía đông Đại Nội.
Được dâng con rùa trắng1.
Vua sai dựng chùa ở Tiêu Sơn2 để làm nơi cầu tự. Dân bắt được ngôc ở đấy đem dâng.
Mùa đông, tháng chạp dựng cửa Ngân Hà.
Ngày vào chầu vua để chúc mừng, thì sai xướng lên rằng: "Thánh cung vạn phúc"3 là quân sĩ
đồng thanh hô theo4.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Giáp Thìn (năm 1064) là năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 6:
Mùa xuân, tháng 2 (một hôm) mặt trời có hai luồng ánh sáng.
Mùa hạ, tháng 5 xây cất hành cung ở Bố Hải Khẩu.
Mùa đông, tháng 10, động Sa Ma5 làm phản, vua thân chinh đánh, dẹp yên được. Rồng vàng
hiện ra ở trong thuyền Thanh Lan.
Vua Anh Tông6nhà Tống phong cho vua là Đồng Bình Chương Sự.
Năm Ất Tỵ (năm 1065- ND) là năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 7:
Tháng 2 vua xem đánh cá ở đầm Phù Long.
Ngày Bính Ngọ vua đi hành cung Đỗ Hải cày ruộng (tịch điền).
Mùa hạ, tháng 6 vua ngự ở điện Thiên Khánh nghe việc kiện tụng. Lúc bấy giờ con gái của vua là công chúa Động Tiên hầu bên cạnh, vua nhìn công chúa rồi bảo viên ngục lại rằng: "Ta yêu thương con ta cũng như ta yêu thương thiên hạ. Ta yêu thiên hạ như bậc cha mẹ thương yêu con của họ vậy. Nhưng
trăm họ có nhiều kẻ không hiểu biết, tự dấn thân vào đường phạm pháp, ta thương xót lắm vậy. Vậy từ nay tội trạng bất kể nặng nhẹ cũng nên theo một cách là khoan thứ cho họ".
Mùa thu, tháng 7 Châu Mang Quán1 làm phản, vua thân chinh đánh dẹp, phải đầu hàng.
1 Nguyên bản không cho biết ai dâng con rùa trắng ấy.
2 Tiêu Sơn tức là làng Tiêu Sơn thuộc phủ Từ Sơn tĩnh Bắc Ninh. Tục truyền rằng Lý Công Uẩn không có cha, mẹ là bà Phạm Thị
Nhân đi lễ chùa Tiêu Sơn, nằm mộng thấy đi lại với một vị thần nhân rồi mang thai.
3 Thánh cung vạn phúc: Thân vua muôn phước.
4 Nguyên bản là xướng nhạc: lời vái chào. Một người đủ tư cách thay mặt cho đám đông đọc to lên một cách kính cẩn "Thân vua muôn phước" là trăm miệng đồng loạt hô to chúc theo.
5 Động Sa Ma nay là Mãi Đà thuộc tỉnh Hòa Bình.
6 Tống Anh Tông tên là Thự, cháu của Ung Vương là Nguyên Bân (con của Tống Thái Tông), ở ngôi 4 năm.


50 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Tháng 8, mở vườn Thượng Lâm.
Ngày Bính Thìn rồng vàng từ điện Đại Minh hiện ra ở điện Hội Nguyên, lại hiện ra ở hành cung Bố Hải.
Ngày Quý Vị vua đi hành cung Cứu Lan và gọi cung ấy là Cảnh Hưng, Hành Cung Diêu Đàm gọi là Ngoạn Xuân.
Mùa đông, tháng chạp rồng vàng hiện ra ở điện Diêu Linh, lại hiện ra gác Du Thiền, nơi mà bà
Nguyên Phi2 là _ Lan ở.
Chiêm Thành sang dâng một con tê ngưu trắng.
Năm Bính Ngọ (năm 1066- ND) là năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 8:
Mùa xuân, tháng 2 đổi niên hiệu là Long Chương Thiên Tự năm thứ nhất.
Tháng 3, rồng vàng hiện ra ở trong cung Thái Tử. (Thái Tử Càn Đức- ND).
Ngày Giáp Thân, Lại Viên ở Đô Tào là Đào Trì hiến dâng chim sẽ trắng.
Tháng 9 bỏ thuế cao.
Ngày Giáp Tý vua sai Lang tướng Quách Mãn xây tháp ở núi Tiên Du.
Mùa đông, tháng 11 vua đi hành cung khải Thụy xem gặt lúa.
Con trai của công chúa Bình Dương là Thân Đạo Nguyên cưới công chúa Thiên Thành.
Năm Đinh Vị (năm 1067- ND) là năm Long Chương Thiên Tự thứ 2:
Dùng Viên ngoại lang là Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thể Tư làm Đô Hoạch Sĩ sư.
Thư gia 10 người làm Án ngục lại.
Cho Trọng Hòa và Thể Tư lương bổng hàng tháng, tiền mỗi người 50 quan, lúa mỗi người 200 bó và cá muối v.v... Thư gia mỗi người 20 quan tiền, lúa 100 bó để làm ngưng cái lòng tham vọng đút lót.
Mùa hạ, tháng 6 ngày Tân Hợi rồng vàng hiện ra ở hành cung Ly Nhân3.
Ngày Tân Mão vua đi Lý Nhân xem gặt lúa và xem đua thuyền.
Năm Mậu Thân (năm 1069- ND) là năm Thiên Hướng Bảo Tự thứ nhất:
Mùa xuân, tháng giêng châu Chân Đăng dâng voi tr91ng hai con. Lạng Châu dâng voi trắng một con.
Rồng vàng hiện ra ở điện Diệu Linh.
Tháng 2, huyện Đô Lạp hiến voi trắng và chim sẻ trắng.
rồng vàng hiện ra ở hành cung Khải Thụy.
Mùa hạ, tháng 5 ở điện Hội Tiên.
Sửa sang chiến hạm (tàu chiến).
Mùa thu, tháng 8 thuyền vua không có nguyên do, tự nhiên di động dời chổ đậu ba thước.
Tháng 9, rồng vàng hiện ra ở trong thuyền Vĩnh Xuân và thuyền Thanh Lan.
Tống Thần Tông1 phong cho vua làm Nam Bình Vương gia phong Khai phủ Nghị Đồng tam ty.
1 Mang Quán nay thuộc Sơn La.
2 Nguyên Phi: vợ đứng đầu hàng phi (vợ lẻ của vua) ở dưới bậc hoàng hậu là vợ lớn của vua.
3 Ly Nhân: thuộc Nam Hà ngày nay.


51 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Sai sứ sang cống.
Năm Kỷ Dậu (năm 1069- ND) là năm Thần Võ thứ nhất:
Mùa xuân, tháng 2, ngày Mậu Tuất vua xuống chiếu thân chinh đến nước Chiêm Thành.
Ngày Đinh vị vua thề ở nơi Long Trì.
Ngày Canh Dần đưa xe đi. (Đúng là ngày Giáp Dần- ND).
Ngày Đinh Tỵ đến châu Nghệ An. Rồng vàng hiện ra ở trong thuyền Kim Phượng.
Ngày Canh Thân dừng quân ở cửa biển núi Nam Giới2. Rồng vàng lại hiện ra ở trong thuyền Kim Phượng.
Ngày Ất Sửu sai bọn Hoàng Tiệp trong hàng Đại Liêu Ban3 đánh cửa biển Nhật Lệ4 thắng lợi.
Ngày Kỷ Tỵ qua Đại Trường Sa5 Ngày Canh Ngọ dừng quân ở cửa biển Tư Dung6.
Tháng 3, ngày Quý Dậu, ban đêm rồng vàng hiện ra ở nơi thuyền Cảnh Thắng.
Ngày Bính Tý đóng quân ở Thị Lợi Bì Nại7, có cái hiện tượng là hai con chim đều bay theo thuyền vua như thể dẫn đường vậy. Đại quân tiến lên trước đóng ở bờ sông Tu Mao8 thấy tướng Chiêm Thành là Bố Bì Dà La đang bày trận ở bờ sông. Quan quân (nhà vua- ND) xông ra đánh, chém Bố Bì Dà La, quân
Chiêm chết vô số. Chúa Chiêm Thành là Đệ Củ9 nghe quân bị thua bèn dắt vợ con ban đêm lẫn trốn.
Đêm ấy, quan (nhà vua- ND) kéo rốc vào thành Phật Thệ10, đến bến Đồng La, dân ở thành Phật Thệ xin hàng.
Mùa hạ, tháng 4 Nguyên Soái Nguyễn Thường Kiệt11 bắt được Đệ Củ ở biên giới Chân Lạp.
Mùa hạ, tháng 5 vua ngự tiệc cùng quần thần ở ngôi điện của vua Chiêm Thành, vua lại thân hành múa thuẫn và đánh cầu ở nơi thềm điện ấy, Vua sai đếm hất cả nhà của dân ở trong và ngoài thành Phật Thệ, gồm có hơn 2660 căn đều thêu rụi cả. Tháng ấy rút quân về12.
Ngày Quý Tỵ, dừng quân ở cửa biển Tư Minh, đêm đó rồng vàng hiện ra ở nơi thuyền vua.
Tháng 6, ngày Kỷ Tỵ1 qua biển, rồng vàng hiện ra ở biển Kim Phượng.
1 Tống Thần Tông: tên là Tỏa, con của Anh Tông, ở ngôi được 18 năm.
2 Nam Giới là tên một ngọn núi ở cửa Sót, Hà Tĩnh, ở núi ấy có cửa biển, tên chữ là Nam Giới hải khẩu, tên Nôm là cửa Sót. (Theo
ông Nguyễn Khắc Thuần).
3 Đại Liêu Ban: theo nghĩa chữ Đại Liêu là quan chức to, nhưng Đại Liêu Ban ở đây cũng như Nội Thượng Chếlại là phẩm tước: "Việt
sử tiêu án" của Ngô Thời Sĩ chép: Lê Bá Ngọc làm Thái phó thăng tước Đại Liêu Ban, Mâu Du Đô làm giám nghị thăng tước Nội Thượng Chế v.v...
4 Nhật Lệ: ở làng Đồng Hới, huyện Phong Lộc, Quảng Bình.
5 Đại Trường Sa: nằm ở cửa Tùng Quảng Trị.
6 Tư Dung: tức Tư Hiền, Tư Khách thuộc Thừa Thiên xem chú thích số (304).
7 Cửa Thị Lợi Bì Nại, gọi tắt là cửa Thị Nại tức là cửa Qui Nhơn ngày nay, tên Chăm cửa này là Cribonie.
8 Sông Tu Mao: là sông Tam Huyện (hay Tân An) ở Bình Định.
9 Đệ Củ: các bộ sử đều chép là Chí Củ. Chúng tôi nghĩ, soạn giả hẳn đã phiên âm tên vua Chiêm Thành này là Chí Củ (Chỉ: cái nệm lót giường), và vì chữ Chí với chữ Đệ gần giống nhau, nên về sau người chép lại sách đã chép nhầm (?). Đệ Củ tức là Chí Củ:
(Rudravarman).
10 Phật Thệ: quốc đô Chiêm Thành. (Vjiaya) ở làng Nguyệt Bậu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
11 Nguyên là họ Lý, Lý Thường Kiệt.
12 Có sách chép là 2560 căn nhà.


52 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Ngày Mậu Thân qua cửa biển Bố Chánh, núi có nhiều đá lớn nhỏ lởm chởm (ngầm dưới nước- ND) thuyền vua húc vào đá mà vỡ ra.
Ngày Tân Dậu, vua từ Chiêm Thành về, dừng quân ở Triều Tân2 xuống chiếu cho quan Hữu ty túc quân tên là Dung thiết bày nhiều ở trên bảo xa (xe quí) của vua để cho có cái nghi vệ. Quần thần đều cỡi ngựa dẫn vua Chiêm Thành là Đệ Củ. Đệ Củ đội mũ xương gai, mặc áo vải thô trắng, có dùng vải lụa thắt ngang lưng. Nhà vua hạ lệnh cho năm viên chức trong hàng Võ đô trói bọn đảng thuộc (Chiêm Thành- ND) để dẫn đi.
Mùa thu, tháng 7 tại nhà Thái Miếu3 dâng trình việc thắng trận.
Ngày Bính Thìn rồng vàng hiện ra ở nơi bảo xa.
Mùa đông, tháng 11, ngày Đinh Sửu có tia sáng đỏ quanh khắp mặt trời tia ra như lông chim.
Chân Lạp sang cống.
Năm Canh Tuất (năm 1070- ND) là năm Thần Vũ thứ 2:
Mùa hạ, tháng 3 dựng điện Tử Thần.
Tháng 5, rồng vàng hiện ra ở điện Long Quang thuộc cung Trường Xuân.
Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Mão rồng vàng hiện ra ở cung Vị Nhân.
Tháng 9, xây chùa Đông Nam Nhị Thiên Vương.
Năm Tân Hợi (năm 1070- ND) là năm Thần Vũ thứ 3:
Vua viết chữ "Phật" dài sáu trượng4.
Từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa.
Định ra phép, người mắc tội trượng hình5 cho dùng tiền để chuộc tội.
Mùa đông, tháng chạp vua không được khỏe. Vua hạ chiếu rằng, quan Hữu ty mà đi nhầm vào nhà của chức quan Đô tả hay Đô hữu sẽ bị phạt 18 trượng.
Năm Nhâm Tý (năm 1072- ND) là năm Thần Vũ thứ 4:
Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Dần vua bệnh nặng rồi qua đời ở điện Hội Tiên, thọ 50 tuổi. Miếu hiệu là Thánh Tông, ở ngôi 19 năm, đổi niên hiệu năm lần, an táng tại Thọ Lăng thuộc phủ Thiên Đức.
Vua Nhân Tông
Vua Nhân Tông tên húy là Càn Đức, mẹ là Nguyên phi _ Lan họ Lê6.
1 Nguyên bản chép nhầm (?) ở trên là ngày Quý Tỵ thì đây là ngày Kỷ Hợi mới đúng. Kỷ Hợi là ngày 25- 6.
Ngày Mậu Thân là ngày 4- 7.
Ngày Tân Dậu là ngày 17- 7.
2 Bến Triều Đông ở sông Nhị (Hà Nội), đây chép là Triều Tân (?) e không đúng.
3 Thái Miếu: Miếu thờ tổ tiên nhà vua.
4 Các bộ sử khác chép là dài 1 trượng 66 thước. Dài 6 trượng e không đúng vì quá lớn.
5 Trượng hình: hình phạt bị đánh bằng gậy.
6 Theo bộ "Ngự chế Việt sử tổng vịnh" của Dực Tông Anh Hoàng Đế, tập thượng, quyển I thì vua Lý Thánh Tông năm 40 tuổi thì chưa có con trai vua bèn đến chùa cầu tự. Ngự giá đi tới đâu, dân làng cũng đều dàn hầu bên đường để chiêm vọng. Lúc qua


53 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Vua được sanh tại cung Động Tiên vào tháng giêng năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất (tức năm Bính Ngọ- 1066- ND).
Ngay hôm sanh ra, ngài được lập làm Thái tử.
Ngài là người có xương trán nổi lên như mắt trời, ấy là dáng mặt của bậc Thiên Tử1 và tay thì
buông dài quá đầu gối2.
Ngài rất giỏi về âm luật, những ca khúc mà nhạc công tập đều do vua trước tác ra.
Đến năm Thần Vũ thứ 4 (năm Nhâm Tý- 1072- ND):
Mùa xuân, tháng giêng ngài lên ngôi. Trước linh cửu vua Thánh Tông, vua tôn mẹ là Nguyên Phi_ Lan làm Thái phi.
Quần thần dâng tôn hiệu là: "Hiển thiên thể đạo thánh văn thần võ sùng nhân ý nghĩa thuần
thánh hiếu minh hoàng đế ".
Để cho Thái hậu Thượng Dương3 cùng dự việc triều chính.
Mùa hạ, tháng 4, ngày mùng 8 làm lễ rước nước tắm (tượng) Phật. Vua ngự ở điện Thiên An để thị triều. Ngày ấy vua dùng quan trong hàng Đại Liêu Ban là Nguyễn Thường Kiệt4 làm Kiểm hiệu Thái làng Thổ Lôi (tức làng Siêu Loại, tỉnh Bắc Ninh), có người con gái đi hái dâu thấy xe nhà vua đi, cứ đứng tựa vào cây lan, chứ
không ra xem. Vua thấy, lấy làm lạ truyền gọi đem vào cung, phong là _ Lan phu nhân (phu nhân tựa cây lan). Sau sinh ra Thái tử Càn Đức, _ Lan được phong làm Nguyên Phi.
1 Nguyên bàn là "Nhật giác long nhan" có sách giải rằng "Ngạch thương chi cốt long khởi như nhật giả. Cổ dĩ vi Thiên tử chi tướng"
có nghĩa là xương ở trên trán nổi dầy lên như hình chữ nhật. Xưa, coi đó là tướng mạo của bậc Thiên tử. Giác là cái xương trán.
Long nhan là mặt rồng tức là mặt vua.
2 Tay dài quá gối là bậc hiền tài- theo sách tướng.
3 Thái hậu Thượng Dương: "Ngự chế Việt sử tổng vịnh" thếy chép theo sách Đường thử rằng: Cung Thượng Dương được xây cất
giữa niên hiệu Thượng Nguyên đời vua Đường Túc Tông. Vua Đường Cao Tông ở cung ấy, để dự thính triều chính. Do đó, triều nhà Lý lấy chữ "Thượng Dương" đặt tên cho cái cung của bà Thái hậu ở, Thái hậu ở trong, buông rèm kín cùng xử lý việc nước, vì Thái hậu ở cung ấy nên gọi là Thái hậu Thượng Dương.
4 Đại Liêu Ban: xem chú thích (343).
Tức là Lý Thường Kiệt: người phường Thái Hòa, thành Thăng Long, tài kiêm văn võ, là một danh tướng triều Lý, có công lớn trong việc giữ nước, mở nước là đánh Tống, bình Chiêm. Khi đánh nhau với quân Tống, ông có làm bài thơ để khuyến khích quân sĩ, lời
lẽ thật khảng khái:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà, nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tạm dịch:
Nước Nam sông núi vua Nam ở.
(Sông núi nước Nam, Nam đế ở).
Phận định nghìn xưa tại sách trời.
Như bọn giặc nào sang cướp lấn,
Là thua tan hết lũ bay coi.
Quân sĩ đọc bài thơ tin là cái lý tự nhiên phải như thế, nghĩa là sẽ thắng quân xâm lăng, bèn giốc toàn lực ra đánh.
Lý Thường Kiệt mất năm 70 tuổi, được phong Quốc Công.
Theo tôi phải dịch là: "Sông núi nước Nam, Nam đế ở". Hai chữ Nam đế sẽ làm mất nhạc điệu, nhưng đế khác với Vương. Lý Thường Kiệt muốn khẳng định, một cách hiên ngang rằng nước Nam có hoàng đế của nước Nam, nên mới viết là Nam Đế. Tiếng Việt, vua là từ chỉ cả đế lẩn Vương, nhưng tiếng Hán, đế trên Vương một bậc. (theo Nguyễn Kkhắc Thuần).
54 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
úy, Nguyễn Nhật Thành1 làm Binh bộ Thị Lang. Còn các cấp khác trở xuống, mỗi người một chức vị sai biệt nhau. Vua tha cho những người bị cầm tù ở Đô Hộ phủ.
Quan Lạng Châu Mục là Dương Cảnh Thông dâng con hươu trắng. Quần thần dâng biểu lên chúc mừng. Vua phong Dương Cảnh Thông làm Thái Bảo.
Chân Lạp sang cống.
Mùa thu, tháng 7 rồng vàng hiện ra ở điện Vĩnh Thọ.
An táng vua Thánh Tông.
Tiết Trung Nguyên2 quần thần dâng biểu lên chúc mừng.
Vua đến hành cung ở Diêu Đàm.
Bỏ thuế vải sợi trắng của Chiêm Thành.
Rước Phật ở Pháp Vân về Kinh Sư (kinh đô) để cầu tạnh mưa.
Tế núi Tản Viên.
Quan Cáp núi là Ngụy Trưng vì tuổi già nên từ chức quan về nghỉ, vua hạ chiếu ban cho cái ghế tựa và cây gậy.
Vua hạ chiếu tuyển chọn các bậc tăng sư có thơ (thi) dâng lên và bậc tăng quan biết chữ được xếp vào hàng Thư gia để bổ sung vào những chức quan bị thiếu.
Dời phường Phủng Nhật sang chợ Nam.
Vua ngự ở điện Thiên An, quần thần dâng lời chúc mừng và lập biểu xin dựng cửa Trường
Quảng, cửa Thái Bình, cửa Thượng Thủy Hà, đền Nghinh Thu và trạm Quí Nhân, tất cả gồm có năm chổ.
Lấy ngày sanh nhật của vua làm tiết Thọ Thiên.
Lập hoàng hậu hai người.
Năm Quý Sửu (năm 1073- ND) là năm thứ 2:
Tháng giêng vua đổi niên hiệu là Thái Minh năm thứ nhất, tôn Thái phi làm Thái Hậu Linh Nhân.
Thái hậu Linh Nhân có tính hay ghen ghét, thấy bà đích mẩu (tức bà Thái hậu họ Dương ở cung Thượng Dương- ND) được tham dự việc triều chính mới bảo vua rằng: "Mẹ già khó nhọc3 nuôi con để có
ngày nay, đến lúc phú quý thì người khác hưởng, ăn ở như thế thì đặt con mẹ già này vào chổ nào?" Nhà vua tuy nhỏ bé nhưng cũng có hiểu biết chút ít rằng, mình không phải là con của Thái hậu Thượng Dương, bèn đem Thái hậu Thượng Dương và 72 người thị nữ ở cung Thượng Dương rồi bức bách bắt đem chôn sống theo vua Thánh Tông.
Nước Chiêm Thành sang cống.
Mùa thu, tháng 7 rồng vàng hiện ở gác Du Thiềm.
Tháng 8, châu Phong dâng con hươu trắng.
1 Đúng là Lý Đạo Thành. Nhưng vì "Đại Việt sử lược" viết vào đời Trần nên như phần đầu của bộ sử đã tỏ rõ: họ Lý đổi họ Nguyễn.
Đến đây, vì húy chữ "Đạo" là tên của Trần Hưng Đạo đại vương mới đổi chữ Đạo ra chữ Nhật..
2 Trung Nguyên: Ngày rằm tháng 7 âm lịch. theo Phật giáo ngày rằm này là ngày lễ Vu Lan Bồn. Vu Lan: tiếng Phạn có nghĩa là cứu người đang bị treo ngược; Bồn: cái chậu. Lấy một cái chậu đựng 100 vị cúng phật để cứu chúng sanh đang bị cái khổ treo ngược,
tức là bị cái cảnh vô cùng khốn khổ. Xưa, mẹ Mục Kiều Liên vì thất đức, chết xuống địa ngục, thức ăn vào miệng thì hóa thành lửa
không sao ăn được. Phật mới dạy Mục Kiều Liên: "muốn cứu độ nạn ấy thì đến ngày rằm tháng 7 mời thầy lập hội Vu Lan Bồn vừa tụng kinh vửa bố thí mới có thể ăn được". Hội Vu Lan Bồn bắt đầu từ đó.
3 Nguyên bản là: "Lão mẫu cù lao": "Cái công khó nhọc của mẹ già. Cù Lao tức là Cửu tự cù lao nghĩa là chín chữ cao sâu trong Kinh thi (thơ lục nga) chín chữ ấy là: sanh (đẻ), cúc (cho bú), phủ (ẳm), súc (cho ăn), trưởng (mong cho mau lớn), dục (nuôi), cố (trông nom), phục (săn sóc), phúc (nâng niu).


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn