Chủ nhật, 20/09/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay852
mod_vvisit_counterHôm trước1412
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đại Việt Sử Lược - Quyển III E-mail
03/08/2020


 Đ ạ i V i ệ t S ử L ư ợ c (Phần 6)
68 Đại Việt Sử Lược - Quyển III

Vua Thần Tông
Vua tên húy: Dương Hoán1, là cháu của vua Thánh Tông, con của Sùng hiền hầu, mẹ là người họ Đỗ.
Ngài sinh ra lên ba tuổi thì được vua Nhân Tông đem về nuôi ở trong cung và lập làm Thái tử2.
Đến tháng chạp năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất: (năm Đinh Tỵ- 1127- ND) trước linh cửu thi thể vua Nhân Tông ở tại điện Khổn Thiên3, ngài lên ngôi.
Ngày Quý Tỵ (Mùi) làm lễ thành phục (mặc đồ tang).
Ngày Ất Đậu vua ngự ở điện Thiên An để thị triều. Ngày đó cởi bỏ đồ tang phục nhân việc vua đi Na Ngạn4 xem các cung nữ lên hỏa dàn để tuẫn táng theo vua Nhân Tông.
Năm Mậu Thân (năm 1128- ND) là năm Đại Thuận5 thứ nhất.
Ngày Tân Mão vua hạ chiếu rằng: "Vì quốc tang nên cấm người trong nước cỡi ngựa".
Ngày Canh Tý vua bắt đầu ngự ở nhà Kinh Diên6.
Vua dùng Võ vệ Lê Bá Ngọc làm Thái úy.
Nội nhơn Hỏa đầu7 là Lưu Ba và Vương Nhĩ làm Thái phó.
Viên Trung thừa là Mâu Đô Du làm Gián nghị Đại phu..
Ngày Quý Mão sai sứ mang thư sang nhà Tống báo tin về cái tang của Nhân Tông và tâu trình
về việc vua mới vừa lên ngôi. Lúc bấy giờ vua Cao Tông8 nhà Tống lánh người nước Kim đã qua sông đóng đô ở Lâm An rồi.
Chân Lạp cướp phá châu Nghệ An1.
1 Ngô Thời Sĩ, trong Quyển "Việt sử tiêu án" chép là Dương Úc.
2 Vua Nhân Tông không có con nên phải lập con của Hoàng Đệ Sùng hiền hầu làm Thái tử. Truyện chép về Thái tử Dương Hoán rằng: Từ Lộ pháp danh là Đạo Hạnh khi được Sùng hiền hầu cứu thoát mới nguyện sẽ nhập vào làm đứa con hầu để đền đáp cái
ơn ấy (xem quyển II, phần chép việc năm Nhâm Thìn- 1112). Rồi Từ Đạo Hạnh dặn Sùng hiền hầu rằng, đến ngày nào vợ ngài sanh con thì cho tôi biết. Sau đó ba năm phu nhân họ Đỗ (vợ Sùng hiền hầu) có thai nhưng khó sanh. Sùng hiền hầu bèn đi báo gấp với Từ Đạo Hạnh. Từ Đạo Hạnh tức thì tắm rửa thay quần áo rồi vào núi giải thoát thể xác mà đi luôn. Và Dương Hoán chào đời, người ta bảo đó chính là ông Từ Đạo Hạnh hoá xác sanh ra vậy.
3 Có sách chép là Hồ Thiên.
4 Na Ngạn: nay là Lục Ngạn (Hà Bắc).
5 Từ năm Mậu Thân (1128) đến năm Nhâm Tý (1132). Cả 5 lần sách này đều chép là niên hiệu Đại Thuận. Nếu người chép (bản chữ Hán) lần chép thứ nhất, nhìn bản nguyên tác chữ Thiên nhầm ra chữ Đại thì còn những bốn lần nữa đều nhầm cả hay sao?
các sách khác đều chép là niên hiệu Thiên Thuận (1128- 1132) Lý Thái Tổ có niên hiệu Thuận Thiên. Đổi chữ "Thuận" đứng trước chữ "Thiên".
6 Kinh Diên: ngôi nhà để vua quan cùng giảng luận sách sử.
7 Nội nhơn hỏa đầu: tên quan chức rất lớn.
8 Vua Cao Tông nhà Tống tên Cấu, con của Huy Tông, lên ngôi ở Nam Kinh, ở ngôi 36 năm (1127- 1162).


69 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Ngày Ất Sửu: Quần thần dâng tôn hiệu: "Thuận Thiên Quảng vận khâm minh nhân hiếu Hoàng đế".
Ngày Canh Ngọ vua ngự tại điện Thiên An nơi Long Trì để thề hẹn với người trong nước.
Tháng 6 lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Thụy Thiên.
Lập Hoàng hậu ba người.
Tôn mẹ nuôi là Thần Phi làm Thái hậu2.
Tháng 2 Chân Lạp đánh phá Nghệ An. Vua sai quan Thái phó là Nguyễn Bình Công3 đánh dẹp, bắt được tướng Chân Lạp rồi rút quân về.
Năm Kỷ Dậu (năm 1129- ND) là năm Đại Thuận thứ 2:
Làm lễ mừng tại gác Thiên Phù về việc 84000 bảo tháp đã hoàn thành. (Tháp nhỏ bằng đất
nung- ND).
Ngày Giáp Ngọ tôn cha là Sùng Hiền hầu làm Thái thượng vương, mẹ là Đỗ Thị làm Thái hậu ở cung Động Nhân.
Mùa thu, tháng 7 cái đèn ở chổ đặt linh vị vua Nhân Tông hóa thành hai ngọn.
Con rắn Thanh trúc (rắn lục?) cuốn khúc ở chỗ cái bảo ý4.
Năm Canh Tuất (1130- ND) là năm Đại Thuận thứ 3:
Mùa hạ, tháng 5 được dâng chim sẻ trắng. Thái thượng vương từ trần, tên thụy là Cung Vương.
Tháng 6, trời nắng lớn làm lễ cầu đảo thì mưa.
Chiêm Thành sang cống.
Đua thuyền.
Nhà vua sai sứ sang Tống.
Năm Tân Hợi (1131- ND) là năm Đại Thuận thứ 4:
Mùa xuân, tháng 3 vua hạ chiếu cho những kẻ gia nô không được lấy con gái trong dân.
Cao Tông nhà Tống phong vua làm Quận Vương.
Năm Nhâm tý (1132- ND) là năm Đại Thuận thứ 5:
Mùa xuân, tháng 3 rồng vàng hiện ra ở cung Lệ Quang.
Mùa thu, tháng 8. Chân Lạp và Chiêm Thành vừa cướp phá Nghệ An. Vua hạ chiếu sai quan Thái úy là Dương Anh Nhĩ đánh thắng bọn chúng5
Nguyễn Thừa Tư đi sứ sang Tống.
Năm Quý Sửu (1133- ND) là năm Thiên Chương Bảo Tự thứ nhất:
Mùa xuân, tháng giêng đổi niên hiệu.
1 Nguyên bản chép nhầm, đúng là phủ Nghệ An. Châu Nghệ An đã đổi thành phủ Nghệ An từ năm Tân Tỵ- 1101. Phù là đơn vị hành chánh lớn hơn châu.
2 Hoàng hậu của Nhân Tông (Nhân Tông là bác ruột của Thần Tông).
3 Nguyễn Bình Công là người họ Lý. "Đại Việt sử ký toàn thư" chép là Lý Công Bình.
4 Bảo ý: Ý là dụng cụ để chắn gió, di chuyển được như cái bình phong. Bảo ý là dụng cụ quý báu dùng để chắn gió.
5 Phần chép việc trong năm Mậu Thân- năm 1128, chép Dương Nhĩ. Đến đây lại chép Dương Anh Nhĩ. Nhiều sách chép Dương Anh
Nhĩ. Bởi chữ có âm Nhĩ và âm Nhị.


70 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Tháng 2, cái đèn Diên mệnh ở điện Đại Minh phát sanh ra cái hoa.
Bày cuộc múa cờ ở Bảo Phan (còn đọc là Bảo Phiên: cờ hiện quí báu- ND).
Con ngựa mọc cái cựa.
Mùa hạ, tháng 6 rồng vàng hiện ra ở điện Vĩnh Quang.
Mùa đông, tháng 10 dựng nhà chùa Diên Sanh Ngũ Nhạc.
Năm Giáp Dần (1134- ND) là năm Thiên Chương Bảo Tự thứ hai:
Mùa xuân, tháng 2 Chân Lạp và Chiêm Thành sang cống.
Từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa.
Mùa đông, tháng chạp nhà làng ở Cổ Pháp cây khô ra hoa.
Năm Ất Mão (năm 1135) là năm Thiên Chương Bảo Tự thứ ba:
Mùa xuân, tháng giêng cái chuông bằng đồng xưa hiện ra.
Rùa thần, xuất hiện, nơi ngực có bốn chữ: "Nhất Thiên Vĩnh Thánh".
Năm Bính Thìn (năm 1136) là năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư:
Mùa xuân, tháng 2 châu Nghệ An động đất, nước sông như máu.
Tháng 9, xuống chiếu cho trong và ngoài kinh thành cứ ba nhà thì lập làm một bảo.
Tướng nước Chân Lạp là Tô Phá Lăng vào cướp phá châu Nghệ An. Vua sai quan Thái phó là Nguyễn Công Bình1 đánh bại được tướng ấy.
Năm Đinh Tỵ (1137) là năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 5:
Mùa hạ, tháng 5 tên Nội nhân là Ngọ Viêm dâng vàng sống một khối, nặng 66 lượng.
Mùa thu, tháng 9 nhà vua mệt rồi từ trần ở tại điện Vĩnh Quang, thọ 21 tuổi, ở ngôi 10 năm.
Miếu hiệu là Thần Tông. Đổi niên hiệu hai lần. An táng tại phủ Thiên Đức2
Vua Anh Tông3
Vua, tên húy: Thiên Tộ; là người con thứ hai của vua Thần Tông. Mẹ là phu nhơn Cảm Thánh họ Lê.
Vua là người mũi cao, mặt rồng (diện mạo của bậc vua chúa- ND).
Vua lại là người nhân từ, khoan hậu và trung thứ.
Năm mới vừa ba tuổi thì lên ngôi, trước linh cữu Thần Tông. Quần thần dâng tôn hiệu lên là:
"Thể thiên thuận đạo duệ văn thần vũ thuần nhân hiển nghĩa huy mưu thánh trí ngự dân dục vật quần linh phi ứng đại minh chí hiếu Hoàng đế"4.
1 Đúng là Lý Công Bình.
2 "Lịch triều hiến chương loại chí" Phần nhân vật chí chép Thần Tông ở ngôi 11 năm, thọ 23 tuổi.
3 Theo nguyên bản chép là Anh Tôn, nhưng cuối chương này lại chép là Anh Tông. Tôn hay Tông?. QUyển II cũng gặp trường hợp
này. Chúng Tôi nghĩ, soạn giả hản đã chép chữ "Tông", nhưng chữ này vào triều nguyễn gần đây vì kiêng tên húy đời vua Minh
Mạng mới đọc là "Tôn". Có lẽ vì vậy mà người chép lại sách nhẫm đọc là chữ Tôn, rồi viết chữ Tôn này chăng?
4 Ấy là việc làm của các quan, chứ là cái tuổi lên 3 thì vua nào đã hiểu biết gì.


71 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Đổi niên hiệu, lấy từ mùa thu, tháng 9 năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 5 làm năm Thiệu Minh thứ nhất (1137- ND).
Tôn phu nhơn Cảm Thánh làm Thái hậu.
Rồng vàng bay vào trong thành.
Mùa đông, tháng 10, ngày Kỷ Dậu ban đêm rồng vàng từ cung Thái Thanh bay vào trong cấm
(chổ vua ở- ND).
Ngày Ất Mão vua thề hẹn với quốc dân ở nơi Long Trì.
Năm Mậu Ngọ (năm 1138- ND) là năm Thiệu Minh thứ 2:
Mùa hạ, tháng 4 lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Thọ Ninh.
Tống Cao Tông phong vua làm Quận vương.
Lập Hoàng hậu một người.
Năm Kỷ Mùi (năm 1139- ND) là năm Thiệu Minh thứ 3:
Ông Thân Lợi tự xưng là con của Nhân Tông1 chiếm cứ châu Thượng Nguyên để làm phản, tiếm hiệu là Bình Hoàng2, có đồ đảng đông hơn 1000 người. Nhà vua hạ chiếu cho quan Gián nghị Đại phu là Lưu Vũ Xứng đánh bọn chúng, nhưng bị Thân Lợi đánh bại. Thân Lợi kéo binh ra chiếm cứ châu Tây Nùng, đánh phá phủ Phú Lương, sắp muốn tiến về hướng kinh sư. Vua sai quan Thái úy là Đỗ Anh Vũ đi
đánh. Đỗ Anh Vũ đem quân đến Quảng Dịch gặp Thân Lợi rồi cùng đánh nhau dữ dội. Quân Thân Lợi thua to, bị chết không có thể đếm xuể3. Thân Lợi phải chạy trốn ở châu Long Lệnh4, tháng 10 Đỗ Anh Vũ đánh châu Long Lệnh, phá hủy châu ấy, bắt được hơn 2000 người. Thân Lợi chạy trốn đến Lạng Châu bị quan Thái phó là Tô Linh Thành5 bắt được đưa về kinh sư xử chém.
Năm Canh Thân (năm 1140- ND) là năm Đại Định thứ nhất:
Tháng giêng đổi niên hiệu.
Tháng 2 có người dâng con cóc trắng.
Mùa đông, tháng chạp vua hạ chiếu: "Những ruộng đất đã cày cấy được mà đem cầm thế bán
đở thì trong 20 năm phải cho chuộc lại. Phàm những việc giành giựt nhau về ruộng đất mà ngoài 50 năm thì không được bày tỏ, kiện tụng gì nữa. Những ruộng đất đã bán dứt hẳn, có khế ước thì không được chuộc.
Từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa, nhà vua cho thiết lễ cầu đảo thì mưa.
Năm Tân Dậu (năm 1141- ND) là năm Đại Định thứ 2:
Mùa thu, tháng 8 ngày Bính Dần ban đêm rồng vàng hiện ra sau cây chanh nơi điện Vĩnh Thọ.
Năm Nhâm Tuất (năm 1142- ND) là năm Đại Định thứ 3:
Mùa xuân, tháng 2, viên thủ lãnh châu Phú Lương là Dương Tự Minh cưới công chúa Thiều
Dung.
1 Theo "Việt sử tiêu án" ở phủ Đại Lý có Trí Chi tự xưng là con của Lý Nhân Tông, mẹ là một người cung thiếp, nhưng Nhân Tông không nhận là con, lại cho cháu thừa kế cơ nghiệp. Trí Chi nhờ quan tỉnh Quảng Tây tâu xin vua Tống Cao Tông giúp binh lực để tranh ngôi cùng Lý Anh Tông. Vua Tống khước từ và Thân Lợi chính là Trí Chi vậy.
2 "Việt sử tiêu án" chép: chiếm cứ hai châu Thượng Nguyên và Hạ Nông, tiếm xưng là Nam Bình Vương.
3 "Việt sử tiêu án" chép: Trận này quân Triều đình đã bắt được tên thủ lĩnh là Dương Mục, Chu Ái đóng cũi giải về kinh đô.
4 Thượng Nguyên, Tây Nùng, Long Lệnh: tất cả đều thuộc Bắc Cạn và Thái Nguyên ngày nay.
5 Nhiều bộ sử chép là Tô Hiến Thành. Phải chăng soạn giả đã chép chữ "Hiến" mấy trăm năm sau chữ này bị mờ hoặc vì lý do nào đó mà người chép lại sách đã nhận lầm thành chữ "linh".


72 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Tháng 3, có con ngựa bốn chân đều mọc cựa.
Mùa hạ, tháng 5 quan Thái úy là Đỗ Anh Vũ dâng con rùa trắng, Mâu Đô Du dâng chim sẻ trắng. Nhà vua cho Mâu Đô Du làm Thái sư.
Năm Quí Hợi (1143- ND) là năm Đại Định thứ 4:
Mùa hạ, tháng sáu có người dâng con rùa có sáu con ngươi, nơi ngực rùa có bốn chữ: "Dĩ hành pháp công"
Mùa thu, tháng 8 một kẻ yêu thuật bên nhà Tống là Đàm Hữu Lượng1 vào châu Tư Lang tự xưng hiệu là Lữ Tiên Sanh, đốc xuất quần chúng cướp phá châu Quảng Nguyên.
Dựng cung Quảng Từ cho Thái hậu ở.
Mùa hạ, mưa dầm dề mãi, thiết lễ cầu đảo được ứng nghiệm.
Rồng vàng hiện ra ở điện Vĩnh Thọ.
Năm Giáp Tý (năm 1144- ND) là năm Đại Định thứ 5:
Mùa hạ, tháng 4 có sao chổi xuất hiện.
Mùa thu, tháng 7 dựng kho Thiện Tư sáu chổ.
Năm Ất Sửu (năm 1145- ND) là năm Đại Định thứ 6:
Mùa thu, tháng 8 con voi phát ra ánh sáng, quần thần dâng biểu chúc mừng.
Tháng 9 có người dâng con quạ trắng.
Thái hậu từ trần, đặt tên thụy là Chiêu Hiếu.
Viên Thư gia là Nguyễn Chiêu dâng con quạ trắng.
Năm Đại Định thứ 7 (năm Bính Dần- 1146- ND):
Mùa xuân, tháng 2 ngày Tân Hợi nhà vua đi Vị Nhân2 cày ruộng Tịch điền.
Năm Đại Định thứ 8 (năm Đinh Mão -1147- ND) Mùa hạ, tháng 4 vua ngự ở Long Trì để xem bắt voi.
Năm Mậu Thìn (năm 1148- ND) là năm Đại Định thứ 9:
Được dâng con ngựa đỏ mọc cái cựa.
Mùa thu, tháng 9 Chân Lạp vào cướp phá châu Nghệ An.
Vua nghe xét án Thái úy là Đỗ Anh Vũ, bắt y hạ ngục rồi ra lệnh đày Đỗ Anh Vũ làm Thăng điền hoành.
Trước kia lúc vua còn nhỏ bé, việc chính trị không kể lớn nhỏ đều ủy thác cho Đỗ Anh Vũ quyết đoán cả. Anh Vũ lại tư thông với Thái hậu3, vì vậy mà càng kêu ngạo, không kiêng nể ai. Ở chổ triều đình thì vung tay đứng dậy lớn tiếng mắng người. Sai bảo các quan lại thì nhếch mép phì hơi. Nhiều người lắm lét nhìn mà không dám nói.
1 "Việt sử tiêu án" chép: Đàm Hữu Lượng của nhà Tống là một tên yêu thuật, trốn sang châu Tư Lạng, nói dối là đi sang sứ, dụ đồ đảng cướp phá châu Quảng Nguyên. Lúc bấy giờ ta và Trung Quốc thông hiểu với nhau nên Ty án sát tỉnh Quảng Tây đưa văn
thư ước hẹn cùng ta đuổi bắt Đàm hữu Lượng. Vua sai Dương Tự Minh đi đánh và bắt được Hữu Lượng cùng 20 người trao trả nhà Tống. Quan tri châu Châu Ung của Tống là Triệu Nguyên nhận bọn Hữu Lượng rồi xử tử cả.
2 Vị Nhân tức là Ly Nhân.
3 Thái hậu ở đây là Cảm Thánh Lê Thái hậu. Vua Thần Tông lập Hoàng hậu ba người: Cảm Thánh, Nhựt Phụng và Phụng Thành đối với Anh Tông là Thái hậu.


73 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Phò mã là bọn Dương Tự Minh cùng với quan Điện tiền chỉ huy sứ là Vũ Đái đốc xuất quân sĩ kéo đến ngoài cửa Việt Thành la To rằng: "Anh Vũ ra vào nơi cung cấm, liều lĩnh làm chuyện hung bạo dơ bẩn, tiếng đồn ra bên ngoài, bọn bầy tôi chúng ta hãy trừ bỏ hắn. Nếu không sẻ để lại mối nguy hại cho về sau". Nhân đó mới bắt Anh Vũ giam lại ở nơi hiên Cụ Thánh. Thái hậu sai người đưa cơm rượu vào mà lại ngầm đặt vàng để hối lộ bọn Vũ Đái. Lúc bấy giờ có viên Hỏa đầu ở đô Cụ Thánh là Nguyễn Dương nói với bọn ấy rằng là, tham cái của hối lộ đó thì tôi cùng các ông tất không thoát khỏi tay Anh Vũ. Chi bằng hãy giết hắn đi để gỡ cái hiểm họa cho bọn ta. Rồi cầm cái mác sắp muốn đâm Anh Vũ.
Viên Tả cụ thánh tên là Đàm bèn giựt cái mác ấy ngăn Nguyễn Dương lại mà nói rằng: "Quan Điện tiền bảo tôi là, Anh Vũ tội dẫu đáng chết, tất cũng nên, trước tiên trình bẩm mệnh vua đã". Nguyễn Dương nổi giận mắng Đàm rằng: "Điện Tiền Vũ Cứt1, chớ Vũ Đái cái gì. Nghĩ giận- làm sao lại đi tham của người ta mà không đếm xỉa gì đến công nghị!". Nói xong chạy nhào xuống giếng mà chết. Đỗ Anh Vũ đã bị làm
tội rồi, Thái hậu lo buồn mới lo nghĩ cách khôi phục quan tước cho Anh Vũ. Anh Vũ sau nhiều lần xá tội, được phục chức làm Thái úy phụ chánh nhữ cũ mà được vua quý mến tín dùng nhiều hơn. Do đó, Anh Vũ mới nắm được cái quyền tác phúc, giáng họa. Rồi thì muốn tìm cách báo lại cáii mối oán cừu ngày trước mới bèn theo ý riêng cho hơn 100 người lập làm Phụng vệ đô. Phàm có người phạm tội nào thì giao hết cho Phụng vệ đô ấy bắt giữ.
Và Anh Vũ bí mật tâu với vua rằng: "Cái việc đã qua ấy là bọn Vũ Đái đã tự tiện đem binh vào
cấm đình, tội đó không gì lớn hơn nữa, xin nhà vua hãy trừ khử đi". Rồi Anh Vũ bèn ra lệnh cho Phụng Vệ đô bắt bọn Vũ Đái giao xuống hàng quan lại ở dưới làm án mà trừng trị. Nhà vua hạ chiếu giáng Minh Trí Vương làm Tước hầu, quan Nội thị là bọn Đỗ Ất năm người cho lên ngựa gổ (xem chú thích số 400 phía trên). Bọn ở ngọc giai Hỏa đầu gồm 8 tên thì đem chém ở chợ Tây. Quan Điện tiền chỉ huy sứ là bọn Vũ Đái 20 người thì đem chém ở Giang Đầu. Phò mã là bọn Dương Tự Minh 30 người thì đày lên vùng nước độc. Số còn lại đều bị đồ lãm khao giáp và điền hoành2. Quả đúng như lời Nguyễn Dương nói.
Năm đó cấm lính canh dinh quan3 không được tự tiện vào trong cung, kẻ sĩ trong triều không
được qua lại nhà cửa các vương hầu. Những người phạm tội mà vào vùng đất Phụng Vệ Đô thì bị tội trượng (đánh bằng gậy- ND), vào trong lang miếu (triều đình- ND) thì bị tội chết.
Viên Trung thư hỏa là Nguyễn Bá dâng con kỳ lân đỏ.
Mùa hạ trời hạn hán, cầu đảo thì mưa.
Năm Kỷ Tỵ (năm 1150- ND) là năm Đại Định thứ 10:
Mùa hạ, tháng 5 một cây cau ra 28 buồng.
Mùa hạ, tháng 8 nhà vua đi cung Quảng Từ xem đua thuyền.
Năm Canh Ngọ (1150- ND) là năm Đại Định thứ 11:
Mùa xuân, tháng 2 có người dâng con rùa có sáu con ngươi, nơi ngực rùa có bốn chữ: "Vương dĩ
bát vạn" theo lối Trứu văn4.
1 Nguyên bản: "Điện tiền thị Cát phi Vũ Đái giã". Vì là lời la mắng trong lúc giận nên chữ cát ở đây phải phiên âm như trên mới có nghĩa. Cát, nôm đọc là Cứt.
2 Khao giáp: bắt làm phu dịch (coolie) tại một nơi nào đó. Điền hoành: bắt đi cày ruộng ở một khu đất riêng do nhà nước quản lý.
Đất này được gọi là quốc khố- (Nguyễn Khắc Thuần chú thích) đến đây, ta thấy vì dâm sự quái ác giữa Đỗ Anh Vũ và Lê Thái hậu
mà bao người bị chết, bao người bị đày đến nơi rừng sâu nước độc. Thật là đồi bại, làm ô nhục chốn triều đường, làm bại hoại nhân luân, để tiếng xấu lại muôn nghìn năm. Rõ là "Vạn sự ác dĩ dâm vi thủ". ta cũng thấy rõ nữa là do vua Anh Tông bất minh
vậy.
3 Nguyên bản chép là "Tự". Tự nguyện nghĩa là nhà cửa, tư dinh của hàng quan tước ở. Đến đời Hán Minh Đế vì đón hai vị thiền sư bên nước Thiên Trúc sang để thỉnh giáo về phật pháp mà bởi không có chổ ở riêng nên phải mời vào ờ trong sở Hồng Lô tự. Do đó, về sau các chỗ của các bậc tăng sư ở gọi là tự, có nghĩa là ngôi chùa. Cho nên ở đây ta củng có thể dịch là "lính canh cửa dinh quan".
4 Trứu văn còn đọc Lựu văn và lối chữ triện lớn của quan Thái sử Trứu. Chữ Triện là do lối chữ khoa đầu mà ra.
Xét qua nguồn gốc và sự tiến triển của chữ Hán tức là chữ Nho, ta có thể lược kể: Chữ bát quái của Phục Hy, chữ kết thằng của
Thần Nông và lời chữ của Thương Hiệt. Thương Hiệt (còn đọc Sương Hiệt) là một sử quan đời Hoàng đế (2697 trước công
nguyên) đã thống nhất được các lối chữ cổ nhất kể trên, lại vửa theo hình dấu chân chim thú bay nhảy mà biết văn lý phân biệt nhau rồi khuếch trương bằng hình thanh, đặt ra lối chữ khoa đẩu tứ là lối chữ lăn quăn như hình con nòng nọc. Đến đời vua Tuyên vương nhà Chu có quan Thái sử tên Trứu thêm bớt lối chữ khoa đẩu, đặt ra lối chữ đại triện, nét tròn thường viết bằng sơn trên gỗ, tre. Bởi vậy lối chữ đại triện còn gọi là Trứu văn hay Trứu thư. Tuy nhiên có nhà khảo cổ mới đây là Vương Quốc Duy đã bát bỏ thuyết này. Ông cho rằng tự thư, người xưa làm ra hay viết mấy chữ "thái sử trứu thư" ở đầu câu để mạo cho hạ văn. Hai chữ "trứu thư", người sau nhân đó mới lấy để đặt thiên. Và, "Thái sử trứu thư" là thành ngữ đời Chu.


74 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Mùa hạ, ngày mồng một tháng 4 động đất.
Tháng 5 trời mưa ra cát vàng.
Mùa đông, tháng 10 mở khoa thi ở nơi điện nhà vua.
Người Chiêm Thành là Ung Minh Điệp1 sang chầu và xin vua sắc phong cho. Vua sai Nguyễn
Mông2 đem binh sang Chiêm Thành3.
Ung Minh Điệp làm vua nước Chiêm Thành. (?- ND).
Năm Tân Tỵ (năm 1151- ND) là năm Đại Định thứ 12:
Năm Nhâm Thân (năm 1152- ND) là năm Đại Định thứ 13:
Mùa xuân, tháng giêng quân rợ ở núi Chàng Long làm phản.
Tên rợ là Nùng Khả Lai ở núi Đại Hoàng làm phản, nhà vua thân chinh đánh dẹp.
Tháng 9 đắp đàn Hoàng Khâu ở cửa Thành Nam để làm nơi tế trời4.
Người Chiêm Thành là Chế Bì La Bút sang cống.
Năm Quý Dậu (năm 1153- ND) là năm Đại Định thứ 14:
Mùa thu, tháng 8 bày cuộc đua thuyền.
Lụt lội.
Động đất.
Mùa đông, tháng 10 sao Tuế xâm phạm sao Thái Bạch.
Tháng 11 Chiêm Thành và Chân Lạp sang cống.
Tháng chạp động đất.
Năm Giáp Tuất (năm 1154) là năm Đại Định thứ 15:
Mùa xuân, tháng3 trời mưa rơi cát vàng.
Mùa đông, tháng chạp cái kho của nhà vua bị cháy.
Giá gạo vọt lên.
1 Nhiều sách chép là Ung Minh Ta Điệp và việc xin sang cầu phong của người Chiêm Thành này xảy ra năm Nhâm Thân- 1152. Ung
là một trong bốn cự tộc: Ung Ma, Trà, Chế của nước Chiêm Thành.
2 Nguyên là họ Lý: Lý Mông.
3 Nguyên bản không chép rõ là lý Mông đem binh sang Chiêm Thành để làm gì và kết quả ra sao. Nay theo sách "Việt sử tiêu án"
của sử gia Ngô Thời Sĩ thì thấy chép rằng: Ung Minh Ta Điệp sang cầu xin vua Lý Anh Tông cứu giúp. Vua Anh Tông sai Lý Mông
đem quân giúp Ta Điệp về nước. Lúc bấy giờ vua Chiêm Thành là Chế Bì La Bút đem binh chống cự Ta Điệp và Lý Mông bị tử trận. Vua Chiêm (Chế Bì La Bút) dâng Lý Anh Tông người em gái. Vua Anh Tông nhận rồi không hỏi gì đến việc ấy nữa.
Sự trạng này cho ta thấy, đã khởi binh bất chính, quân thua, tướng mất, nhục quốc thể lại đi nhận đứa con gái của đối phương rồi không hỏi tội thì người ta làm sao kính phục được. Cái đạo trị quốc là phải làm cho người vừa sợ vừa kính thì mới nên.
4 Xem chú thích chữ "Xã tắc" số (190) quyển I và chữ "Nam Giao. Xem chú thích ở phần chép việc năm 1173- năm Quý Tỵ ở sau.


75 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Xây dựng cung điện Ngự Thiên (tức hành cung ở điện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình ngày nay- ND), gác Diên Phú (ở Hà Nội- ND) và Thương Hoa đình (ở Hà nội- ND).
Năm Ất Hợi (năm 1155)là năm Đại Định thứ 16:
Tống Cao Tông1 phong vua làm Nam Bình Vương. Ngay khi đó vua lại sai viên Ngoại lang là
Nguyễn Quốc Dĩ mang lễ vật tặng biếu nhà Tống. Tống Cao Tông biếu vua cái đai áo và con ngựa đã đặt sẵn bộ yên.
Năm Bính Tý (năm 1156- ND) là năm Đại Định thứ 17:
Mùa thu, Đỗ Anh Vũ dâng con chim công trắng.
Mùa đông, tháng 10 dựng hành cung Quốc Oai và miếu thờ Khổng Tử.
Mùa đông, tháng 11 dựng cái hiên đài từ cửa từ cửa Thiên Thu đến lầu khách.
Tống Cao Tông gia phong cho vua làm Kiểm Hiệu Thái sư.
Năm Đinh Sửu (năm 1157- ND) là năm Đại Định thứ 18:
Mùa hạ, ngày Ất Tỵ, tháng 6 mặt trời, mặt trăng cụng nhau2.
Vua hạ chiếu ra luật lệnh mới, có mấy điều là: Các quan Điện tiền Chỉ huy sứ và các quan chức hoả đầu không được làm việc ở nhà riêng, người nào trái lệnh sẻ bị phạt 80 trượng và bị đày làm Cảo Giáp3.
Những nhà quyền thế không được tự tiện thu dùng các hạng người (nam, nữ, già, trẻ- ND) trong dân chúng. Các bậc vương hầu trong lúc đêm tối không được qua lại trong thành. Kẻ gia nô của bậc vương hầu không được xăm hình rồng ở nơi ngực.
Mùa thu, nhà vua đi hành cung Thanh Hải.
Có con cá lớn ra bến Đông Độ hình nó như con trâu. (Bến ở sông Hồng gần thành Hà Nội- ND).
Năm Mậu Dần (năm 1158) là năm Đại Định thứ 19:
Mùa hạ, tháng 5 quan viên Tả Ty là Nguyễn Quốc Dĩ đi sứ sang Tống. Lúc về Quốc Dĩ nói: "Tôi đến nước Tống, thấy trong sân có cái hòm bằng đồng dùng để thu lấy những văn thư, sớ tấu các nơi.
Tôi kính xin bệ hạ hãy làm theo cái cách ấy để được lòng dân". Nhà vua lấy làm phải mới cho đặt cái án ở chỗ triều đình và hạ lệnh rằng: "Có ai muốn nói việc gì thì hãy viết thư bỏ tại đấy". Trong khoảng 10 ngày (tuần nhựt) thì văn thư, sớ tấu đã đầy cả án. Có một cái thư nặc danh ngầm bỏ ở đó, trong thư nói "Đỗ Anh Vũ sắp muốn khởi binh kéo vào cung làm loạn". Người được thư đem báo cho Anh Vũ biết. Anh Vũ nói: "Ông hãy vì tôi tâu bày cùng vua mà xét cho".
Ít lâu sau đó vẫn không bắt được người bỏ cái thư ấy, Đỗ Anh Vũ mới tâu bày gian dối với vua
rằng: "Ấy, tất là người bày lập ra cái án làm đấy". Nhà vua cho là phải bèn sai bắt Nguyễn Quốc Dĩ và người em (trai) của y tên là Nghi giao xuống cho bọn quan lại trị về cái tội làm việc vu cáo. Rồi lưu đày Nguyễn Quốc Dĩ ở trại Qui Hóa4,nhưng chưa được bao lâu thì nhà vua muốn gọi về. Anh Vũ sai người đem rượu độc đến cho Quốc Dĩ mà nói rằng: "Uống cái thuốc này thì có thể tiêu trừ được chướng khí".
Nguyễn Quốc Dĩ biết không thể thoát, bèn uống thuốc độc ấy mà chết.
Mùa đông, tháng 10 xây chùa Chân Giáo (ở Hà Nội- ND).
1 Xem chú thích (421) quyển III.
2 Nguyên bản là "...nhật nguyệt tương đấu". Đấu là hai bên giáp nhau, cụng nhau. Phải chăng đây là hiện tượng nhật thực.
3 Cảo giáp: Làm phu dịch, cày ruộng ở Cảo Điền (tức Cảo Xã), đất này thuộc Quốc khố do nhà nước quản lý.
4 Qui Hóa: miền thượng du Thanh Hóa.


76 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Nhà vua hạ chiếu lấy vàng ở trong kho ra mạ tượng Phạn Vương1 và tượng Đế Thích2 rồi cho đặt vào chùa Thiên Phù, chùa Thiên Hỗ. (Có sách chép Thiên Hựu- ND).
Năm Kỷ Mão (năm 1159- ND) là năm Đại Định thứ 20:
Vua hạ chiếu xuống rằng Chức quan Nội Minh Tự và hàng quan Đại Liêu ban gọi nhau là Thái
phó. Quan Lang tướng, Thượng chế, Sùng ban cho đến các bậc Cung Phụng, Thị cấm và Điện trực thì gọi là Thái bảo. Người không có quan tước thì gọi là Quản giáp. Quan Chi hậu và quan Hỏa đầu gọi nhau là Phụng ngự. Tảo hoành gọi là Chủ đô.
Cây cột chùa Thiên Phù và chùa Thiên Hỗ (có sách chép Thiên Hựu- ND) chảy máu.
Năm Canh Thìn (năm 1160- ND) là năm Đại Định thứ 21:
Dựng đền Nhị nữ (Hai Bà) và đền Xi Vưu3 ở phường Bố Cái.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Đại Định thứ 22 (năm Tân Tỵ 1161- ND):
Mùa thu, tháng 7 dựng chùa Pháp Vân ở Cổ Châu4.
Thái hậu từ trần đặt tên thụy là Linh Chiếu.
Bình Long Trường5 làm phản. Vua sai Thiếu sư là Phí Công Tín đi đánh dẹp.
Năm Nhâm Ngọ (năm 1162- ND) là năm Đại Định thứ 23:
Vua hạ chiếu cho những người từ 60 tuổi trở lên làm Lão liệt (già yếu). Những người trẻ từ 17
đến 19 tuổi làm Đệ nhị đẳng, từ 16 tuổi trở xuống làm Hoàng nam. Lại có chiếu ban bố rằng: "Ai tự hủy hoại thân thể (cắt, cứa gây thương tích) thì bị phạt 80 trượng và tích vào bắp tay trái 23 chữ rồi thả trở về địa vị cũ.
Tháng thứ hai mùa hạ (tháng 5) động đất.
Mùa thu, dựng đài Chúng Tiên, tầng trên lợp ngói vàng, tầng dưới lợp ngói bạc.
Năm Quí Mùi (năm 1163- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ nhất:
Tháng giêng đổi niên hiệu.
Ra lệng cấm mọi người không được dùng loại ngọc giả.
Tháng 5 Tống Hiếu Tông6 lên ngôi sai sứ mang lễ vật và quốc thư đến châu khâm, nhà vua sai sứ đón tiếp.
Năm Giáp Thân (năm 1164- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 2:
Mùa xuân, tháng 3 sửa lại điện Thiên An.
Dân man Lộng Lạc ở miệt sông Mang Quáng (nay thuộc Sơn La- ND) làm phản, vua sai Tô Hiến
Thành7 đánh dẹp chúng.
1 Xem chú thích số 323 tập II.
2 Xem chú thích số 324 tập II.
3 Xi Vưu: tên vua nước chư hầu là Cửu Lê đời Hoàng đế nước Trung Quốc. Xi Vưu thường hay sanh việc chiến tranh, chế ra giáo mác nhiều nơi, sau bị Hoàng đế diệt được. Xem chú thích số 16 chương thứ nhất quyển I.
4 Nay thuộc Thuận Thành (Hà Bắc).
5 Chữ trường ở đây để chỉ khu vực hành chánh nhỏ và có nghĩa như chữ Giang, Giáp, Xã. Bình Long nay ở phía nam Thanh Hóa.
6 Tống Hiếu Tông, tên Tích, dòng dõi Tần Vương tên Đức Phương (con của Thái Tổ), ở ngôi 27 năm (1163- 1189).
7 Bản chữ Hán: Ở đây chép Tô Hiến Thành là chép đúng, còn đoạn trước chép Tô Linh Thành là nhầm.


77 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Năm Ất Dậu (năm 1165- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 3:
Xây cất đài đèn, đặt tên là Quảng Chiếu Diên Mệnh.
Mùa thu mở khoa thi học sanh.
Dời thành Đại La, phía cửa triều đông lùi sâu vào 75 thước.
Xây cửa bằng gạch và đá để tránh sự xói mòn của nước sông.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Bính Tuất (năm 1166- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 4:
Mùa xuân, tháng 3 nhà vua đi cung Cảnh Linh xem lễ Dục Đạo1. Lễ Dục Đạo bắt đầu từ đó.
Con rùa có sáu con ngươi, có chữ "ngọc", có văn (đường chỉ- ND) màu xanh biếc xuất hiện.
Lại được dâng con rùa màu hồng, có sáu con ngươi, nơi cổ có văn màu đỏ, dưới bụng đều có
năm màu, ở chót đuôi có cái cựa.
Có người dâng chim công trắng và đen.
Mùa đông, vị Đại liêu ban là Nguyễn Tư dâng con rùa có sáu con ngươi, nơi ngực rùa có bảy
chữ: "Thiên tử vạn thế vạn vạn thế"2.
có người dâng con quạ trắng.
Năm Đinh Hợi (năm 1167- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 5:
Sửa sang lại cửa Đại Hưng.
Công chúa Thiên Cực về với quan Lạng Châu mục là Hoài Trung Hầu.
Năm Mậu Tý (năm 1168- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng năm thứ 6:
Có người dâng hoa Ưu Đàm3.
Năm Kỷ Sửu (năm 1169- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 7:
Năm Canh Dần (năm 1170-ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 8:
Cuối mùa hạ (tháng 6) cung Nghinh Thiềm bị cháy.
Chiêm Thành sang cống.
Năm Tân Mão (năm 1171- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 9:
Bãi bỏ cái lễ Dục Đạo.
Điện Vĩnh Quan không duyên cớ gì, tự nhiên rung chuyển.
Đầu mùa hạ vua xuống chiếu tu sửa miếu Văn Tuyên Vương, đền thờ thần Hậu Thổ.
Xây gác Thái Bạch.
Mùa thu, tháng 7 động đất.
Năm Nhâm Thìn (năm 1172- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 10:
Mùa đông xây cất đền thờ Trinh Linh Phu nhơn ở ngoài cầu Tây Dương.
1 Lễ Dục Đạo: Một cuộc lễ thường do các bậc sư trưởng tổ chức tại các chùa để chọn lọc các tu sĩ mà vinh thăng cấp bậc hầu lãnh trách nhiệm mới hoặc theo học một trình độ cao hơn. Phàm các tu sĩ tòng học tại các Thiền viện sau một thời gian là hai hoặc ba năm thì được liệt vào hạng được tuyển chọn trong cuộc lễ này. Dục Đạo, nghĩa đen là tắm trong nguồn đạo.
2 Có sách chép việc dâng con rùa này là Nguyễn An và 7 chữ nơi ngực rùa là: "Thiên tử vạn thế vạn thế thế"
3 Hoa Ưu Đàm là loại hoa thiêng liêng của nhà Phật. Xem chú thích số 280 quyển II.
78 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Năm Quý Tỵ (năm 1173- ND) là năm Chánh Long Bảo Ứng thứ 11:
Sửa sang lại cầu Thái Hòa.
Nhà Tống gửi thư mua voi để chuẩn bị nghi vệ cho cuộc lễ Nam Giao1.
Nhà vua sai một viên chức trong hàng Đại liêu ban là Doãn Tử Sung2 đem 10 con voi sang nhà Tống.
Năm Giáp Ngọ (năm 1174- ND) là năm Thiên Cảm Chí Bảo thứ nhất:
Tháng giêng đổi niên hiệu.
Nhà Tống gọi nước Việt ta là nước An Nam, vua là Quốc Vương3 quốc hiệu được lập bắt đầu từ đó.
Giáng Thái tử Long Sưởng4 làm Bảo Quốc Vương. Lập Long Cán làm Thái tử.
Long Sưởng có tính hiếu sắc. Ở trong cung có cung phi nào được vua yêu quí, Long Sưởng cũng đều tư thông cả. Nhà vua rất ghét sự vô lễ ấy. Bà Nguyên Phi là Từ Thị được vua yêu, Hoàng hậu (ghen) bèn sai Long Sưởng lén lút đến tư tình để gây sự ngờ vực cho vua. Muốn rằng Từ Thị từ đó bị vua đối xử nhạt nhẽo đi. Từ Thị cứ tình thực tâu vua. Vua giận, bèn phế Long Sưởng.
Một hôm nhà vua đi ra thị triều, bà nhũ mẫu (người vú nuôi trẻ- ND) bế Cao Tông (tức là Long
Cán, con thứ của Anh Tông) đi theo. Cao Tông khóc mãi, nhà vua lột cái mũ đội cho, thì Cao Tông ngừng khóc. Vua lấy làm lạ nói rằng: "Người làm nên cái sự nghiệp cho ta, ấy tất là thằng bé này", rồi tháng 11 lập làm Thái tử và giáng Long Xưởng làm Vương.
Năm Ất Mùi (năm 1175- ND) là năm Thiên Cảm Chí Bảo thứ 2:
Mùa thu, tháng 7 nhà vua se mình. Hoàng hậu xin vua lập lại Bải quốc Vương làm Thái tử. Vua nói: "Làm người con mà không biết kính trọng đấng song thân (cha mẹ) của nó thì làm ông vua lại biết yêu dân hay sao?".
Ngày Giáp Thìn, bệnh càng nặng, vua bảo Thái tử: "Nước nhà ta núi sông đẹp đẽ lạ thường,
người tuấn kiệt, đất linh thiêng, châu ngọc quí báu, thứ gì cũng có cả. Nước khác không thể bì kịp. Vậy nên phải thận trọng giữ gìn".
Ngày Kỷ Tỵ vua từ trần ở tại điện Thụy Quang, thọ 41 tuổi, miếu hiệu là Anh Tông, ở ngôi 39
năm, đổi niên hiệu ba lần. Vua được an táng tại phủ Thiên Đức.
Vua Cao Tông
Cao Tông tên húy: Long Cán, là người con thứ sáu của vua Anh Tông mà mẹ là Hoàng hậu Thụy Châu, họ Đỗ.Khi lên 2 tuổi, nhằm vào năm Thiên Cảm Chí Bảo thứ 2 (năm Ất Mùi- 1175- ND), tháng 7 ngài lên ngôi. Ở trước linh cữu Anh Tông, vua tôn mẹ là Hoàng hậu Thụy Châu làm Thái hậu Chiêu Thiên Chí
1 Lễ Nam Giao: Đời xưa, người ta đắp nền ở phía nam kinh thành để làm lễ tế trời gọi là lễ Nam giao. Xem chú thích chữ "Xã tắc" số
190 quyển I.
2 Sách "Việt sử tiêu án" chép: Doãn Tử Tư và kỳ đi cống sứ này có những ba sứ thần: Doãn Tử Tư làm Đại sứ, Lý Bang Chánh làm Chánh sứ và Nguyễn Văn Hiến làm Phó sứ. Việc đi sứ của Đại sứ Doãn Tử Tư đã làm cho hai nước trở nên hòa hiếu tốt đẹp. Và vua Tống đã tiếp đãi hết sức tử tế, sau đó xuống chiếu gọi tên nước ta là An Nam quốc.
3 Sự Kiện này nhiều sách chép là vào năm Giáp Thân (1164). Thực ra tên nước của ta do vua ta là Lý Thánh Tông đặt là "Đại Việt" từ năm Giáp ngọ- 1054, nhưng nhà Tống không thừa nhận. Đến đây, nhà Tống mới chịu coi ta là vương quốc riêng, nhưng lại
dùng quốc hiệu là An Nam.
4 Còn có âm là Xưởng- Long Xưởng.


79 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Lý. Quần thần dâng tôn hiệu lên là: "Ứng Thiên ngự cực hoành văn hiến vũ linh thiệu chiếu phù chương đạo chí nhân ái dân lý vật duệ mưu thần trí cảm hóa cảm chánh thuần phu huệ thị từ tuy du kiến mỹ công toàn nghiệp thịnh long hiện thần cư thánh minh quang hiếu Hoàng đế".
Nhà vua còn nhỏ tuổi, việc chính sự không kể lớn nhỏ đều giao hết cho quan Thái phó là Tô Hiến Thành nắm giữ.
Bà Thái hậu (tức là Chiêu Linh Thái hậu sanh con trưởng là Long Sưởng- ND) có ý làm việc phế lập, dò biết lúc Tô Hiến Thành đi khỏi mới sai người đem vàng lụa đút lót cho vợ ông là bà Lữ Thị, để khiến của đút lót được đến Hiến Thành. Tô Hiến Thành nói rằng: "Thân ta ở địa vị ngôi Tể tướng, đã nhận chịu sự phó thác của Tiên Vương phò giúp ấu chúa, nay lại nhận cái thứ đút lót của người ta mà mưu việc phế lập thì thiên hạ sẽ bảo ta ra thế nào nữa. Ví phỏng mọi người đều bị bịt tay, bịt mắt mà không biết được thì khi về nơi địa phủ ta biết đem lời gì để đối đáp với đấng Tiên Vương". Thái hậu biết cái mưu ấy không được Tô Hiến Thành giúp sức. Nhưng rốt cuộc cũng không đổi ý, bèn mời Hiến Thành lại mà bảo rằng: "Ông đối với nước nhà có thể nói là người trung đấy, nhưng tuổi tác của ông cũng đã về chiều rồi mà đi giúp một ông vua bé bỏng thì những đều ông làm ai biết cho, chi bằng lập vua lớn tuổi.
Có lớn tuổi thì kẻ kia mới biết đem sự ban thưởng của một ông vua hiền đức mà thực hành, rồi ông sẽ mãi mãi giữ vẹn được cảnh giàu sang, há không đẹp đẽ hay sao?" Tô Hiến Thành thưa rằng: "Làm việc bất nghĩa để được giàu cùng sang đâu phải là điều mà người tôi trung, kẻ nghĩa sĩ thích làm. Huống chi lời dặn dò của đấng Tiên Vương nay còn nguyên vẹn bên tay tôi. Vả lại, như cái việc mưu lập ấy, công nghị sẽ ra sao? Tôi không dám vâng theo lời dạy bảo đó"1
Nói thế, rồi Tô Hiến Thành bèn vội bước ra đi. Thái hậu bèn sai triệu gấp Bảo Quốc Vương. Bảo Quốc Vương vừa sợ vừa mừng bèn dùng chiếc ghe nhỏ từ sông Tô Lịch mà vào. Tô Hiến Thành cho triệu các viên tả hữu Quan chức đô (quan võ- ND) đến mà bảo rằng: "Tiên vương thấy ta cùng với các ông chung sức phù trợ nhà vua, quyết không hai lòng, cho nên mới đem ấu chúa giao gởi cho, nay Bảo Quốc Vương nghe theo sự sai bảo của Thái hậu, phế bỏ chúa thượng để tự lập làm vua, các ông nên hết lòng trung, hết sức để nghe theo sự cương quyết (bó buộc -ND) của ta. Hễ tuân theo mệnh lệnh của ta thì
suốt đời được ban thưởng, trái mệnh ta thì sẽ bị giết chết ở nơi chợ búa để mọi người xem. Các ông hãy cố sức lên". Các viên Quan chức đô đều tuân theo mệnh lệnh. Chốc lát, Bảo Quốc Vương đã đến cửa Ngân Hà. Bà Thái hậu cho triệu càng gấp. Bảo Quốc Vương muốn vào, Quan chức đô ngăn lại mà nói rằng: "Chưa nghe có chiếu chỉ của nhà vua nên không dám vâng mệnh ngài. Nếu ngài tự ỷ mạnh mà vào
thì người phạm tội ấy không phải ở tôi mà là ở quân lính". Bảo Quốc Vương hổ thẹn, sợ hãi rồi thì rút lui.
Cuối mùa thu, nhà vua cho em (trai) của Thái hậu (Chiếu Thiên Chí Lý) là Đỗ Anh Thuận2 làm
Quan nội Hiển Quốc Hầu.
Dùng Tô Hiến Thành làm Thái úy.
Ánh sáng thần ở núi Thái Lãm xuất hiện.
Đầu mùa đông nhà vua thền hẹn tại Long Trì với người trong nước.
Năm Bính Thân (năm 1176- ND) là năm Trinh Phù thứ nhất:
Tống Hiến Tông ban cho nhà vua cái ấn là An Nam Quốc Vương.
Quan Thái úy là Tô Hiến Thành dâng chim sẻ trắng.
Năm Đinh Dậu (năm 1177- ND) là năm Trinh Phù thứ 2:
Quan điện tiền chỉ huy sứ là Hoàng Viêm dâng con hươu trắng.
Người Chiêm Thành tiến vào địa giới phía đông châu Nghệ An.
1 Theo sách "Ngự chế Việt sử Tổng vịnh" quyển IV, thì Tô Hiến Thành còn viện dẫn sự tích các bậc trung thần giúp ấu chúa đời nhà
Châu là Y Doãn, đời nhà Hán là Hoắc Quang để đáp lời Thái hậu.
2 Nhiều bộ sử chép là Đỗ An Di có lẽ chữ Di trong nguyên tác bị mờ và người chép lại sách nhìn ra chữ Thuận rồi chép thành Thuận chăng.


80 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Có người dâng con rùa có sáu con ngươi, nơi đỉnh đầu có văn màu đỏ.
Viên thủ Lãnh châu Thượng Nguyên là Dương _ làm phản.
Năm Mậu Tuất (năm 1178- ND) là năm Trinh phù thứ 3:
Giữa mùa hạ, lấy ngày sanh nhật của vua làm tiết Càn Hưng.
Năm Kỷ Hợi (năm 1179- ND) là năm Trinh phù thứ 4:
Đầu mùa xuân có động đất.
Giữa mùa hạ, sửa sang thêm chùa Chân Giáo. Nhà vua hạ chiếu dùng chùa ấy làm nơi hầu kỵ1
vua Anh Tông, lúc bấy giờ là chỗ hành hương.
Tháng 6, ngày Giáp Thìn hai mặt trời đều xuất hiện.
Ngày Kỷ Dậu, quan Thái úy Tô Hiến Thành từ trần, nhà vua thương xót bèn cho bãi chầu 7 ngày, ăn chay 3 ngày.
Trước kia ông nằm trên giường bệnh, chỉ có quan Tham tri Chánh sự là Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ bên cạnh. Quan Giám nghị Đại phu là Trần Trung Tá vì những việc quá rắc rối phải làm, nên không còn lúc nào rảnh mà đến thăm bệnh Hiến Thành. Đến lúc bệnh nặng, bà Thái hậu (Đỗ Thái hậu, người sanh ra Cao Tông) đến thăm mới hỏi Hiến Thành rằng: "Nếu như ông qua đời2 thì ai là người lên thay ông được:" Tô Hiến Thành thưa rằng: "Ngày thường, người mà tôi biết chỉ có Trần Trung Tá mà
thôi". Thái hậu nói: "Vũ Tấn Đường suốt ngày hầu hạ thuốc thang mà ông lại không đề cập đến là thế nào?". Tô Hiến Thành đáp rằng: "Bệ hạ hỏi, có người nào giúp nước được hay không; cho nên tôi mới nói đến Trần Trung Tá. Còn như hỏi người hầu hạ, nuôi dưỡng, tôi sẻ nói, không có Vũ Tán Đường thì chẳng còn ai nữa". Bà Thái hậu tuy khen ngợi cái lòng trung nghĩa ấy mà rồi cũng không biết áp dụng theo lời nói của Hiến Thành, lại cho Đỗ An Thuận tham dự việc triều chính (có sách chép là Đỗ An Dixem chú thích số 466).
Cấm việc đem cá, muối và các đồ dùng bằng sắt lên tận đầu nguồn để trao đổi nhau mà đánh
bạc.
Nhà vua cùng bà Thái hậu (Đỗ Thái hậu- thân mẫu của vua- ND) xem con em các bậc tăng quan
(thầy tu làm quan- ND) thi tụng kinh Bát Nhã3. Nhà vua lại ngự ở điện Phượng Minh để xem các Hoàng
nam thi viết bài thơ của người xưa và làm toán.
Đầu mùa đông vua ngự ở điện Sùng Chương coi khoa thi Tam giáo4. Các con em thi viết5 bài thơ xưa và làm các môn: thơ1, phú2, kinh nghĩa3 và toán.
1 Kỵ tức là giỗ, ngày cúng tế, tưởng niệm người quá cố.
2 Qua đời là dịch hai chữ bất húy. Nói chuyện với người đang lâm trọng bệnh, người ta thường hay tránh dùng chữ "chết" cùng nhiều chữ mà khi nghe đến, nó như thể là lời "trù", lời rủa thì phải kiêng kỵ, nhất là đối với vua chúa hay bậc đại quan hoặc bậc
trưởng thượng mà có tình thân huyết nhục. Riêng hai chữ "bất húy" thật ra cũng có nghĩa là chết nhưng có ý dè dặt, lễ độ, kiêng nể.
3 Bát Nhã: Nguyên chữ Phạn là Prajna có nghĩa là trí tuệ, tư tưởng chân chính và lương thiện, tâm trí không còn chứa những ý
tưởng tà vạy phàm tục. Kinh Bát Nhã là một trong những bộ kinh của Phật giáo.
4 Tam giáo: Nho giáo, Phật giáo, và Lão giáo.
Nho giáo : Giáo lý đạo Nho của cổ nhân, lấy tam cương ngũ thường làm trọng. Giáo lý này được đức Khổng Tử (551- 479 trước
Công nguyên) tên Khâu, người nước Lỗ thuật lại. Ngài không sáng tác ra, nhưng ngài đã có công lớn đem cái đạo của thánh hiền
thời thượng cổ mà phát huy và lập thành thống hệ, truyền lại hậu thế. Vì vậy ngài được coi là bậc thánh tổ của Nho giáo.
Phật giáo: Xem chữ Thích Ca, chú thích số 232 quyển II.
Lão giáo: Đạo giáo của Lão tử. Lão tử, ở cùng thời với đức Khổng Tử, họ Lý, tên nhỉ là người nước Sở (tỉnh An Huy ngày nay). Ông
là người sáng lập ra đạo giáo, chủ trương "thanh tĩnh vô vi". Tư tưởng của ông là một nền triết học cao thâm. Ông đã viết ra Đạo đức kinh, cái tôn chỉ của ông đã được bày tỏ đầy đủ trong sách ấy. Người đời tôn ông là Thái Thượng Lão quân.
5 Viết ở đây là viết ám tả và thí sinh đã ở trình độ biết làm thơ, làm phú.


81 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Ngày Mậu Tuất có người dâng con rùa ba chân, sáu con ngươi. Năm Canh Tý (năm 1180- ND) là năm Trinh phù thứ 5:
Nhà vua xuống chiếu cho hàng Tam giáo (Nho, Phật, Lão) sửa sang các văn bia ở trong đại nội.
Định lại cái lệ cho các bậc vương hầu vào chầu.
Mùa hạ, cho viên Lệnh thư gia là Nguyễn Ngọ làm Phó hành khiển.
Đầu mùa thu lụt lội, nước tràn vào điện Vĩnh Quang và điện Hội Tiên.
Động Đất.
Mùa đông, cho quan Thủ lãnh châu Vị Long là Hà Công Phụ cưới Công chúa Hoa Dương.
Năm Tân Sửu (năm 1181- ND) là năm Trinh phù thứ 6:
Mùa hạ, tháng 4 sao Huỳnh Hoặc4 nhập vào sao Nam đẩu.
Xảy nạn đói lớn, dân chết gần một nửa.
Năm Nhâm Dần (năm 1182- ND) là năm Trinh phù thứ 7:
Mùa xuân, tháng 3 cho Ngọc gia Viên ngoại lang là Tiêu Nhữ Dực làm Bình bạc ty.
Mùa hạ, Đỗ An Thuận dâng con quạ trắng.
Cho viên Trung thư hỏa là Chu Thoại Lương làm Trung thư lệnh Thư gia.
Dùng Đỗ An Thuận5 làm Thái sư phụ chính. Người thời bấy giờ kinh sợ cái oai quyền của ông.
Phàm có việc kiện cáo, viên quan Tư lại truy xét không xong mà Đỗ An Thuận sai viên Cân Xa Nhi truy xét là những kẻ kiện cáo đứng ngay dậy đến hầu việc phân xử. Việc này làm cho tên ưu nhân (người hát
xướng, đóng trò ở cung điện vua- ND) phải bày trò diễu cợt như sau đây:
Hắn dùng một người là quan Thượng thư bộ Hình. Quan Thượng thư bộ Hình này sai viên Tư lại truy xét những vụ về nhục hình thì những kẻ (liên hệ vụ án- ND) không chịu đến. Tên ưu nhân mới nói rằng: "Sao mày không xưng là Cân Xa Nhi của Thái sư?" Viên Tư lại vâng theo như lời nói ấy, quả nhiên được việc.
Mùa đông, tháng chạp ngày Nhâm Dần vua bắt đầu ngự ở nhà Kinh Diên6.
Ra lệnh cấm, không được giết trâu7, không được dùng chỉ vàng may áo xiêm1.
1 Thơ có nhiều thể, nhưng thể thông thường nhất trong việc thi cử buổi xưa là Đường luật, tức là thể thơ đặt ra từ đời nhà Đường (618- 907). Thể này có niêm luật nhất định và có hai lối. Mỗi bài bốn câu là Tứ tuyệt, mỗi bài tám câu là Bát cú.
2 Phú: Nghĩa đen là mô tả, giải bày. Là một thể văn có vần, có đối hoặc không có đối dùng để tả tình tả cảnh. Thể phú có vần mà
không có đối, không theo luật bằng trắc là thể cũ. Thể phú thông dụng nhất là phú làm theo thể Đường luật, có vần, có đối, có luật bằng trắc nhất định.
3 Kinh nghĩa: Kinh là kinh sách, tức là các kinh: Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung, Thi, Thư, Dịch, Lễ ký và Xuân thu. Gồm có chín kinh. Kinh nghĩa là một bài văn giải thích rõ ràng ý nghĩa một câu hay một đoạn trích từ các kinh ấy. Vì vậy kinh nghĩa còn
gọi là tinh nghĩa. Kinh nghĩa thường làm theo lối "bát cổ" là một thể văn gồm có tám vế, có đối mà không có vần. Lối này còn gọi là biền văn (Biền: hai con ngựa chạy sóng đôi).
4 Huỳnh Hoặc tức là sao Hỏa tinh thuộc Nam đẩu, Dương hỏa. Theo sách Tử vi đẩu số thì Hỏa tinh là một sao chủ ở sự phá hoại, nó kỵ tất cả các tinh tú.
5 Nhiều lần đều chép như nhau. Vậy sách này chép là Đỗ An Thuận chứ không phải chép nhầm chữ Di ra chữ Thuận. Có thể nhầm là các bộ sử khác Thuận đọc nhầm ra Di và chép Di.
Ở phần trước Tô Hiến Thành, chữ Hiến đọc nhầm ra Linh và chép Tô Linh Thành, đến những lần chép sau thì chép Tô Hiến Thành.
6 Xem chú thích số (419) quyển III.
7 Trâu là dịch chữ ngưu, ấy là dịch theo sự quen dùng của người đời từ xưa đến nay. Thực ra, theo Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh thì ngưu là con bò (có sách chép: con bò là hoàng ngưu) còn thủy ngưu mới là con trâu.


82 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Năm Quí Mão (năm 1183- ND) là năm Trinh phù thứ 8:
Mùa xuân, côn trùng làm tổ trên cây ở chùa Nhi Lâm, tổ có màu sắc như vàng, như bạc.
Năm Giáp Thìn (năm 1184- ND) là năm Trinh phù thứ 9:
Mùa đông, sách (làng) Tư Nông, sách Trịnh, sách Ô mễ làm phản. Nhà vua sai quan Thái phó là Vương Nhân Từ đánh dẹp. Vương Nhân Từ sai người trong châu là Phạm Phỏng đóng giữ nơi ải2 Ông
Trọng Trương Nhạn và Phạm Đỗ đóng giữ làng Bái, Đoàn Tùng đóng giữ Khả Lão. Rồi Vương Nhân Từ đánh thẳng vào hai sách là Đông Bái và Vạn Mễ mà san bằng đi. Lúc tiến quân đến trại La Ao3 thì bị rợ Lão (một giống mọi ở Tây Nam- ND) đánh lén, quan quân thua to.
Vương Nhân Từ chạy về núi An Cối thì bị công hãm nơi chỗ bùn lầy và bị giống rợ Lão đâm chết.
Bọn sơn lão nói với nhau rằng: "Ngày nay có một người đàn bà bị ta đâm chết, rốt cuộc mới biết đó là
Vương Nhân Từ đã chết. Tìm riêng trong cái khoảng đầm lạch ở trên núi thì được cái thây ấy. Vương Nhân Từ là hoạn quan cho nên giống người đàn bà".
Trời mưa nước đen.
Có người dâng giống lúa có nhiều bông liền nhau mà cọng rơm (thân cây lúa- ND) dài bảy thước năm tấc4.
Năm Ất Tỵ (năm 1185- ND) là năm Trinh phù thứ 10:
Kiến Ninh Vương là Long Ích đốc xuất quân lính hơn 12000 người đi đánh bọn Sơn Lão ở Linh Sách để báo thù cái trận La Ao. Quân kéo đến đóng ở Đỗ Gia thôn, Long Ích bắt giữ hết cả. Bọn Đinh Võ kêu than một cách thảm thiết. Người đi theo là Nguyễn Đa Cẩm thấy bọn Đinh Võ bị bắt làm tù, khoái chí bèn la mắng nhục mạ và đái vào miệng bọn Đinh Võ. Giống rợ Lão có tính hung hãn bèn cắn âm hành5
của Đa Cẩm. Đa Cẩm dùng tay đánh, Đinh Võ sẹo mất cái mồm. Đa Cẩm cũng ngã xuống đất gần chết.
Do đó Long Ích mới sai các quan chức làm con cá gổ khớp mồm bọn Đinh Võ, xong, dùng gậy đánh chết rồi đem phơi khô cái thịt bọn ấy.
Cuối mùa hạ, gió lớm thổi lên dữ dội. Nơi cổng chùa Nhị Tự đất nứt nẻ ra.
Năm Bính Ngọ (năm 1186- ND) là năm Trinh phù thứ 11:
Bắt được con voi trắng, đặt cho cái tên là con voi Thiên tư (của trời- ND), rồi đổi niên hiệu là
Thiên Tư Gia Thụy năm thứ nhất.
Phò mã lang Bảo Trinh hầu là Đỗ Trực dâng con hươu đen.
Năm Đinh Mùi (năm 1187- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 2:
Giữa mùa hạ nhà Thái miếu rung chuyển.
Mùa thu, có vị tăng sư ở sứ Tây Vực (vùng phía Tây nước Tàu) đến. Nhà vua mới hỏi vị sư ấy có điều gì làm được. Vị tăng sư thưa rằng: "Có thể hàng phục được loài cọp". Nhà vua sai quan Chi hậu
Phụng ngự là Lê Năng Trường lưu tăng sư nơi nhà khách trọ rồisai người bắt cọp để thử xem cái thuật ấy. Hơn mười ngày sau vị tăng sư bảo Lê Năng Trường rằng: "Cọp có thể khiến quì phục xuống được rồi". Lê Năng Trường tâu lên. Vua sai làm cái chuồng ở nơi khu gác Vĩnh Bình rồi sai vị tăng sư vào trong
1 Xiêm: Đồ dùng che phần dưới thân người thời xưa, tức là cái váy.
2 Ải: Nơi quạnh hiu vắng vẻ hiểm trở.
3 Có sách chép là La Biều.
4 Thước tấc ở đây là "thước ta", một dụng cụ để đo chiều dài ngày xưa, có sự thay đổi theo từng thời đại, theo từng địa phương, là
vì nó không được định bởi một viện đo lường quốc tế như thước tây ngày nay.
5 Âm hành tức là ngọc hành là cơ quan sinh dục của nam giới.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn