Thứ ba, 22/09/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay924
mod_vvisit_counterHôm trước1351
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đại Việt Sử Lược - Quyển II E-mail
29/07/2020

    Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c ( Phần 5)

55 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Vua Tống Thần Tông phong vua làm Quận Vương.
Năm Giáp Dần (năm 1074) là năm thứ 21.
Viên Hỏa Đầu ở Củng Thánh đô là Giang Duệ, nhà của y bị thất hoả lan qua thiêu hủy cửa Đại
Hưng.
Mùa hạ, tháng 4 sửa sang lại cửa Đại Hưng. Rồng vàng xuất hiện.
Chim sẻ trắng đổ ở cấm đình.
Mùa thu, tháng 9 rồng vàng hiện ra.
Vương An Thạch2 nhà Tống cầm quyền chính đem lời tâu với vua Tống, rằng là, nước ta đã bị Chiêm Thành khuấy phá, ngoài ra, dân đông không đầy vạn người, nên có thể theo cái kế trong một ngày là lấy được. Do đó, vua Tống dùng Thấm Khởi và Lưu Di làm Tri châu Quế châu. Thấm Khởi và Lưu Di bèn tụ tập dân đinh trong các khe động tại địa phương làm bảo giáp3, lại cho đóng thuyền bè ở bờ biển, giảng dạy về phép đánh dưới nước. Và cấm dân ở các châu huyện không được cùng với dân ta đi lại buôn bán.
Nhà vua biết vậy, bèn trước tiên cho xuất phát các đạo binh gồm 10 vạn người, chia làm hai đạo như sau: Sai Nguyễn Thường Kiệt lãnh đạo thủy quân xuất phát từ Vĩnh Yên tiến đến Châu Khâm, châu Liêm (hai châu đều thuộc tỉnh Quảng Đông- ND). Tôn Đản lãnh đạo lục quân xuất phát từ Vĩnh Bình tiến đánh Châu Ung (tức là thành Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây- ND). Quân ta tiến tới đâu cũng như vào chổ không người. Nguyễn Thường Kiệt đánh ép hai châu Khâm, Liêm rồi lại cùng với Tôn Đản hợp binh bao vây châu Ung. Quan Giám thủ Quảng Tây của nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem binh đi tiếp cứu.
Binh của Trương Thủ Tiết kéo đến cửa ải Côn Lôn thì bị Thường Kiệt đón đánh phải thua to, Thủ Tiết bị giết chết. Quan Tri châu là Tô Giam dựa vào thành trì kiên cố để chống giữ. Quân ta bắc thang mây để leo thành. Quân Tống dùng đuốc mà đốt nên không thể bắc gần được. Ta lại dùng tên độc mà bắn, người ngựa trên thành chết nằm gối lên nhau. Quân Tống dùng thần tý (một loại nỏ) ra bắn. Voi và quân sĩ của ta có nhiều người bị chết. Thành cao và cứng, đánh phá hơn 40 ngày không hạ được. Quan quân ta bắt dân Tống, sai lấy túi đất đắp vào chân thành để leo lên. Thường Kiệt theo đó mà lên đánh, thành bị hãm hại. Tô Giam chạy về nhà ở trong châu, trước hết giết hết người nhà của ông gồm 36 người, sau
1 Ở đây không thấy chép niên hiệu, nhưng đó là năm thứ 2 niên hiệu Thái Ninh- Theo sách này.
2 Vương An Thạch (1021- 1086) tự là Giới Phủ, hiệu Bán Sơn, rất có tài về chính trị, có óc canh tân, có nhiều tư tưởng mới lạ. Ông
làm tể tướng đời vua Tống Thần Tông, đặt ra tân pháp:
-Về tài chánh:
1. Phép thanh miêu: Lúc lúa còn xanh triều đình cho dân vay tiền với phân lãi nhất định nào đó, khi đã gặt lúa thì phải trả.
2. Phép miễn dịch: Cho những người dân đinh mà ai phải sưu dịch thì được nộp tiền để nhà nước lấy tiền ấy thuê người làm.
3. Phép thị dịch: Hàng hóa trong dân bị ứ đọng, nhà nước thu cả lại để tìm cách tiêu thụ. Cho con buôn vây tiền trả lãi.
- Về binh chánh:
1. Bảo giáp: Lấy dân làm lính. Cứ 10 nhà làm một bảo, 500 nhà làm một đô bảo. Mỗi bảo có hai người chánh phó chuyên
dạy dân võ nghệ.
2. Phép bảo mã: Mỗi bảo phải nuôi ngựa của nhà nước. Ngựa bị chết phải đền tiền v.v...
Chính sách của ông chỉ gây thêm nhiều rối loạn trong nước vì nó táo bạo quá, bị các ông Âu Dương Tu, Tô Thức phản đối kịch liệt, còn dân chúng không ai hiểu nên phải bãi bỏ.
3 Xem phép bảo giáp ở trên, số (367).


56 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
phóng mình vào trong lửa để tự thiêu1. Quân sĩ ta tìm Tô Giam không được bèn giết hết quan dân trong thành hơn 5 vạn người.
Chiến dịch đó giết hại dân ở ba châu Ung, Khâm và Liêm đến 10 vạn.
Năm Ất Mão (năm 1075- ND) là năm Thái Ninh thứ 3:
Mùa xuân, tháng giêng tâu trình về việc thắng trận.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Bính Thìn (năm 1076- ND) là năm Thái Ninh thứ 4:
Mùa xuân, tháng 3 vua xem đập ngăn nước, rồng vàng hiện ở trong thuyền vua.
Con rùa xanh trên lưng có dấu đồ hình hiện lên (xem chú thích 378- ND).
Mùa thu, tháng 7 nhà Tống sai quan Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quì và Triệu Cao2 làm Chiêu thảo sứ tập hợp chín vị tướng quân kéo binh sang đánh nước ta. Nhà vua sai Nguyễn Thường Kiệt lãnh đạo thủy quân chống cự lại. Hai vị quan hầu tước là Chiêu Văn và Hoằng Chân đều bị chết chìm ở sông Như Nguyệt3. Quân hai bên cầm cự với nhau hơn một tháng, Thường Kiệt biết sức quân Tống đã mệt mỏi, nên ban đêm qua sông đánh lén một trận, phá hại dữ dội, lính nhà Tống chết đến 50 %; 60 %4 bèn rút lui về giữ châu Quảng Nguyên.
Mùa đông, tháng 10 đổi niên hiệu là Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ nhất.
Tháng chạp cho quan Nội cấp sự là Lê Văn Thịnh làm Binh Bộ Thị Lang.
Năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 2; (năm Đinh Tỵ 1077):
Mùa hạ, tháng 5 cho thiết bày ra hội Nhân Vương ở điện Thiên An. (Hội nhà chùa, hội lễ Phật-
ND).
Mùa thu, tháng 9 đắp đê ở sông Như Nguyệt, dài 67.380 bộ.
Mùa đông, tháng 10 vua đi Phù Nhân5 xem gặt lúa, rồi lại viếng cửa biển Long Thủy. Rồng hiện ra ở thuyền vua.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Mậu Ngọ (năm 1078- ND) là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 3:
Tháng giêng nhuần sửa lại thành Đại La.
Tháng 2, ngày mồng một hạ chiếu bãi bỏ lễ tiệc mùa thu.
Sai Viên ngoại lang là Đào Tông Nguyên lãnh việc đem voi ngựa năm con sang tặng nhà Tống và xin nhà Tống trả lại các châu: Quảng Nguyên, Tô Châu và Mậu Châu. Nhà Tống đòi trả lại số dân binh ba châu đã bị ta bắt lấy6.
1 Một bậc trung dũng khả kính, thật chẳng khác gì một Thủ Khoa Huân, một Hoàng Diệu... cuả nước ta vào triều Nguyễn gần đây:
"Sinh tử vô nhị chí, Trượng phu há trắng tay!".
2 Nhiều sách chép là Triệu Tiết phải chăng chữ "Tiết" hơi giống chữ Cao nên có sự chép nhầm ở đây?
3 Sông Như Nguyệt ở làng Như Nguyệt thuộc Bắc Ninh, tức là sông Cầu bây giờ.
4 Nguyên bản là "Tống binh tử giả thập ngũ lục", tức là "thập nhị lục" nghĩa là 5/10 hay 6/10 thì cũng như 50 %; 60 %.
5 Có lẽ là Lỵ Nhân mà nguyên bản sách này chép nhầm chăng (?)
6 Sau đó người Tống biết châu Quảng Nguyên còn nhiều vàng mới hối tiếc, làm hai câu thơ:
Nhân tham Giao Chỉ tượng Khước thất Quảng Nguyên kim.
Nghĩa là:


57 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Nước lụt vào trong thành.
Năm Kỷ Vị (Mùi) (năm 1079- ND) là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 4:
Lạng Châu dâng con voi trắng.
Mưa đá.
Tháng 5 được mùa to.
Công chúa Thiên Thành dâng con rùa có sáu con ngươi, ba chân.
Mùa đông, tháng 10 rồng vàng từ vườn Thượng Xuân hiện ra ở trong cung của vườn ấy.
Năm Canh Thân (năm 1080- ND) là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 5:
Mùa xuân, tháng 3 vua đi Cùng Giang1 để xem đánh cá.
Mùa hạ, tháng 4 ngày Kỷ Hợi rủa thần hiện, lưng rùa có dấu bức đồ.
Tháng 5, người Trung Hoa là Lâm Quỳnh dâng cỏ chi tía.
Mùa thu, tháng 8 sương (móc) ngọt rơi xuống.
Vua ngự ở điện Linh Quang xem đua thuyền.
Tháng nhuần bày ra lễ tiệc mùa thu.
Nhà vua đi Phù Nhân xem gặt lúa.
N9m Tân Dậu (năm 1081- ND) là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 6:
Mùa đông, tháng 11 mặt trời có hai luồng ánh sáng.
Chiêm Thành sang cống.
Nhà vua trả lại dân đinh ba châu cho nhà Tống.
Nhà Tống cũng đem các châu Quảng Nguyên trả lại cho ta.
Sai Viên ngoại lang là Lương Dụng Luật sang Tống xin Đại Tạng Kinh.
Năm Nhâm Tuất (năm 1082) là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 7:
Mùa xuân, tháng 2 gả công chúa Khâm Thánh xuống cho quan Châu mục Vị Long là Hà Di
Khánh.
Mùa đông, tháng chạp quan Chi hậu hoằng là Nguyễn Ba Tư mưu làm phản phải chịu tội chết.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Quí Hợi (năm 1083) là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 8:
Mùa xuân, tháng 2 vua ngự ở điện Thiên Khánh xét định số Hoàng nam ở kinh thành làm ba
hạng.
Tháng 3 chọn gái đẹp cho làm cung nữ ở cung Vạn Diên.
Mùa hạ, tháng 5 rồng vàng từ điện Tử Thần2 bay đi rồi hiện ra ở điện Hội Tiên.
Vì tham voi Giao Chỉ mà mất vàng Quảng Nguyên.
1 Cùng Giang: có lẽ là sông Chính Đại (Thanh Hóa).
2 Tử Thần: Tử là màu đỏ tía. Thần là cái nhà sâu kín, ngày xưa gọi nhà của vua, vua ở là Thần. Đời nhà Hán, trong cung điện vua hay trồng cây phong, cứ đến tiết có sương thì lá nó trở nên đỏ nên gọi chổ cung vua ở ấy là Tử Thần.


58 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Tháng 5 dựng cung Động Nhân.
Tháng 6 xe nhà vua bị cháy.
Mùa thu, tháng 9 động Sa Ma làm phản, mùa đông tháng 10 đánh dẹp yên được.
Xem đua thuyền.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Giáp Tý (năm 1084) là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 9:
Mùa hạ, tháng 6 sai Binh bộ Lang Trung1 là Lê Văn Thịnh sang trại ở Vĩnh Bình để bàn nghị về việc cương giới. Nhà Tống cho Lê Văn Thịnh làm Long đồ các đãi chế.
Mùa đông, tháng 11 hạ chiếu cho trong nước làm nhà ngói.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Ất Sửu là năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 10:
Mùa xuân, tháng 2, ngày Đinh Hợi đổi niên hiệu là Quảng Hựu năm thứ nhất.
Mùa thu, tháng 8 dùng Lê Văn Thịnh làm Thái sư.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Bính Dần (năm 1086- ND) là năm Quảng Hựu thứ 2:
Mùa xuân, tháng giêng Nguyễn Viễn dâng con rùa có sáu con ngươi, ngực rùa có hình Hà đồ Lạc
Thư2
Tháng 2, chân lạp sang cống, có hai người Bà La3 cùng đi.
Mùa đông, tháng 11 dựng chùa Đại Lãm Sơn.
Đua thuyền.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Đinh Mão (năm 1087- ND) là năm Quảng Hựu thứ 3:
Mùa hạ, tháng 5 khởi sự xây Bí thư các.
Mùa đông, tháng 10 nhà vua đi Lãm Sơn, ban đêm ngự tiệc cùng quần thần ở trên núi, vua làm thơ "Lãm sơn dạ yến" hai bài, còn lưu lại đầu bài.
1 Ở phần trên cho biết năm Bính Thìn (1076) tháng chạp Lê Văn Thịnh được phong là Binh bộ Thị Lang, ở đây thì chép là Binh bộ Lang Trung (?).
2 Đến đây ta xét thấy nhà Lý, triều vua nào cũng tin tưởng vào các điềm lành như là một "bệnh nghiện". Rồi thì từ "bệnh nghiện" này mới tưởng tượng thêm ra...
Và Hà Đồ, Lạc thư nơi ngực con rùa đã chép trong sử.
+Hà đồ: Theo truyền thuyết đời Phục Hi, có con Long mã một loại ngựa thần, hình thù như con rồng, hiện ra ở trên sông Hoàng Hà, đội một bản đồ. Bản đồ đó là sách mệnh trời ban cho Phục Hi để trị thiên hạ.
+ Lạc thư: Sau đó cả nghìn năm, tại sông lạc- một nhánh của sông Hoàng Hà, trong khi vua Vũ trị thủy thì thấy một con rùa thần hiện ra, trên lưng có những nét đếm từ 1 đến 9 (Rùa do trời sai xuống- thị thiên chi sở giáng dã) Thánh nhân phỏng theo đó. (Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi).
Theo Du Diễm đời Tống thì cả Hà đồ và Lạc thư cũng xuất hiện vào thời Phục Hi và Phục Hi đã phỏng theo đó mà vạch ra bát quái.
Nhưng theo Âu Dương Tu, đời Bắc Tống, với tập "Dịch Đồng Tử Vấn" thì là mâu thuẫn.
Duy về "Hậu thiên bát quái" thì vua Vũ nhà Hạ đã dựa vào những nét trên lưng rùa để vạch ra bát quái và đặt ra Cửu trùng hồng phạm, tức chín loại về qui phạm lớn của trời đất, tức là chín phương pháp cai trị thiên hạ.
3 Người Bà La: phải chăng là người trong bốn chủng tộc ở Ấn Độ, có giai cấp cao nhất trong quốc dân và theo giáo pháo Bà La Môn?


59 Đại Việt Sử Lược - Quyển II

Tống Triết Tông1 gia phong vua làm Đồng Bình Chương Sự.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Mậu Thìn (năm 1088- ND) là năm Quảng Hựu thứ 4:
Mùa thu, tháng 9, ngày Mậu Thân đặt mười Hoa thư gia.
Mùa đông, tháng 10 xây tháp ở Lãm Sơn.
Tháng chạp cung Cảnh Linh xây cất đã hoàn thành.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Kỷ Tỵ (năm 1089- ND) là năm Quảng Hựu thứ 5:
Làm con đường Lĩnh Dâm. Binh Tống kéo vào châu Thạch Tê2.
Năm Canh Ngọ (năm 1090) là năm Quảng Hựu thứ 6:
Tháng 2 cung Hợp Hoan hoàn thành.
Vua Triết Tông nhà Tống phong cho vua làm Nam Bình Vương. Nhà vua sai sứ sang Tống.
Năm Tân Tỵ (Mùi) (năm 1091) là năm Quảng Hựu thứ 7:
Mùa xuân, tháng 2 nhà vua đi Lạng Châu xem bắt voi, được viên quan là Lê Toàn Nghĩa dâng
con rùa năm sắc. Lê Văn Tịnh dâng voi trắng một con.
Chiêm Thành sang cống.
Đua thuyền.
Năm Nhâm Thân (năm 1092- ND) là năm Quảng Hựu thứ 8:
Mùa hạ, tháng 5 dựng hành cung Khải Thụy.
Được mùa to.
Tháng chạp đổi niên hiệu là Hội Phong năm thứ nhất.
Năm Quí Dậu (năm 1093- ND) là năm Hội Phong thứ 3:
Mùa thu, tháng 9 chùa ở Lãm Sơn xây cất hoàn thành, đặt tên chùa là Cảnh Long Đồng Khánh.
Vua viết kiểu chữ triện trên bức hoành phi.
Chiêm Thành sang cống.
Sai quan viên ngoại lang là Nguyễn Lợi Dung sang Tống.
Năm Ất Hợi (năm 1090- ND) là năm Hội Phong thứ 4:
Mùa hạ, tháng 5 xuống chiếu cho con các quan hầu vào chầu.
Tháng 6 Hoàng hậu Thánh Cực qua đời.
Chân Lạp và Chiêm Thành sang cống.
Năm Bính Tý (năm 1096- ND) là năm Hội Phong thứ 5:
Mùa đông, tháng 11 nhà vua xem đánh cá ở Diêu Đàm. Lúc bây giờ nhà vua ngự trong một chiếc thuyền nhỏ, thị vệ theo hầu rất ít. Thái sư Lê Văn Thịnh vốn có mưu gian, nhân cái cơ hội ấy mới dùng ảo thuật làm khói sương nổi thoắt lên bao phủ cả hồ, ban ngày mà tối tăm mù mịt. Một lát, nhà vua
1 Triết Tông nhà Tống, tên Hú, con của Thần Tông, ở ngôi 15 năm (1086- 1100).
2 Thạch Tê: ở Cao Bằng ngày nay.
60 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
nghe tiếng mái chèo sắp đến gần, vua có ý sợ xảy ra tai biến mới lấy cái mác1 phóng ra. Khói sương theo cái mác mà tan biến đi thì thấy thuyền của Lê Văn Thịnh đã đến gần, với đồ hung khí. Vua sai người bắt giữ Lê Văn Thịnh lại rồi hạ chiếu đem an trí ở miệt trên Thao Giang (huyện Tam Nông, Phú Thọ- ND).
Trước kia trong nhà Lê Văn Thịnh có tên đầy tớ, người Đại Lý, giỏi làm ảo thuật, Lê Văn Thịnh
học được phép của nó. Và, đến đây thì làm phản.
Năm Đinh Sửu (năm 1097- ND) là năm Hội Phong thứ 6:
Mùa thu, tháng 8 ban ngày sao hiện ra.
Tha cho các người bị tù ở Đô Hộ Phủ.
Mùa đông, tháng chạp cấm trăm họ làm nhà ngói và đóng thuyền lớn.
Chiêm Thành sang cống.
Đua thuyền.
Năm Mậu Dần (năm 1098- ND) là năm Hội Phong thứ 7:
Mùa thu, tháng 8 động đất.
Sao chổi xuất hiện.
Làm núi Ngao Sơn trên đất liền2 (Ngao Sơn có hình con ba ba).
Bày cuộc lễ đua thuyền.
Tháng 9, xây điện Sùng Uyên ở ao Phượng Liên. Bên tả dựng điện Huy Dương, đình Lai Phượng.
Bên hữu lập điện Ánh Thiềm, đình Ất Vân. Phía trước dựng lầu Trường Minh. Phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa.
Sai Viên Ngoại3 là Nguyễn Văn Tín sang nhà Tống xin kinh Tam Tạng.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Kỷ Mão (năm 1099- ND) là năm Hội Phong thứ 8:
Đô Phủng Nhật dâng con rùa có sáu con ngươi.
Mùa thu, tháng 9 xây cất chùa ở An Lão Sơn4.
Mùa đông, tháng 10 cấm phụ nữ ở kinh thành bắt chước trang sức như cung nữ.
Chiêm Thành sang cống5.
Năm Canh Thìn (năm 1100- ND) là năm Hội Phong thứ 9:
Mùa hạ, tháng 4, xây chùa Vĩnh Phúa ở núi Tiên Du.
Mùa thu, tháng 7 dùng Kiểu Văn Tư làm chức Thượng Lâm quốc Sĩ Sư.
Tháng chạp có nạn dịch lớn.
Năm Tân Tỵ (năm 1101- ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa6 thứ nhất:
1 Một thứ binh khí đời xưa, lưỡi sắc, dài mà cong, cán dài.
2 Nguyên bản là không có chữ điện, chữ tự. Hay là chùa (điện) Ngao Sơn mà ở đây chép sót chăng?
3 Một chức quan thuộc ngạch ngoại ở các bộ. Xưa, một gia chủ giàu có cũng gọi là Viên ngoại.
4 Núi An Lão nay thuộc Nam Hà.
5 Tiến cống những gì sau không chép?
6 Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là niên hiệu Long Phù, chứ không phải là Long Phù Nguyên Hóa.
61 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Mùa xuân, tháng giêng đổi niên hiệu.
Tháng 2, vua xem đánh cá ở sông Cùng Giang, rồi đi xem cày bừa ở Ứng Phong. (Nay thuộc
Nam Hà- ND).
Mùa hạ, tháng 6 vua đi Phù Nhân xem cày ruộng.
Mùa thu, tháng 7 cho trăm quan "áo mùa thu" và cho thiết bày lễ yến ẩm.
Dựng nhà Khai Nguyên1.
Tháng 9, nhà vua xem đánh cá ở sông Cùng Giang, rồng vàng hiện ra ở thuyền Tường Long.
Mùa đông, tháng 11 mây năm sắc2 hiện ra. Nhà vua ngự ở làng Thượng Sách3 xem bắt voi.
Tháng chạp đổi châu Hoan làm phủ Nghệ An4. Xây chùa Diên Hựu.
Năm Nhâm Ngọ (năm 1102- ND) là năm Long Phù Nguyên hóa thứ 2:
Mùa xuân, tháng 2 vua đi hành cung Ứng Phong xem cày bừa. (nay thuộc Nam Hà- ND).
Mùa đông, tháng chạp, tiết lập xuân có tuyết lành5 sa xuống.
Xây cất nhà chùa ba ngôi là: Khai Nguyên, Thái Dương và Bắc Đế.
Đóng xe Thụy Vân.
Lụt lội.
Chiêm Thành sang cống.
Sai viên ngoại là Đỗ Anh Hậu đi sứ sang Tống.
Năm Quý Tỵ (năm 1103- ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 3:
Mùa xuân, tháng giêng nhà vua hạ chiếu cho dân ở trong và ngoài kinh thành đều phải đắp đê
giữ nước.
Tháng 2, Thái hậu xuất tiền trong kho để chuộc lại số con gái nhà nghèo bị cầm thế, đem về gả cho những người góa vợ6
Mùa thu, tháng 8 đặt ra Long Tường Đô.
Mùa đông, tháng 10, có con hươu màu đen huyền đến.
Tổ chức cuộc đua thuyền.
Năm Giáp Thân (năm 1104- ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 4:
1 Nhà ở đây dịch chữ quán. Quán là ngôi nhà cao được xây trong cung vua, trong vườn hoa để ở xem cảnh vật. Quán cũng là cái nhà của đão sĩ, tu sĩ ở. Quán: còn được gọi là cái nhà chùa.
2 Mây năm sắc hiện là có điềm lành.
3 Sách là làng có rào giậu chung quanh. Chúng ta nói làng Tượng mà nói làng Tượng Sách cũng không phải là thừa chữ làng. Vì người ta cũng nói sông Hương Giang, núi Thái Sơn, v.v...
4 Việc đổi châu Hoan thành châu Nghệ An là từ năm 1036. Đến đây đổi châu Nghệ An thành phủ Nghệ An (đổi châu ra phủ. Phủ có đơn vị hành chánh lớn hơn). Đây chép châu Hoan là nhầm.
5 Nguyên bản là "Thụy tuyết giáng" Thụy là lành là tốt, như nói thụy vũ là mưa lành, là mưa phải lúc, phải thời. Thụy tuyết giáng là tuyết không rơi tầm tả làm tàn hại cảnh vật mà rơi ít đủ làm ôn hòa, cỏ hoa dể đâm chồi nẩy lộc.
6 Linh Nhân Hoàng Thái hậu nhớ đến việc đã xúi giục bức tử Dương Thái Hậu ở cung Thượng Dương cùng 72 người thị nữ khi trước mà hối hận. Để sám hối về việc đã lỡ lầm đó, Linh Nhân Hoàng Thái Hậu lập nhiều chùa chiền thờ Phật và việc chuộc bần gia nữ
này.
62 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Mùa xuân, tháng 3 duyệt lại quân lính trong hàng Tả và Hữu Hưng Nam Dũng Tiệp, cho làm đô Ngọc giai, binh Ngự Long làm đô Hưng Thánh Quảng Võ. Còn trăm họ trong dân làm binh Võ Thắng. Đổi
Điền Nhi làm binh Thiết Lâm.
Mùa thu, tháng 9, ngày mồng một Diên Thành hầu cầm cái hốt1 đánh Trung Nghĩa hầu ở ở tại
điện Thiên An.
Chiêm Thành sang cống.
Đua thuyền.
Năm Ất Dậu (năm 1105- ND) là năm Long Phù Nguyên hóa thứ 5:
Mùa xuân, tháng giêng cỏ xương bồ ra hoa2.
Tháng 2 tế ở đền Cao Môi3.
Mùa hạ, tháng 6, quan Thái úy là Nguyễn Thường Kiệt từ trần. (Lý Thường Kiệt - ND).
Mùa thu, tháng 9 làm hai cái tháp bằng sứ trắng, loại nhỏ, đặt ở chùa Diên Hựu4 lại làm thêm ba cái tháp bằng đá đặt ở Lãm Sơn5.
Mùa đông, tháng 10 ở châu Đông Lương có vàng sống trồi lên.
Tháng 11, ngày mồng một (ngày sóc) có nhật thực quá nửa6.
Chiêm Thành sang cống.
Có nạn dịch lớn.
Năm Bính Tuất (năm 1106- ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 6:
Mùa xuân, tháng 2 nhà vua đi viếng Đồ Sơn.
Mùa hạ, tháng 5 sao chổi xuất hiện.
Mùa thu, tháng 7 dựng thành Ngân La.
Tháng 11, vua sắp có chuyện với nhà Tống. Đóng thuyền Vĩnh Long, thuyền có hai đáy và đóng thuyền chiến.
Viên ngoại lang là Ngụy Văn Tương đi sứ sang Tống.
Chiêm Thành sang cống.
Công chúa Chiêm Thành dâng hai con voi trắng.
Năm Đinh Hợi (năm 1107- ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 7:
Mùa hạ, tháng 6 nhà vua đi viếng Chương Sơn. Rồng vàng hiện ra. (Chương Sơn nay thuộc Nam
Hà- ND).
Mùa đông, tháng 11 dộng đất.
1 Hốt: cái hốt. Xưa, vua quan trong buổi thị triều đều cầm cái hốt để có việc cần nói thì viết vào đấy cho khỏi quên. Cái hốt thường làm bằng ngọc, bằng ngà, có khi bằng gổ.
2 Xương bồ là một loại cỏ mọc ven sông, ven núi, có mùi thơm dùng làm thuốc. Xưa, người ta có tục lệ cứ đến ngày mùng 5 tháng 5 lấy lá xương bồ xắn thành hình lưỡi gươm treo ở cửa để trừ tà gọi là bồ kiếm.
3 Cao Môi hay Tiên Môi là Thần giúp sự yên lành. Tế Cao Môi là tế lễ cầu yên.
4 Chùa Diên Hựu tức chùa Một Cột.
5 Lãm Sơn nay thuộc Hà Bắc.
6 Người ta thấy hiện tượng này lúc ban ngày. Khi mặt trăng ở trong khoảng từ mặt trời đến quả đất và ngăn cản tất cả những tia sáng truyền từ mặt trời đến quả đất thì gọi là toàn thực, ngăn cản một phần thì gọi là bán thực hay khuy thực.


63 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Tháng chạp dựng phủ Đô Hộ.
Năm Mậu tý (năm 1108- ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 8:
Mùa xuân, tháng giêng xây cất tháp Chương Sơn.
Đắp đê ở cảng Cơ Xá. (Đê Cơ Xá là đê Sông Hồng- ND).
Hoàng hâu Chiêu Thánh từ trần.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Kỷ Sửu (năm 1109- ND) là năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 9:
Mùa hạ, tháng 4, vua xét án bọn phản nghịch là Tô Hậu và Kỷ Sùng. Bọn Hậu, Sùng đều bị lên ngựa gỗ1.
Mùa đông, tháng chạp xây cất đài Động Linh.
Năm Canh Dần (năm 1110- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ nhất:
Mùa xuân, tháng giêng bày ra hội Quảng Chiếu đăng ở ngoài cửa Đại Hưng.
Tháng 3, có người đàn bà là Hoàng Thị dâng con chim phượng non, lông cánh đều năm sắc mà chín chòm. Tháng đó có viên Tham chánh là Từ Văn Thông dâng con cọp trắng.
Con ngựa trắng mọc cái cựa.
Một cây cau có mười hai cành.
Có người dâng chim sẻ trắng.
Mùa thu, tháng 8 nước Chiêm Thành dâng con voi lạ, nó ở chổ nào thì chổ ấy có ánh sáng hiện ra.
Sai Viên Ngoại lang là Đào Ngạn đi sứ sang Tống.
Năm Tân Mão (năm 1111- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 2:
Mùa hạ, tháng 4 phủ Thanh Hóa dâng một cây cao có chín cành.
Được dâng con rùa trắng.
Chim sẻ trắng đến cấm đình.
Mặt trời có hai quầng tròn.
Được mùa to.
Quan Lưu thủ là Trương Diên Phúc dâng chim sẻ trắng.
Mùa đông, tháng 11 mặt trời có hai quầng tròn2.
Năm Hội Tường Đại Khánh thứ 3 (năm Nhâm Thìn- 1112- ND):
Mùa xuân, tháng giêng sương (móc) ngọt rơi xuống.
Tháng 2, người ở Thanh Hóa nói, ở bờ biển có đứa bé (trai- ND) lạ, 3 tuổi, ít nói, tự xưng là
chính con của Hoàng đế, gọi là Giác Hoàng. Phàm việc gì của nhà vua, nó cũng đều biết trước, nhà vua sai quan Trung Sứ đến hỏi: Giác Hoàng nói đều ứng nghiệm cả, bèn rước đem về cho ở tại chùa Báo
1 Lên ngựa gỗ là hình phạt nặng, theo đó thì tội nhân bị căng thân đóng đinh lên ván rồi đem bêu ở chợ, sau mới bị tùng xẻo- theo ông Nguyễn Khắc Thuần.
2 Mặt trời có hai quầng tròn xảy ra vào mùa hạ tháng 4 ở trên thì có hơi lạ. Chứ mặt trăng có hai quầng tròn thì là việc rất thườngchép làm gì!


64 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Thiên1. Nhà vua thấy sự linh dị ấy, càng thương mến nó nhiều hơn. Lúc bấy giờ nhà vua không có con nối dõi nên muốn lập Giác Hoàng làm Thái tử, quần thần không chịu, đành thôi. Nhưng rồi nhà vua lại bày ra hội chay ở trong cung cấm, muốn sai Giác Hoàng đầu thai thác hóa làm con mình. Đang khi ấy, có bậc thiền sư ở núi Phật Tích là Từ Lộ (hiệu là) Đạo Hạnh nghe vậy thì không vui. Từ Lộ bèn sai người em gái của ngài là Từ Thị đến dự hội mà bí mật lấy mấy viên ngọc đã được ấn bùa phép trao cho và dặn rằng: "Đến cái chổ hội ấy thì giấu mấy hạt ngọc sau tấm rèm, chớ có để cho người ta thấy, biết". Từ Thị làm theo như lời nói ấy. Giác Hoàng bổng nhiên mắc bệnh sốt, bèn nói với người ta rằng: "tôi thấy đầy khắp cõi nước nhà đều có lưỡi sắt, cạm bẩy2 không có đường để thác sinh vào ở trong cung nữa" Nhà vua sai lục soát kỷ thì bắt được mấy viên ngọc của Từ Thị cất giấu. Rồi bắt giữ Từ Lộ ở mái hiên Hưng Thánh và sắp ghép ngài vào đường tù tội. Sùng Hiền hầu3 vào chầu vua; Từ Lộ kêu than rằng "Xin hiền hầu hết lòng cứu bần tăng, may mà được thoát ra khỏi thì bần tăng sẻ nhập vào làm đứa con hầu ngài
để đền đáp cái công đức ấy". Hiền hầu vâng dạ, hứa cứu giúp, rồi đi vào tiếp kiến nhà vua biện bạch đủ mọi lý lẽ. Hiền hầu nói: "Giác Hoàng có thần lực thật đấy, mà bị Từ Lộ cản trở thì đó là Từ Lộ thắng Giác Hoàng. Sự việc rõ rệt như thế thì không gì bằng cho Từ Lộ thác sinh".
Nhà vua tha cho Từ Lộ. Giác Hoàng bệnh nguy kịch, mới dặn bảo rằng: "Sau khi tôi chết nên xây cái tháp ở núi Tiên Du để chôn cất".
Mùa hạ, tháng 4 được dâng cỏ chi cùng hoa ưu đàm và chim quạ trắng.
Mùa thu, tháng 9 rồng vàng hiện ra ở điện Vĩnh Quang.
Mùa đông, tháng 10 rồng đen hiện ra ở trong cung.
Năm Quý Tỵ (năm 1113- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 4:
Có người dâng hươu trắng.
Mùa thu, tháng 8 rồng vàng hiện ra ở điện Đại Minh.
Năm Giáp Ngọ (năm 1114- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 5:
Mùa xuân, tháng giêng có tuyết lành rơi xuống.
Tháng 3, rồng vàng hiện ra ở tháp Chương Sơn, quấn quanh tháp ba vòng. Có người dâng chim sẻ trắng và rùa có sáu con ngươi.
Mùa đông, tháng 10 sai quan Nội thường thị là Lê Bá Ngọc làm Đại Lý tự4.
Dựng chùa Thắng Nghiêm, đặt nhà Thiện Pháp. Bốn mặt xây lầu để dựng tượng Phật quí 1000 pho.
Viên ngoại lang là Đào Tín Hậu đem cho 10 con voi.
Sai sứ đi Tống.
Năm Ất Tỵ (năm 1115- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 6:
Mùa xuân, tháng 2 được dâng cái hoa cà kết ba quả.
Tháng 3, chùa Sùng Phước ở làng Siêu Loại (Bắc Ninh- ND) hoàn thành.
Mùa hạ, tháng 6 mặt trời có hai quầng tròn.
Mùa thu, tháng 7 có người dâng con rùa vàng.
Năm Bính Thân (1116- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 7:
1 Chùa Báo Thiên là chùa Sùng Khánh Báo Thiên ở Hà Nội.
2 Cạm bẩy, nguyên văn là "tráo", tráo là cái lờ, cái ràng để bắt cá.
3 Sùng Hiền là em ruột của vua.
4 Đại Lý tự là tên chức quan trông coi về hình ngục.


65 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Mùa Xuân, tháng giêng, mở hội Quảng chiếu hoa đăng ở ngoài cửa Đại Hưng. Tạc tượng nhà sư bằng gổ có đeo chuông bên mình.
Mùa hạ, tháng 4 có người dâng cây cau.
Tháng sáu, sư Đạo Hạnh hóa1.
Mùa đông, tháng 11, có người dâng con rùa ba chân, sáu con mắt.
chiêm Thành đến cống.
Đua thuyền.
Năm Đinh Dậu (năm 1117- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 8:
Mùa xuân, tháng giêng có người dâng con hươu trắng và hươu đen.
Tháng 3, nhà vua đi viếng chùa Chương Sơn.
Rồng vàng hiện ra.
Mùa hạ, tháng 4 được dâng rùa ba chân và sáu con ngươi, nơi ngực rùa có hai chữ "Thiện đế".
Châu Tư Nông2 dâng con ngựa đỏ, mọc cái cựa.
Rồng vàng hiện ra ở Động Linh.
Cầu thọ (cúng cầu xin được sống lâu- ND) ở Bửu Đài.
Mùa thu, tháng 7 _ Lan Thái hậu từ trần, thụy là Phù Khánh Linh Nhân Thái hậu.
Tháng 8, an táng Thái hậu Linh Nhân. Hỏa táng Thái hậu có ba người được táng theo. Đêm ấy rồng hiện ra.
Mùa đông, tháng 11 lập con của Sùng Hiền là Dương Hoán làm Thái tử.
Năm Mậu Tuất (năm 1118- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9:
Mùa xuân, tháng 2 Chân Lạp và Chiêm Thành sang cống.
Mùa đông, tháng 11 sương (móc) ngọt rơi xuống3.
Cấm những người đầy tớ trong nhà thích (xăm) hình con rồng trên mình.
Viên Ngoại Lang là Nguyễn Bá Khánh mang tê ngưu và voi sang nhà Tống.
Năm Kỷ Hợi (năm 1119- ND) là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 10:
Mùa đông, tháng 10 nhà vua thề với người trong nước ở Long Trì.
Hạ chiếu đánh động Ma Sa. Ngày ra quân có con rồng vàng theo thuyền mà đi.
Quan tước là Thành Khánh Hầu dâng rùa có sáu con ngươi, nơi ngực rùa có chữ "ngọc".
Nhà vua đánh động Ma Sa, phá hủy động này.
Huy Tông4 nhà Tống gia phong cho vua làm Thủ Tư Không.
Năm Canh tý (năm 1120- ND) là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ nhất:
1 Ngày Thiền sư Từ Đạo Hạnh hoá cũng là ngày, Dương Hoán, con của Sùng Hiền Hầu chào đời. Sau Nhân Tông không có con nối dõi, bèn truyền ngôi cho Dương Hoán. Đó là Lý Thần Tông.
2 Tư Nông tức là Châu Tư Nông, nay thuộc tỉnh Thái Nguyên.
3 Giọt móc, giọt sương ngọt rơi, xưa, cho đó là điềm lành.
4 Tống Huy Tông: tên cát, con của Thần Tông, ở ngôi được 26 năm (1101- 1125).
66 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Mùa xuân, tháng giêng đổi niên hiệu.
Mùa hạ, tháng 6 có người dâng chim sẻ trắng.
Mùa thu, tháng 9 rồng vàng hiện ra.
Mùa đông, tháng 10 dựng đài Chúng Tiên.
Đua thuyền.
Chiêm Thành và Chân Lạp sang cống.
Năm Tân Sửu (năm 1121- ND) là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2:
Mùa hạ, tháng 5 nước Lụt đến cửa Đại Hưng1.
Mùa thu, tháng 7 xây cất chùa Quảng Giáo ở núi Tiên Du.
Tổ chức cuộc đua thuyền.
Năm Nhâm Dần (năm 1122- ND) là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 3:
Mùa xuân, tháng 2 ngôi bảo tháp Đội Sơn là Sùng Thiện Diên Linh hoàn thành2.
Mùa thu, tháng 8 vua xem đua thuyền.
Mới chế cái giải mũ bằng bạc, cho nhập vào lỗ bộ (những binh khí cần thiết cắm vào giá, đặt ở
cung vua hay phủ quan, đền chùa để cho có cái nghi phục- ND).
Viên Ngoại Lang là Đinh Khánh An đi sứ sang Tống.
Năm Quý Mão (năm 1123- ND) là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 4:
Mùa xuân, tháng giêng, tiết đản thánh mới tạo dựng ngôi đình Thôi Luân Vũ.
Mùa thu, tháng 8 bày ra cái lễ tiệc mùa thu.
Mùa đông, tháng 10 vua đi hành cung Ứng Phong. Làm cầu treo bắc qua sông Ba Thích3.
Xây cất đài Thông Tiêu.
Chân Lạp sang cống.
Được mùa to.
Năm Giáp Thìn (năm 1124- ND) là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 5:
Mùa đông, tháng 10 xây cất đài Uất La.
Trời khô hạn lâu ngày, làm lễ cầu đảo rồi thì mưa.
Năm Ất Tỵ (năm 1125- ND) là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 6:
Mùa hạ, tháng 4 Công chúa Thụy Khánh dâng rùa có sáu con ngươi, nơi ngực rùa có sáu chữ
"Quốc thổ an ninh".
Tháng 6, vua đi viếng Ứng Phong, rồng vàng hiện ra ở hành cung.
Mùa đông, tháng 11, rồng vàng hiện ra ở cung Động Linh.
Cho quan Nội thường thị là Mâu Đô Du làm trung tướng.
Năm Bính Ngọ (năm 1126- ND) là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 7:
1 Cửa Đại Hưng là cửa Nam, Hà Nội.
2 Sùng Thiện Diên Linh: ở Duy Tiên, Nam Hà, nay vẫn còn.
3 Sông Ba Thích tức là sông Nam Bình, sông nhỏ nối sông Hồng với sông Đáy.


67 Đại Việt Sử Lược - Quyển II
Mùa xuân, tháng giêng ra lệnh: "Mùa xuân cấm chặt cây".
Tháng 2, nhà vua ngự ở điện Thiên An xem các vị vương hầu đá cầu ở Long Trì.
Mùa hạ, tháng 5 rồng vàng hiện ở điện Vĩnh Quang.
Mùa thu, tháng 8 rồng vàng hiện ra, trong mình con rùa có tám chữ: "Đạo định vương các diên
ninh công chúa".
Mùa đông, tháng 11 sai quan lệnh thư gia là bọn Nghiêm Thường, Từ Diên đi sứ sang Tống. Đến Quế Châu tiếp kiến quan ty Kinh lược ở châu ấy. Quan ty Kinh lược nói với Nghiêm Thường và Từ Diên rằng: "Năm nay Kinh Đông Hồ Namv.v... những xứ ấy đều đã đem binh mã đi chống cự nước Đại Kim, chưa biết ngày nào về. Còn ở đây thì phố xá xe ngựa bị dẹp bỏ, đâu đâu cũng chỉ có rất ít mà thôi. Vậy xin giao hoàn lễ vật lại".
Năm đó bọn quan Nguyên soái của nước Đại Kim bắt Hy Tông và Khâm Tông1 là hai vị vua của nhà Tống đem về Bắc. Nước Tống loạn to.
Năm Đinh Tỵ (Mùi) (năm 1127- ND) là năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất:
Mùa đông, tháng chạp vua từ trần ở điện Vĩnh Quang, thọ 62 tuổi, ở ngôi 56 năm, niên hiệu là
Nhân Tông, đổi niên hiệu tám lần, táng tại phủ Thiên Đức.
1 Vua Khâm Tông nhà Tống tên Hoàn, con của Hy Tông, ở ngôi được hai năm (1125- 1126), bị người nước Kim phế xuống.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn